Trang 1
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ TP. HỒ CHÍ MINH
VŨ THẾ HUY
BIỆN PHÁP TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU TƯ
TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI
TẠI TP. HỒ CHÍ MINH
CHUYÊN NGÀNH
MÃ SỐ
: KINH TẾ PHÁT TRIỂN
: 5.02.05
LUẬN VĂN THẠC SĨ KINH TẾ
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. HAY SINH
TP. HỒ CHÍ MINH - NĂM 2004
Trang 2
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
NGOÀI.
2.1 Tổng quan về tình hình kinh tế – xã hội của thành phố Hồ Chí Minh:................................ 1
2.1.1 Vài nét về vò trí đòa lý: ..................................................................................................... 1
2.2.2 Về đònh hướng phát triển kinh tế: .................................................................................... 1
2.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam:............................................. 1
2.3 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn TP. Hồ Chí Minh qua
từng thời kỳ 18
2.3.1 Mục tiêu của lãnh đạo thành phố đối với hoạt động FDI:.............................................. 1
2.3.2 Quan điểm của lãnh đạo TP .............................................................................................. 1
2.3.3 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn TP. Hồ Chí Minh............................. 1
2.4 Đánh giá việc thu hút và nâng cao hiệu quả của ĐTTTNN trên đòa bàn
thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian qua. ......................................................................... 2
2.4.1 Những thành tựu đạt được ................................................................................................ 3
2.4.2 Một số hạn chế trong việc tăng cường thu hút và nâng cao hiệu quả FDI tại
TP.HCM: .................................................................................................................................................... 3
Kết luận chương 2. ........................................................................................................................... 4
CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP NHẰM TĂNG CƯỜNG THU HÚT ĐẦU
TƯ TRỰC TIẾP NƯỚC NGOÀI TẠI TP.HCM TỪ NAY
ĐẾN NĂM 2010.
3.1 Về quan điểm và mục tiêu đề ra giải pháp:......................................................................... 4
3.2 Các giải pháp và kiến nghò:...................................................................................................... 4
3.2.1 Nhóm giải pháp về cải thiện môi trường đầu tư: .................................................... 4
3.2.2 Nhóm giải pháp về phát triển nguồn nhân lực trong nước và
thực hiện tốt chính sách Việt kiều: ........................................................................... 4
3.2.3 Nhóm các giải pháp về xây dựng, quy hoạch phát triển vùng, ngành hợp lý
phục vụ cho việc thu hút và nâng cao hiệu quả hoạt động FDI: ................................... 5
3.2.4 Nhóm các giải pháp đẩy mạnh các hoạt động hỗ trợ, xúc tiến đầu tư và
hoàn thiện công tác quản lý của các Ban quản lý KCN-KCX: ...................................... 5
phía Bắc như Hà Nội, Hải Phòng, Hải Dương đang có các chính sách đầu tư hợp lý
hỗ trợ mạnh các doanh nghiệp FDI, làm thành phố mất đi lợi thế dẫn đầu về thu
hút FDI trong giai đoạn gần đây.
Đứng trước thực trạng đó và do nhu cầu cấp thiết về việc tìm kiếm các biện
pháp nhằm tăng cường thu hút FDI trong việc phát triển kinh tế thành phố đến năm
2010, đề tài: “Biện pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại thành
phố Hồ Chí Minh” được người viết chọn để làm luận văn tốt nghiệp Thạc só kinh
tế.
Mục đích nghiên cứu của đề tài.
Đề tài xây dựng các biện pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp tại thành
phố. Tuy nhiên, đề tài không có tham vọng nêu ra tất cả các biện pháp mà chỉ nêu
Trang 5
ra các biện pháp kết tinh nhất, mang tính đònh hướng và vận dụng có sự điều chỉnh
hợp lý tùy theo hoàn cảnh và điều kiện thực tế .
