Thế giới nghệ thuật trong tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư - Pdf 47

luan van,khoa luan, thac si , su pham1document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

PHần Mở đầu
1. Lí do chọn đề tài
Văn học sau năm 1975 cho đến nay, sau hơn ba mươi năm đã có bước
phát triển và đạt được nhiều thành tựu trên nhiều phương diện: trong đó thể
loại văn xuôi được xem là có nhiều thành tựu nổi trội hơn cả, đặc biệt đây
được coi là giai đoạn được mùa của truyện ngắn. Ngoài những cây bút đàn anh
đạt đến độ chín văn chương như: Nguyễn Minh Châu, Nguyễn Khải, Ma
Văn Kháng... giai đoạn này còn có sự góp mặt hàng loạt các cây bút trẻ, khởi
đầu là Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài, Tạ Duy Anhvà gần đây nhất là
Nguyễn Ngọc Tư.Với một sức viết dồi dào và có nhiều tìm tòi, thể nghiệm
trong sáng tác, các nhà văn này đã tạo được một tiếng nói, giọng điệu riêng
trên văn đàn và được công chúng đón nhận.
Sự đổi mới văn học đã được lí luận văn học nghiên cứu, đánh giá theo
tinh thần mới. Những khái niệm như: chủ đề, hình tượng, tính cách điển hình,
phản ánh không còn được sử dụng y như trước. Thay vào đó là các khái
niệm như: phong cách, cảm hứng, quan điểm nghệ thuật, cấu trúc ngôn
từtạo nên một hệ thống các khái niệm lí luận nhiều màu sắc. Nhìn chung đó
là sự đổi mới góc nhìn và cách tiếp cận với những hiện tượng văn học. Sáng
tác văn học và lí luận văn học luôn song hành trên con đường tiếp tục hiện đại
hoá nền văn học dân tộc. Tính thời sự của hai phạm trù này góp phần quan
trọng trong việc tạo nên diện mạo của nền văn học trong giai đoạn đổi mới
hiện nay.
Một trong những sáng tác văn học gần đây nhất gây được sự chú ý của
độc giả là tập truyện Cánh đồng bất tận của Nguyễn Ngọc Tư. Với mười bốn
truyện, mỗi truyện để lại một dấu ấn riêng, tập truyện được coi là hiện tượng

tính sáng tạo của nhà văn. Đó là cơ sở khiến cho việc tiếp cận các sáng tác văn
học hiện đại một cách hợp lí.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Về tập truyện Cánh đồng bất tận và tác giả Nguyễn Ngọc Tư đã có một
số bài báo bàn luận, trao đổi ý kiến trên các báo như: Văn nghệ trẻ, Diễn đàn
văn nghệ Việt Nam, Tạp chí nghiên cứu văn họcnhư:
Đôi điều cảm nhận về Cánh đồng bất tận (Đỗ Nguyên Thương)
Cần có cái nhìn công bằng hơn về Cánh đồng bất tận (Ngô Văn Tuần)
Bàn lại với tác giả Bùi Việt Thắng về Cánh đồng bất tận (Trần Thiện
Khanh)
Cánh đồng bất tận và cách kể chuyện sáng tạo (Nguyễn Thanh Tú )
Trên đây là những bài viết trực tiếp về Cánh đồng bất tận. Ngoài ra
trong một số bài báo nghiên cứu về các vấn đề văn học hiện nay như: sự đổi
mới thi pháp, thể tài, cấu trúctruyện ngắn cũng đề cập đôi chút về Cánh
đồng bất tận. Qua những bài viết này, những giá trị chung và nổi bật của tập

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc2bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham3document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

truyện đã được các tác giả phát hiện và ghi nhận. Tuy nhiên chưa có một công

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc3bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham4document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

phẩm người viết áp dụng tri thức lí luận văn học có sự mềm dẻo và linh hoạt
không hoàn toàn giống như đối với các phong cách lớn mà chỉ đi vào những
biểu hiện tiêu biểu, những yếu tố đáng được xem xét trên góc độ triển vọng.
Dung lượng thông tin của mỗi truyện ngắn trong tập truyện là khác nhau,
người viết tập trung vào chủ yếu các truyện như: Cánh đồng bất tận, Dòng
nhớ, Biển người mênh mông, Một trái tim khô, Cái nhìn khắc khoải...
4. Phương pháp nghiên cứu
4.1. Phương pháp phân tích đối tượng theo quan điểm hệ thống
Phương pháp này giúp chúng ta xem xét, nghiên cứu và tách đối tượng
ra thành nhiều yếu tố (mỗi yếu tố có chức năng, nhiệm vụ khác nhau). Phân
chia như thế, phương pháp này giúp người nghiên cứu nhận ra được sự tác
động chi phối là trực tiếp hay gián tiếp giữa các yếu tố trong cùng một hệ
thống.
4.2. Phương pháp so sánh hệ thống
Phương pháp này giúp ta nhận thức đúng hơn về bản chất vấn đề, qua so
sánh để thấy được sự giống nhau, khác nhau của các yếu tố trong cùng một
loại. Từ đó phát hiện cái riêng, cái độc đáo của vấn đề đang được xem xét và
đặt tên chuẩn xác cho sự độc đáo đó.
4.3. Phương pháp khảo sát đối tượng theo quan điểm loại hình

tính nhân bản của văn học, giúp chúng ta có cái nhìn đa chiều và sự đánh giá
thích hợp hơn về cảm hứng thế sự đời tư trong sáng tác của các nhà văn hiện
nay. Cảm hứng thế sự ấy là mấu chốt của vấn đề xây dựng hình tượng văn học,
đổi mới nghệ thuật viết.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc5bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham6document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

Phần Nội dung
Chương 1: Cơ sở lí luận chung về
thế giới nghệ thuật
1. Quan niệm về Thế giới nghệ thuật
Thế giới là một khái niệm thuộc phạm trù triết học. Theo Từ điển triết
học, thế giới có thể được hiểu:
- Theo nghĩa rộng là toàn bộ hiện thực khách quan (tất cả những gì tồn
tại ở bên ngoài và độc lập với ý thức con người). Thế giới là nguồn gốc của
nhận thức [tr.1083].
- Theo nghĩa hẹp: dùng để chỉ đối tượng của vũ trụ học, nghĩa là bộ
phận thế giới vật chất do thiên văn học nghiên cứu. Người ta đã chia bộ phận
thế giới vật chất đó thành hai lĩnh vực, nhưng không có ranh giới tuyệt đối:

tính chỉnh thể của sáng tác nghệ thuật (một tác phẩm, một loại hình tác phẩm,
sáng tác của tác giả, một trào lưu). Thế giới nghệ thuật nhấn mạnh rằng sáng
tác nghệ thuật là một thế giới riêng được sáng tạo ra theo các nguyên tắc tư
tưởng, khác với thế giới thực tại vật chất hay thế giới tâm lý của con người
[302]. Đi vào thứ logic này có không những logic của tư tưởng (logic biện
chứng) mà còn có logic tình cảm xúc động, logic của sự miêu tả nghệ thuật
(tính đến sự tiếp nhận của bạn đọc và người xem), những cái rộng lớn hơn và
phức tạp hơn logic biện chứng. Và bản chất của tính siêu logic là ở sự kết hợp
của tính siêu hệ thống với cấu trúc đặc biệt của tổ chức nghệ thuật hoàn thiện.
Nó có thể xuất hiện trong đời sống con người, nhưng trong đầu của nghệ sĩ vĩ
đại, khi sáng tạo nên tác phẩm xuất sắc mà không phải là trong đầu nhà triết
học [9;tr.87].
Thế giới nghệ thuật hay Cái được miêu tả (cách gọi của PGS. TS
Phùng Minh Hiến) đã khẳng định phương thức phản ánh vũ trụ con người
theo cách riêng của văn học. Cái được miêu tả ngay trong ý nghĩa ngôn từ đã
mang tính chỉ dẫn. Miêu tả là một trong ba phương thức cơ bản, đặc trưng
của nghệ thuật. Cái được miêu tả tự thân nó mang tính sinh động và tính toàn
vẹn, nó chứa đựng sự vận động nội tại bên trong do ý thức tác giả quyết định:
Khi ý thức tác giả đã xuyên thấm vào bản chất sâu sắc nhất của đối tượng,
ông ta có thể khai thác quy luật tự vận động của cái được miêu tả như là sự
thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập bên trong của nó [9;tr.72]
Cách gọi khác đi nhưng bản chất vẫn là đề cập đến cái mà văn học thể
hiện, đó là con người, không gian, thời gian, là cảnh, là tình... Những yếu tố
ấy được hình qua lăng kính của người nghệ sĩ mang tính hiện thực cuộc sống
mà không hoàn toàn miêu tả, sao chép lại. Điều này khẳng định văn học là
bức tranh phản ánh cuộc sống nhưng luôn chứa đựng sự hấp dẫn với người
đọc.

Trường ĐHSP Hà Nội 2


như truyện Kiều Nguyễn Du, thơ Tố Hữu, thơ Chế Lan Viên...
-Cũng với nội dung cách hiểu trên, tác giả cuốn Tác phẩm văn chương,
một sinh thể nghệ thuật, PGS. TS Phùng Minh Hiến không dùng thuật ngữ
Thế giới nghệ thuật mà thay vào đó là cụm từ Cái được miêu tả. Cái được
miêu tả được sáng tạo nên bằng tổ chức nghệ thuật của tác phẩm Cái được
miêu tả như là hệ thống những hình tượng của tác phẩm trong sự tự mở ra của
nó, từ đầu đến cuối, bộc lộ một cách tập trung tính siêu logic của tư duy nghệ
thuật: sự xem xét các mặt đối lập của hiện thực trong sự thống nhất và đấu
tranh của chúng, cái tĩnh tại trong cái năng động, bản chất trong các hiện

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc8bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham9document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

tượng, cái tất yếu trong ngẫu nhiên. Nó được coi là thứ tư duy nội dung bởi
vì sinh ra những nghĩa mới và phức tạp[9;tr87].
Nhiệm vụ của người tiếp nhận văn học là phải tìm ra mã khoá để
bước vào thế giới nghệ thuật đó.
2. Các yếu tố biểu hiện của Thế giới nghệ thuật
2.1. Nhân vật
2.1.1. Quan niệm về nhân vật.


Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

riêng nào đó ở bên trong tuỳ theo nhiệm vụ nghệ thuật mà tác giả giao cho nó.
Đối tượng đó có thể là con người (con người có tên, không tên, xuất hiện
nhiều lần hoặc một lần), là đồ vật (cái mũ trong truyện ngắn Sêkhốp), là loài
vật (con mèo, con dế mèn, con cá...). Trong tác phẩm văn học không thể
thiếu nhân vật, vì nó là phương tiện để nhà văn khái quát hiện thực cuộc sống
một cách hình tượng. Nhân vật là đối tượng phản ánh trung tâm theo đó các
yếu tố liên quan lấy nó làm hệ quy chiếu.
2.1.2. Các loại hình nhân vật
Thế giới nhân vật văn học đa dạng và phong phú, người ta chia nhân vật
thành nhiều loại hình khác nhau dựa trên những tiêu chí nhất định.
2.1.2.1. Dựa trên tính cách và lý tưởng thẩm mĩ của nhân vật
Chia nhân vật thành hai loại: nhân vật chính diện và nhân vật phản
diện.
Nhân vật chính diện hay còn gọi là nhân vật tích cực là nhân vật thể
hiện những giá trị tinh thần, những phẩm chất đẹp đẽ, những hành vi cao cả
của con người và được nhà văn miêu tả trong tác phẩm với một thái độ khẳng
định, ngợi ca.
Nhân vật phản diện hay còn gọi là nhân vật tiêu cực là nhân vật có bản
chất xấu xa trái với đạo lí và lí tưởng của con người được nhà văn miêu tả
trong tác phẩm với một thái độ lên án, phủ định và phê phán.
2.1.2.2. Dựa trên vai trò của nhân vật
Chia nhân vật thành: nhân vật chính nhân vật trung tâm và nhân vật phụ
Nhân vật chính là nhân vật xuất hiện hầu hết trong các tình huống
đóng vai trò chủ chốt của cốt truyện nó giữ vị trí trung tâm trong việc thể hiện
đề tài, chủ đề và tư tưởng của tác phẩm văn học.