Bên cạnh đó đề tài cũng nhằm mục đích ứng dụng các lý thuyết mà người
viết đã được học ở trường vào thực tế một cách có hệ thống, hợp lý để phân tích
thực trạng FDI trên đòa bàn thành phố, tìm ra nguyên nhân ảnh hưởng và cuối cùng
đưa ra các biện pháp khắc phục. Từ đó, đề nghò các hướng giải pháp lên lãnh đạo
thành phố để xem xét giải quyết.
Phạm vi nghiên cứu.
Việc nghiên cứu đưa ra các biện pháp để đẩy mạnh thu hút và nâng cao hiệu
quả FDI trên đòa bàn thành phố Hồ Chí Minh là phạm vi hợp lý vì một đòa phương
có quy mô lớn và phát triển đa dạng như thành phố cho phép các đánh giá, nhận
đònh và các biện pháp đưa ra mang tính tổng quát, là mô hình cho các đòa phương
khác tham khảo, áp dụng vào thực tế. Bên cạnh đó, thành phố cũng là trung tâm
kinh tế đa chức năng của cả nước, việc nghiên cứu thực trạng hoạt động FDI tại
thành phố và đề ra các giải pháp có ý nghóa quan trọng trong chiến lược phát triển
– Chương 3: Biện pháp tăng cường thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài tại
thành
phố Hồ Chí Minh từ nay đến năm 2010 (16 trang).
– Kết luận chung.
– Tài liệu tham khảo.
– Phụ lục.
Trang 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ
NƯỚC NGOÀI.
ĐẦU TƯ TRỰC TIẾP
1.1 Cơ sở các học thuyết về thương mại quốc tế.
Trong xã hội nguyên thủy, con người trong các bộ lạc đã biết tận dụng
những lợi thế của riêng mình để trao đổi lẫn nhau. Từ giữa thế kỷ XV cho đến đầu
thế kỷ VIII tại Châu Âu, đã ra đời những học thuyết kinh tế làm cơ sở cho hoạt
động thương mại ngày nay. Để tìm hiểu sâu hơn về từng học thuyết chúng ta sẽ
tóm tắt lại nội dung, đánh giá ưu, nhược điểm của chúng và ứng dụng linh hoạt vào
lý thuyết thương mại hiện đại như thế nào để đạt hiệu quả cao nhất.
1.1.1 Học thuyết của Chủ nghóa trọng thương.
Chủ nghóa trọng thương phát sinh và phát triển mạnh ở Châu u, mạnh mẽ
nhất là ở Anh, Pháp và kết thúc thời kỳ hoàng kim của mình vào giữa thế kỷ thứ
XVIII.
Tư tưởng chính của Học thuyết Trọng thương là: Mỗi ước muốn đạt được sự
thònh vượng trong phát triển kinh tế thì phải gia tăng khối lượng vàng. Muốn gia
tăng khối lượng vàng của một nước thì con đường chủ yếu phải phát triển ngoại
thương tức là phát triển buôn bán với nước ngoài. Nhưng thuyết trọng thương cũng
1.1.2 Học thuyết về lợi thế tuyệt đối của Adam Smith.
Adam Smith (1723 – 1790) là nhà kinh tế học cổ điển người Anh. Tác phẩm
nổi tiếng nhất của ông là:“ Nghiên cứu về bản chất và nguyên nhân giàu có của
các quốc gia” xuất bản năm 1776, cũng nhờ tác phẩm này mà ngày nay nhiều nơi
suy tôn ông là “ cha đẻ của kinh tế học”.
Tư tưởng chính của Adam Smith về thương mại quốc tế nằm ở các điểm sau
đây: Theo Adam Smith mỗi quốc gia nên chuyên môn hóa vào những ngành sản
xuất mà họ có lợi thế tuyệt đối, có nghóa sử dụng những lợi thế tuyệt đối đó cho
phép họ sản xuất sản phẩm với chi phí thấp hơn các nước khác.
Quốc gia sẽ chỉ xuất khẩu những hàng hóa mà họ có lợi thế tuyệt đối, nhập
khẩu những hàng hóa mà họ không có lợi thế tuyệt đối. Thương mại là một hoạt
động tích cực theo đó các quốc gia đều có lợi trong thương mại quốc tế.