cử chỉ, xung đột. Nhân vật kịch không được miêu tả một cách cụ thể.
2.1.2.4. Dựa trên cấu trúc nhân vật
Chia làm bốn loại: Nhân vật chức năng, nhân vật loại hình, nhân vật tư
tưởng, nhân vật tính cách
Nhân vật chức năng là nhân vật không có đời sống nội tâm, phẩm chất,
đặc điểm cố định. Sự tồn tại của nó chỉ nhằm thực hiện một số chức năng nhất
định.
Là nhân vật thể hiện tập trung các phẩm chất xã hội, đặc điểm của một
loại hình nhất định, nhằm khái quát chung về một loại tính cách.
Nhân vật tính cách là nhân vật được miêu tả gắn với sự phát triển nhận
thức con người về đời sống xã hội. Đó là con người có cá tính nổi bật, trong
đó tính cách nhân vật có biến động, đổi thay.
Nhân vật tư tưởng là nhân vật mang trong mình tư tưởng ý thức hệ.Nó
có thể xuất hiện kèm theo cá tính nhưng cá tính được xây dựng chỉ để minh
họa cho một tư tưởng nào đó.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc11bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham12document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

2.1.3.Vai trò của nhân vật trong tác phẩm văn học


K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham13document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

2.2.1. Không gian nghệ thuật
- Theo Từ điển thuật ngữ văn học
Không gian nghệ thuật là hình thức bên trong của hình tượng nghệ
thuật, thể hiện tính chỉnh thể của nó. Sự miêu tả, trần thật trong nghệ thuật bao
giờ cũng xuất phát từ một điểm nhìn diễn ra trong một trường nhìn nhất
định[3;tr.160]. Không gian nghệ thuật gắn với cảm thụ về không gian nên
mang tính chủ quan, ngoài không gian vật thể còn có không gian tâm tưởng.
Không gian nghệ thuật có tính độc lập tương đối không qui được vào không
gian địa lý và có tác dụng mô hình hoá các mối liên hệ của bức tranh thế giới
như thời gian, xã hội, đạo đức, tôn ti trật tự. Không gian nghệ thuật có thể
mang tính địa điểm, tính phân giới, tính cản trở. Nó cho thấy cấu trúc nội tại
bên trong của tác phẩm văn học, các ngôn ngữ tượng trưng, quan niệm về thế
giới, chiều sâu cảm thụ của tác giả hay của một giai đoạn văn học.
Là một hiện tượng nghệ thuật nên không gian nghệ thuật mang tính ước
lệ tượng trưng như: làng quê, sân đình, biển khơi... cũng có khi được biểu hiện
bằng các từ không gian đã mã hoá sẵn về ý nghĩa trong đời sống; trên cao,
dưới thấp, quanh co, ngắn, dài, rộng, hẹp ...
Không gian nghệ thuật thể hiện tập trung vào cái nhìn, điểm nhìn, điểm
quan sát, sự đối lập và liên hệ của các yếu tố không gian các miền phương vị,
các chiều tạo thành ngôn ngữ nghệ thuật để biểu hiện thế giới quan của tác

trong chốc lát thành vô tận [3;tr.322].
Thời gian thể hiện sự tự cảm thấy của con người trong thế giới không
tách rời với chuỗi biến cố cốt truyện. Nó phản ánh sự cảm thụ thời gian của
con người trong từng thời kỳ lịch sử, từng giai đoạn phát triển, thể hiện sự
cảm thụ độc đáo của giả về phương thức tồn tại của con người trong thế giới,
đồng thời thể hiện ý đồ của tác giả trong việc miêu tả đối tượng trong tính vận
động. Vấn đề thời gian nghệ thuật trong tác phẩm văn học có hai mặt cơ bản,
đó là: quan niệm thời gian của nhà văn và tổ chức thời gian của tác phẩm
- Nhà lí luận Nga D.X.Likhachốp cho rằng: thời gian vừa là khách thể
vừa là chủ thể và đồng thời là công cụ phản ánh văn học. Văn học ngày càng
thấm nhuần ý thức và cảm giác về sự vận động của thế giới trong hình thức hết
sức đa dạng của thời gian (Thi pháp văn học cổ điển Nga La Khắc Hoà
dịch, Tạp chí văn học số 2- 1989)
Trong tác phẩm văn chương, thời gian chỉ trở thành nghệ thuật khi nó
trực tiếp tác động vào nhân vật, vào môi trường mà ở đó diễn ra số phận của
nhân vật và những biến động của tâm tư, tình cảm của con người. Thời gian
nghệ thuật là hình thức của hình tượng nghệ thuật thể hiện tài năng và cá tính
sáng tạo của người nghệ sĩ... nó được nhận biết nhờ các mối quan hệ giữa các
biến cố, có thể là quan hệ nhân quả, quan hệ tâm lí hoặc liên tưởng. Tuy nhiên

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc14bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham15document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp


Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc15bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham16document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

Trong tác phẩm, ngôn ngữ nghệ thuật là một trong những yếu tố quan
trọng thể hiện cá tính sáng tạo, phong cách, tài năng... của nhà văn. Mỗi một
nhà văn là tấm gương sáng về mặt hiểu biết sâu sắc ngôn ngữ nhân dân, cần cù
lao động để trau dồi ngôn ngữ trong quá trình sáng tác.
Tính chính xác, tính hàm súc, tính đa nghĩa, tính tạo hình và tính biểu
cảm là những thuộc tính của ngôn ngữ nghệ thuật (ngôn ngữ văn học nói
riêng). Căn cứ chủ yếu để phân biệt ngôn ngữ nghệ thuật là hình thái hoạt
động mang ý nghĩa thẩm mĩ. Nó được sử dụng để phục vụ nhân vật trung tâm
và xây dựng hình tượng văn học. Vì vậy tính hình tượng, tính thẩm mỹ là
thuộc tính bản chất nhất, xuyên thấm vào mọi thuộc tính khác quy định thuộc
tính ấy.
Tuy nhiên, những thuộc tính chung vừa nói trên được biểu hiện qua các
thể loại văn học với những sắc thái khác nhau. Ngôn ngữ trong tác phẩm kịch
tập trung chủ yếu vào lời đối thoại giữa các nhân vật với nhau, qua đó bộc lộ
tính cách nhân vật; ngôn ngữ thơ ca là sự chắt lọc nhuần nhuyễn có vần điệu
để bộc lộ tình cảm của nhà thơ; còn ngôn ngữ trong tác phẩm tự sự là sự tổng