Tuy nhiên, hạn chế của Adam Smith là ở chỗ học thuyết của ông không cho
phép giải thích được hiện tượng: Một nước có mọi lợi thế hơn hẳn các nước khác
hoặc những nước không có lợi thế tuyệt đối nào cả thì chỗ đứng trong phân công
lao động quốc tế là ở đâu? Và thương mại quốc tế sẽ xảy ra như thế nào đối với
các nước này?
1.1.3 Học thuyết về lợi thế so sánh của David Ricardo.
David Ricardo (1772 – 1823) là nhà duy vật, nhà kinh tế học người Anh
(gốc Do Thái), ông được Các Mác đánh giá là người “ đạt tới đỉnh cao nhất của
kinh tế chính trò tư sản cổ điển”. Tác phẩm nổi tiếng nhất của ông là “ những
nguyên lý kinh tế chính trò và thuế” xuất bản năm 1817.
Trang 9
Tư tưởng của David Ricardo về mậu dòch quốc tế .
Những nước có lợi thế tuyệt đối hoàn toàn hơn các nước khác, hoặc bò kém
lợi thế tuyệt đối so với các nước khác trong sản xuất mọi sản phẩm, thì vẫn có thể
và vẫn có lợi khi tham gia vào phân công lao động và thương mại quốc tế bởi vì
Vải (mét/giờ), ký hiệu C
4
2
Mỹ không tiến hành mậu dòch với Anh khi đổi 6 giạ lúa (6W) lấy 4 mét vải
(4C) vì điều này ngay trong nước Mỹ có thể làm được. Cũng tương tự như vậy, Anh
sẽ không tiến hành mậu dòch với Mỹ nếu đổi 2C lấy 1W hoặc ít hơn.
Giả sử Mỹ đổi 6W với Anh sẽ được 6C, như thế Mỹ sẽ có lợi 2C . Để có 6W
nhận được từ Mỹ, Anh phải bỏ ra 6 giờ sản xuất lúa mì trong nước. Nhưng nếu bây
giờ Anh không sản xuất lúa mì nữa mà dành thời gian đó để sản xuất vải thì Anh sẽ
Trang 10
có được 12C. Sau đó đem trao đổi 6C với Mỹ để lấy 6W – phần còn lại 6C là phần
lợi ích từ mậu dòch mà Anh có được.
Để đo mức độ lợi thế so sánh (LTSS) của sản phẩm này với sản phẩm khác
người ta dùng hệ số biểu thò LTSS (The Coefficient of Revealed Comparative
Advantage, viết tắt là RCA). Hệ số RCA chỉ ra khả năng cạnh tranh xuất khẩu của
một quốc gia về một sản phẩm xác đònh trong mối tương quan với mức xuất khẩu
thế giới của sản phẩm đó. Hệ số RCA được xác đònh theo công thức sau:
RCA = E1 : E2
Ec
Ew
=
Các phân tích của Ricardo không đề cập đến chi phí vận tải, bảo hiểm hàng
hóa và hàng rào bảo hộ mậu dòch mà các nước dựng lên. Trong khi đó, các yếu tố
này ảnh hưởng quyết đònh đến hiệu quả của thương mại quốc tế.
Lý thuyết của Ricardo không giải thích được nguồn gốc phát sinh thuận lợi
của một nước đối với một sản phẩm nào đó, cho nên không giải thích triệt để
nguyên nhân sâu xa của quá trình thương mại quốc tế.
Trang 11
1.1.4 Lý thuyết hàm lượng các yếu tố sản xuất của Heckscher–Ohlin (H-O).
Các giả thiết của lý thuyết H-O:Lý thuyết hàm lượng các yếu tố dựa trên 9
giả thiết sau đây:
1. Chỉ nghiên cứu: hai quốc gia (quốc gia 1, quốc gia 2), hai sản phẩm (sản
phẩm X, sản phẩm Y), hai yếu tố sản xuất (lao động và vốn).