Nhân vật người kể chuyện đem lại cho tác phẩm một cái nhìn và một sự
đánh giá bổ sung về mặt tâm lí, nghề nghiệp hay lập trường xã hội cho cái
nhìn của tác giả, làm cho sự trình bày, tái hiện con người và đời sống trong tác
phẩm thêm phong phú, đa dạng, sinh động.
Nhân vật người kể chuyện có vai trò then chốt trong tác phẩm tự sự.
Nhân vật người kể chuyện có thể có một giọng, có thể có hai giọng thể hiện sự
đối thoại với ý thức cùng một đối tượng miêu tả. Nó là yếu tố cơ bản thể hiện
phong cách nhà văn, truyền đạt cái nhìn, giọng điệu, cá tính tác giả.
2.3.2.2. Ngôn ngữ nhân vật
Ngôn ngữ nhân vật là lời nói nhân vật trong tác phẩm thuộc loại hình tự
sự và kịch.
Ngôn ngữ nhân vật là một trong các phương tiện quan trọng được nhà
văn sử dụng nhằm thể hiện cuộc sống và tính cách nhân vật. Trong tác phẩm,
nhà văn có thể cá hoá ngôn ngữ nhân vật bằng nhiều cách: nhấn mạnh cách
đặt câu, ghép từ, lời phát âm đặc biệt của nhân vật, cho nhân vật lặp lại những
từ, những câu mà nhân vật thích nói...
Dù tồn tại dưới dạng nào, hoặc thể hiện bằng cách nào, ngôn ngữ nhân
vật bao giờ cũng phải đảm bảo sự kết hợp giữa tính cá thể hoá và tính khái
quát hóa. Nghĩa là mỗi nhân vật có một ngôn ngữ mang đặc điểm riêng có lời
ăn tiếng nói riêng, mặt khác ngôn ngữ ấy lại phản ánh đặc điểm ngôn ngữ của
một tầng lớp nhất định, gần gũi với nghề nghiệp, tâm lý giai cấp, trình độ văn
hóa.

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc17bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn



luan van,khoa luan, thac si , su pham19document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

Chương 2: Thế giới nghệ thuật trong tập
truyện cánh đồng bất tận của nguyễn Ngọc Tư
1. Nhân vật
Trước năm 1975, văn học nhìn con người chủ yếu với tư cách người
công dân, con người dân tộc, con người giai cấp. Bởi vậy lí luận văn học luôn
xem xét nhân vật ở các kiểu cố định như: nhân vật tính cách, nhân vật tư
tưởng, nhân vật chức năng, nhân vật chính diện, phản diện; và xem xét nhân
vật ở các phương diện khái quát: tầng lớp, giai cấp, nghề nghiệp...
Từ sau năm 1975 từ nhận thức và quan niệm mới về con người dẫn tới
những đổi thay trong các kiểu nhân vật. Văn học sau 1975 có sự dịch chuyển
từ tư duy sử thi sang tư duy tiểu thuyết, từ cảm hứng lịch sử dân tộc sang cảm
hứng thể sự đời tư nên khả năng tiếp cận, phản ánh hiện thực con người trong
giai đoạn này một cách nhanh nhạy và sắc bén.
Số phận con người trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhà văn. Họ
nhìn nhận con người như một cá thể bình thường trong những môi trường sống
đời thường. Họ khai thác con người tự nhiên trước nhu cầu của hạnh phúc đời
thường, của cuộc sống riêng tư. Họ đi sâu vào thế giới nội tâm để khám phá
chiều sâu con người đích thực, khai thác con người ở bên trong con người.
Con người xã hội trong văn học là con người trần thế với tất cả tính chất người
tự nhiên của nó, trong con người ấy có cả ánh sáng và bóng tối, cao cả và thấp
hèn, ý thức và vô thức...
Sự thay đổi trên đã xuất hiện nhiều kiểu nhân vật mới: nhân vật cô đơn,
con người bi kịch, con người lạc thời, nhân vật kỳ ảo, nhân vật bị tha hoá...
Các nhà văn đã phá vỡ cái nhìn một phía, tĩnh tại để tạo ra cái nhìn phức tạp,

tận) như chị Sương, hay vì tình thương mà chịu ràng buộc như cô Xuyến
(Duyên phận so le ). Có nhân vật không có đất sống, muốn trốn tránh thế
giới người để che giấu sự khác thường gia đình mình như chị Năm Hậu (Một
trái tim khô). Không hiếm nhân vật biết mình không thể thoát khỏi sự sắp đặt,
dồn đuổi, chấp nhận tha hoá và im lặng mênh mông như người cha trong
truyện Cánh đồng bất tận, ông Năm trong Cải ơi, anh Hết trong Hiu hiu gió
bấc.
ở Cánh đồng bất tận, hầu hết con người khao khát giao tiếp, dù với vật
hay ma: ông Hai luôn tâm sự với con Cộc (con vịt mà ông quý nhất); hai đứa
trẻ cố học cách yêu thương đàn vịt, chúng đắm đuối với loại ngôn ngữ mới
chấp nhận người ta nhìn mình như kẻ điên.... Họ chỉ là những mảnh đời bé
nhỏ, rất riêng tư thậm chí đôi lúc dường như bị lãng quên đi trong xã hội,
nhưng qua những số phận con người này, Nguyễn Ngọc Tư đánh động trong ta
cái ngoảnh đầu nhìn lại cuộc sống xung quanh và chính mỗi bản thân con
người trong những khoảnh khắc cụ thể. Nó không phải là những nhân vật điển
hình như Chí Phèo, Chị Dậu để thấy kiếp người nông dân sao mà khổ thế;
cũng chẳng phải cái xã hội thực dân ngột ngạt đến tắc thở, bóp chết quyền

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc20bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham21document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc21bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham22document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

Tư buồn không phải ý thức về thân phận bị xã hội xa lánh hắt hủi, cũng chẳng
phải định mệnh không thể xoay chuyển. Mà ở đây, con người cô đơn bởi
không ai hiểu mình và chính bản thân mình cũng chưa hiểu hết mình, từ suy
nghĩ ấy con người trốn tránh nhân loại, trốn tránh cả những gì xao động trong
chính tâm hồn mình, trốn tránh trách nhiệm...
Trong truyện ngắn Cánh đồng bất tận ai cũng cô đơn. Mỗi người cô
đơn trong nỗi niềm riêng của mình. Người vợ vì cô đơn những ngày xa chồng
không nhịn được đã bỏ theo người đàn ông khác, hai đứa trẻ cô đơn vì thiếu
bàn tay chăm sóc của người mẹ và sự quan tâm của người cha, chị Sương cô
đơn bởi qua biết bao người đàn ông mà chỉ như là bản năng để kiếm sống
không chút tình cảm. Cái cô đơn ấy khiến người ta trơ đi theo thời gian, tưởng
như bị đánh mất cảm xúc. Có cả một thời hai đứa trẻ mơ ước, chờ đợi tình yêu
thương của người cha trở lại sống bình thường, rồi đến gặp ông già ngồi
chơi ven đường mơ ước phải chi ông này là ông nội mình, thương đỡ chơi.
Nỗi đau chia cắt cứ xé con người, người chị mong em quay về mà chỉ nghĩ chờ
chơi vậy, và có nhớ là cái nhớ bao gồm rất nhiều thứ nhớ đồng - loại (và tôi
là đồng loại còn lại), nhớ một cách trò chuyện (đọc thấu lòng nhau), nhớ một