2. Hai quốc gia sử dụng cùng một công nghệ trong quá trình sản xuất. với
cùng một công nghệ trong sản xuất, thì quy mô vốn và lao động sử dụng sẽ như
nhau. Sự khác biệt về giá sản phẩm của hai quốc gia (cơ sở của lợi thế) do yếu tố
sản xuất quyết đònh.
3. Quy mô sản suất và quy mô sử dụng yếu tố sản suất biến động cùng
chiều, cùng tỷ lệ.
4. Có sự khác biệt về hàm lượng sử dụng các yếu tố sản xuất giữa hai sản
phẩm và quy mô yếu tố sản xuất giữa hai quốc gia.
5. Chuyên môn hóa không hoàn toàn trong quá trình sản xuất ở hai quốc gia.
Do đó, sẽ không có sự chênh lệch lớn trong quan hệ giữa các quốc gia vào
thương mại quốc tế. Có nghóa hai quốc gia chúng ta nghiên cứu đều là quốc gia lớn.
6. Cạnh tranh hoàn hảo tại thò trường sản phẩm cũng như thò trường yếu tố
sản xuất của hai quốc gia.
7. Các yếu tố lao động, vốn tự do di chuyển giữa các vùng trong một quốc
gia, nhưng không di chuyển giữa các quốc gia.
phí về vận tải và bảo hiểm quá lớn, nhiều khi vượt quá cả chi phí sản xuất.
1.1.5 Lý thuyết cân bằng giá yếu tố sản xuất của Heckscher – Ohlin –
Samuelson (H-O-S).
Nội dung của lý thuyết H-O-S: tự do mậu dòch sẽ làm cân bằng giá cả yếu
tố sản xuất giữa các quốc gia với nhau.
Trước hết như chúng ta biết:
Giá cả của các yếu tố sản xuất có sự khác biệt giữa các quốc gia là do sự dò
biệt trong phân bố các yếu tố sản xuất giữa các quốc gia trên thế giới.
Cân bằng ở đây có nghóa là sự cân bằng về tỷ lệ so sánh giá các yếu tố sản
xuất giữa hai quốc gia.
Lý thuyết H-O-S được biểu hiện qua biểu đồ sau:
Trang 13
Px/Py
PA’
A’
PB’ = PB
PA
0
B
A
Trang 14
Cơ sở để phát triển xuất khẩu của mỗi quốc gia là phải dựa vào lợi thế tương
đối và tuyệt đối của mình và thực hiện nhập khẩu những mặt hàng mà mình không
có lợi thế để phát triển.
1.2 Đầu tư và đầu tư nước ngoài.
1.2.1 Khái niệm về đầu tư và đầu tư nước ngoài.
Đònh nghóa đầu tư.
Theo quan điểm của chủ đầu tư: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn kinh doanh,
để từ đó thu được số vốn lớn hơn số đã bỏ ra, thông qua lợi nhuận.
Theo quan điểm của xã hội: Đầu tư là hoạt động bỏ vốn phát triển, để từ đó
thu được các hiệu quả kinh tế xã hội, vì mục tiêu phát triển quốc gia.
Đầu tư nước ngoài.
Đầu tư nước ngoài là hiện tượng di chuyển vốn từ nước này sang nước khác
nhằm mục đích lợi nhuận. Ý nghóa thực tiễn của khái niệm này là: Muốn tăng
cường thu hút đầu tư quốc gia thì phải tạo ra môi trường đầu tư mang tính cạnh
tranh cao trong việc mang lại lợi nhuận cao cho các nhà đầu tư nước ngoài.
1.2.2 Vai trò của đầu tư nước ngoài.
Đầu tư nước ngoài ngày càng có vai trò to lớn đối với việc thúc đẩy quá trình
phát triển kinh tế và thương mại ở các nước đi đầu tư lẫn tiếp nhận vốn đầu tư.
Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với nước xuất khẩu vốn đầu tư.