phụ nữ khác, tâm hồn lạnh ngắt khiến đứa con cảm nhận Mỗi lần cha nhìn
đăm đắm và mỉm cười với một người đàn bà mới, chúng tôi lại thắt thẻo.
Thêm mối tình đau trước cả ngày thứ nhất (mà chị em tôi không cách nào
ngăn được). Tôi có cảm giác cha quắp lấy người ấy, vùi mặt vào da vào thịt,
ngấu nghiến mà lòng cha lạnh ngắt. Mỗi thành viên trong gia đình ấy cô đơn
trong nỗi niềm riêng tư của mình để rồi khi sự giao tiếp của họ trở nên bất
thường, mối quan hệ với nhau thêm rời rạc những bữa ăn nối tiếp nhau trong
im lặng. Điều này làm nảy sinh ra những hành động rất đáng thương trên
danh nghĩa kiếp người: Nhiều khi nhìn thằng Điền dỏng tai coi mấy con vịt
nói cái gì, tôi giật mình, nuốt một họng đắng, tự hỏi đã đến nỗi nầy sao, đến
nỗi chơi với người thấy buồn, nên chuyển qua chơi cùng vịt.
Kiểu nhân vật cô đơn, trốn tránh trong tập truyện như một kiểu phản
ứng ngược của con người trong thời hiện đại. Vẫn để nhân vật trong các hoạt
động sống, hoạt động tâm sinh lý của con người, nhưng dường như những hoạt
động của họ bất thường. Người đọc có lẽ sẽ tỏ ra băn khoăn và hoài nghi,
thậm chí có quyền trách cứ sao lại có người sống như thế? Nguyễn Ngọc Tư
có nói đến thiên nhiên khắc nghiệt khiến con người phải bươn trải để kiếm
sống trên những cánh đồng khô cằn, ngập phèn chỉ là điểm thêm cho cái đời
lang bạt của những người chăn vịt. Còn cái đẩy trực tiếp họ lìa xa cuộc sống
đời thường là sự mâu thuẫn trong tâm hồn không tự dung hoà nổi. Ta thử đặt
ra một giả thuyết: nếu con người ta cứ coi những chuyện xảy ra như một vết
thương và cố quên để sống tốt hơn thì câu chuyện sẽ ra sao?

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc23bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn



nghiệm càng chán chường, càng gieo rắc, càng đau.
Trong tác phẩm, không ít người lên tiếng vùng vẫy nhưng càng lên
tiếng càng thấy cô đơn, tuyệt vọng. Đó có thể là hành động rất trẻ con: Có
lần, khi đi trên sông thằng Điền giả đò té chìm nghỉm mất tăm, tôi giả đò kêu

Trường ĐHSP Hà Nội 2

tai lieu,dh su pham, luan van thac si,123doc24bao cao,tieu luan,de tai khoa hoc,khoa luan,tieu luan

K29G Ngữ Văn


luan van,khoa luan, thac si , su pham25document,pdf,docx,download

Khoá luận tốt nghiệp

Phạm Thị Vân

la chói lói, cha hơi giật mình hoảng hốt, đâm lao xuống nước nhưng rồi
người cha điềm nhiên ngồi lại bởi biết con mình quen sông nước từ bé.
Những lần sau đó có lên tiếng gọi cha thì cũng là do tâm lý của đứa
trẻ không chịu được nỗi buồn đau. Cái cô đơn giữa biển người ấy khiến cho họ
tự thấy mình trở nên hoang dã, thấy mình tuân theo tự nhiên và có những ý
nghĩ luẩn quẩn về cái chết: Tôi đứng nhìn, tiếc rẻ, cái người nằm sõng soài
kia, sao không phải là chúng tôi. Và cuối cùng trong ý thức cầu cứu, một
bản năng đơn giản nhất, đứa con gái đã quên mất người cha.
Buồn chán, cô đơn, bế tắc, tuyệt vọng và vô vọng là những cung bậc
cảm xúc của kiểu nhân vật này. Có lúc như ta bị đánh lừa bởi những hành
động bất thường của nhân vật để rồi càng đau xót nhận ra cái cô đơn vô hạn
trong lòng người, nhất là khi nó trở thành vết thương lòng sâu hoắm trong tâm


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status