Giúp nâng cao hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thông qua việc sử dụng những
lợi thế sản xuất của nơi tiếp nhận đầu tư, giúp hạ giá thành sản phẩm và nâng cao
tỷ suất lợi nhuận của vốn đầu tư. Xây dựng thò trường cung cấp nguyên liệu ổn đònh
với giá cạnh tranh.
Đầu tư ra nước ngoài giúp các chủ vốn đầu tư phân tán rủi ro do tình hình
kinh tế chính trò trong nước bất ổn đònh hoặc giúp thay đổi cơ cấu nền kinh tế trong
nước theo hướng hiệu quả hơn, thích nghi hơn với sự phân công lao động khu vực
và quốc tế.
Vai trò của đầu tư nước ngoài đối với các nước tiếp nhận đầu tư.
Đầu tư ra nước ngoài nhằm nắm bắt lâu dài và ổn đònh thò trường,
nguyên liệu với giá rẻ đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế trong nước.
Tình hình bất ổn đònh về chính trò an ninh quốc gia cũng như nạn
tham nhũng hoành hành ở nhiều khu vực trên thế giới.
1.2.4 Các hình thức đầu tư nước ngoài (ĐTNN).
Đầu tư nước ngoài được thực hiện chủ yếu dưới hai hình thức: đầu tư trực
tiếp, và đầu tư gián tiếp.
1.2.4.1 Đầu tư trực tiếp.
Khái niệm đầu tư trực tiếp: Là hình thức đầu tư nước ngoài mà chủ đầu tư
nước ngoài đóng góp một số vốn đủ lớn vào lónh vực sản xuất hoặc dòch vụ, cho
phép họ trực tiếp tham gia điều hành đối tượng mà họ tự bỏ vốn đầu tư.
Đặc điểm đầu tư trực tiếp : Các chủ đầu tư nước ngoài phải đóng góp một
số vốn tối thiểu hoặc tối đa tùy theo quy đònh của luật đầu tư từng nước.
Trang 16
Quyền điều hành doanh nghiệp phụ thuộc độ góp vốn của chủ đầu tư trong
vốn pháp đònh. Nếu góp 100% vốn pháp đònh thì nhà đầu tư toàn quyền quyết đònh
sự hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Lợi nhuận mà các chủ đầu tư thu được
phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp đònh
của doanh nghiệp.
Các hình thức thức đầu tư trực tiếp.
Trang 17
Hợp đồng xây dựng – chuyển giao B-T (Building – Transfer ): Là văn bản
ký kết giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền của Việt Nam và nhà đầu tư nước
ngoài để xây dựng và kinh doanh các công trình kết cấu hạ tầng, sau khi xây dựng
xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình cho nhà nước Việt Nam.
Hình thức đầu tư vào khu chế xuất (Export Processing Zone): Đây là một
khu vực lãnh thổ được nhà nước quy hoạch riêng để thu hút các nhà đầu tư nước
ngoài để sản xuất và chế biến hàng công nghiệp xuất khẩu. Hàng hóa nhập khẩu
phục vụ cho sản xuất kinh doanh trong khu chế xuất và sản phẩm hàng hóa xuất ra
từ khu chế xuất ra nước ngoài được miễn thuế nhập khẩu. Hàng hóa ra vào khu chế
xuất phải được kiểm duyệt và chấp hành thủ tục hải quan.
Hình thức đầu tư và phát triển khu công nghiệp ( Industrial Zone): Đây là
khu vực được quy hoạch dành riêng cho sản xuất công nghiệp nhằm thu hút các
nhà đầu tư trong và ngoài nước vào để sản xuất hàng công nghiệp. Tuy nhiên, khác
với khu chế xuất, hàng nhập vào và xuất ra khỏi khu công nghiệp ra nước ngoài
phải chòu thuế xuất nhập khẩu theo luật đònh chỉ trừ những doanh nghiệp chế xuất
hoạt động trong khu công nghiệp.
Ưu điểm của hình thức đầu tư trực tiếp.
– Về phía chủ đầu tư nước ngoài.
Khai thác được những lợi thế của nước chủ nhà, mở rộng thò phần, giảm chi
phí kinh doanh, tránh được hàng rào bảo hộ mậu dòch, trực tiếp kiểm soát và điều
hành doanh nghiệp mà chủ đầu tư bỏ vốn theo hướng có lợi nhất.
Thông qua hoạt động trức tiếp đầu tư các nhà đầu tư nước ngoài tham dự
vào quá trình giám sát và đóng góp việc thực thi chính sách mở cửa kinh tế theo
các cam kết thương mại và đầu tư song phương và đa phương của nước chủ nhà.
– Về phía nước tiếp nhận đầu tư.
Gíúp tăng cường khai thác vốn của từng chủ đầu tư nước ngoài. Giúp tiếp thu
được công nghệ tiên tiến, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của chủ đầu tư nước
vay nợ, nhiều nước mất khả năng chi trả.
– Hổ trợ phát triển chính thức ODA.
Khái niệm ODA:
ODA viết tắt từ chữ tiếng Anh “ Official Development Assistance – Hỗ trợ
phát triển chính thức”, đây là hình thức viện trợ không hoàn lại hoặc cho vay vốn
với những điều kiện đặc biệt ưu đãi , cho vay dài hạn, lãi suất thấp, trả nợ thuận lợi
nhằm giúp cho các nước gặp khó khăn về kinh tế, trong đó có các nước đang phát
triển phục hồi tốc độ tăng trưởng kinh tế và gia tăng phúc lợi xã hội.
Phân loại ODA:
Trang 19
Phân loại ODA
Phân loại
theo phương
thức hoàn trả
Viện
trợ
không
hoàn
lại
Viện
trợ
hoàn
lại
Hỗ
Trợ
Ngân
sách
Nguồn
Vốn
Song
phương
Nguồn
Vốn
đa
phương
Hình 1: Phân loại ODA.
1.3 Hệ thống chỉ tiêu đánh giá hiệu quả đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI).
1.3.1 Khái niệm: Hiệu quả FDI thể hiện qua việc so sánh giữa chi phí đầu
tư của chủ đầu tư vào nước tiếp nhận đầu tư với kết quả đạt được (đònh lượng),
hoặc những hiệu quả về mặt xã hội (đònh tính) như giải quyết việc làm, tăng thêm
mối quan hệ chính trò giữa các quốc gia với nhau.
1.3.2 Ý nghóa của việc sử dụng hệ thống chỉ tiêu hiệu quả FDI.
Lượng hoá các chỉ tiêu về kinh tế tài chính, xã hội để đánh giá một cách
khách quan hiệu quả của FDI. Từ đó đưa ra các nhận xét đánh giá về thực trạng
FDI tại một quốc gia. Trên cơ sở đó đề ra các biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả
của FDI.
1.3.3 Các chỉ tiêu phản ảnh hiệu quả của FDI.
1.3.3.1 Hiệu quả sử dụng vốn.
Các chỉ tiêu kinh tế – tài chính.
– Chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sử dụng vốn đầu tư.
trưởng kinh tế . Đây là một chỉ tiêu vó mô quan trọng phản ánh hiệu quả sử dụng
vốn FDI cả về mặt chất lượng hoạt động của các doanh nghiệp FDI và về mặt số
lượng vốn và dự án mà nền kinh tế thu hút được.
1.3.3.2 Các chỉ tiêu về mặt xã hội.
Chỉ tiêu mức độ thu hút lao động của khu vực FDI.
Đây là một chỉ tiêu quan trọng thể hiện hiệu quả hoạt động FDI trên phương
diện tạo công ăn việc làm cho người lao động, góp phần tích cực giải quyết nạn
thất nghiệp. Chỉ tiêu này có thể được xác đònh bằng phương pháp tuyệt đối là số
lượng lao động làm việc trong các doanh nghiệp FDI hoặc số tương đối thể hiện tỷ
số giữa tổng vốn đầu tư và số lao động thu hút được. Chỉ tiêu thứ hai càng thấp thì
hiệu quả càng cao.
Chỉ tiêu mức độ thu hút lao động và thặng dư xã hội mà các dự án
FDI mang lại.
Trang 21
Chỉ tiêu này thể hiện mức thu nhập mà người lao động nhận được từ các
doanh nghiệp FDI và giá trò thặng dư tích lũy mang lại từ hoạt động của các dự án
FDI. Hai bộ phận này cấu thành nên giá trò gia tăng quốc dân thuần mà các dự án
FDI mang lại cho nền kinh tế. Chỉ tiêu này càng cao càng tốt thể hiện mức thu
nhập của người lao động ngày càng gia tăng trên cơ sở vẫn đảm bảo yêu cầu tích
lũy để phát triển kinh tế.
Các chỉ tiêu kinh tế xã hội khác.
Những chỉ tiêu đònh tính phản ánh sự tác động của FDI đến việc thúc đẩy
phát triển kinh tế theo đòa phương, theo vùng lãnh thổ và theo ngành kinh tế. Nhà
nước luôn có những chính sách khuyến khích đầu tư thích hợp để phát triển kinh tế
theo những đònh hướng nhất đònh. Và việc đánh giá hiệu quả việc thực hiện chỉ tiêu
này là hết sức quan trọng.
Ngoài ra, cần thiết phải đánh giá và nhận xét về một số mặt khác của xã hội
lựa chọn chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh (từ năm 1978 đến nay). Trong từng thời kỳ,
căn cứ vào tình hình tăng trưởng, mức độ cạnh tranh của nền kinh tế, ngân hàng
Trung ương có những điều chỉnh kòp thời.
1.4.2 Kinh nghiệm của Thái Lan và Malaysia.
Gần như trái ngược với đặc điểm của Trung Quốc, Malaysia và Thái Lan là
những nước có nền kinh tế thò trường, với quy mô nền kinh tế tương đối nhỏ. Hai
nước này đã có gần 40 năm công nghiệp hóa. Cũng như nhiều nước Asean và các
nước Đông Nam Á khác, hai nước này đều chủ trương thực hiện chiến lược kinh tế
hướng vào xuất khẩu.
Về chính sách tỷ giá hối đoái, cả hai nước này đều thực hiện theo chế độ tỷ
giá cố đònh với chiếc “neo” là đồng đôla Mỹ nhằm hậu thuẫn cho hoạt động thương
mại và đầu tư nước ngoài.
Mặc dù không có được một chính sách công nghiệp rõ ràng như các nước
Đông Á, nhưng không thể phủ nhận vai trò của Chính phủ Thái Lan đối với sự phát
triển của nền công nghiệp chế tạo lắp ráp điện, điện tử, đồ gia dụng, linh kiện ô tô,
xe máy. Chính sách công nghiệp có nhiều điểm phù hợp với nhu cầu chuyển sản
xuất ra nước ngoài của các nước có trình độ công nghiệp hóa cao hơn như: Nhật
Bản và các nước NIES, Malaysia và Thái Lan đã thu hút được một lượng FDI lớn.
Khủng hoảng tài chính tiền tệ năm 1997 cả Thái Lan và Malaysia cùng nằm
ở tâm điểm và chòu ảnh hưởng nặng nề. Sau hơn một thập kỷ cố đònh đồng bản tệ
với đôla Mỹ, Thái Lan đã chuyển từ chế độ tỷ giá hối đoái cố đònh sang chế độ tỷ
giá hối đoái thả nổi có kiểm soát. Trong khi đó Malaysia vẫn duy trì chế độ tỷ giá
hối đoái cố đònh nhưng phá giá hơn 50% đồng bản tệ. Với hàng loạt các biện pháp
cứng rắn làm lành mạnh hoá khu vực tàichính ngân hàng, Thái Lan và Malaysia
đã ban hành các chính sách khuyến khích, thu hút FDI. Tất cả những nỗ lực đó đã
khơi lại lòng tin của các nhà đầu tư nước ngoài vì vậy luồng FDI đã quay trở lại.
Tuy vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về nguồn gốc, vai trò, tác động của
FDI, bên cạnh những tác động tiêu cực, nhưng đóng góp của FDI vào thành công
và kinh tế trong khu vực Đông Á và Đông Nam Á là điều không thể phủ nhận. Để
đẩy mạnh thu hút và phát huy tác động tích cực của FDI, thì vai trò của Chính phủ
Nam Bộ giàu có và giàu tiềm năng, cách thủ đô Hà Nội 1738 km về phía Đông
Nam. Có chung đòa giới hành chính với các tỉnh Long An, Tây Ninh, Bình Dương,
Đồng Nai, Bà Ròa Vũng Tàu, Nam giáp biển Đông với chiều dài bờ biển 15km.
Chiều dài từ Tây Bắc xuống Đông Nam là 102km, từ Đông sang Tây là 75km.
Trung tâm thành phố cách biển 50km đường chim bay. Độ cao trung bình so với
mực nước biển là 6m. Với hệ thống kênh rạch chằng chòt có tổng chiều dài là 7955
km, sông Sài Gòn năm ở phía Đông thành phố . Diện tích mặt nước chiếm 16%
tổng diện tích trên toàn thành phố.
2.1.2 Về đònh hướng phát triển kinh tế.
Theo quy hoạch tổng thể đònh hướng phát triển giai đoạn 1996-2010 do
chính quyền thành phố đề ra và được chính phủ phê duyệt (Quyết đònh 532/TTg
ngày 12-7-1997).Vì vậy, mục tiêu của thành phố là đẩy nhanh nhòp độ tăng trưởng
GDP hàng năm trung bình 14-15%/ năm, và nâng mức GDP bình quân đầu người
lên khoảng 4.500 USD năm 2010.
2.2 Cơ sở pháp lý của hoạt động đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.
Năm 1988 cùng với chính sách mở cửa luật đầu tư trực tiếp nước ngoài đã
chính thức ra đời. Tuy nhiên trong quá trình thực hiện, luật ĐTNN được Quốc Hội
sửa đổi, bổ sung cho hợp lý và sát với tình hình thực tế và gần đây nhất là luật
18/2000/QH10 ký ngày 9/6/2000. Để thực hiện chi tiết thi hành luật, Chính phủ đã
ban hành NĐ 24/2000/NĐ-CP ngày 31/7/2000, sau này là NĐ27/2003/NĐ-CP ngày
19/3/2003. Trên cơ sở đó Bộ KHĐT ban hành thông tư TT12/2000/TT-BKH ngày
15/9/2000 bao gồm những quy đònh cởi mở và thông thoáng hơn, tạo mọi điều kiện
thuận lợi cho các nhà ĐTNN yên tâm khi đầu tư vào Việt Nam.
2.3 Thực trạng đầu tư trực tiếp nước ngoài trên đòa bàn TP. Hồ Chí
Minh qua từng thời kỳ.
2.3.1 Mục tiêu của lãnh đạo thành phố đối với hoạt động FDI.
Qua hoạt động thu hút FDI, thành phố tiếp nhận thêm vốn để một mặt mở
rộng quy mô phát triển sản xuất, xây dựng cơ sở hạ tầng kinh tế, hình thành những
nước
Vốn/dự án
TP. HCM
Cả nước
Thành
so với cả
Cả
Thành
phố
nước
nước
phố
(%)
(%)
1988
1989
1990
16
25
46
73
87
102
121
155
114
89
90
109
122
182
223
201
43
37
43
48
44
38
35
42
35
26
33
35
2,376.0
1,179.0
707.0
471.0
224.0
619.0
314.0
304.0
19
64
63
47
33
55
42
38
28
25
18
30
11
24
19
16
10
9
8
9
Tổng
5,288
1,755
33
45,219
14,163
31
9
8
(Nguồn: Niên giám thống kê 2003)