Mở đầu
Cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc là một giải pháp quan
trọng trong việc sắp xếp, tổ chức lại, đổi mới và nâng cao hiệu
quả doanh nghiệp nhà nớc. Đây là một chủ trơng nhất quán của
Đảng và Nhà nớc ta. Qua gần hai mơi năm triển khai, tổ chức và
thực hiện, chủ trơng này đã đi vào cuộc sống đạt đợc nhiều
thành tựu. Nhiều doanh nghiệp nhà nớc đợc cổ phần hoá đã thực
sự vững vàng trong cơ chế thị trờng và hội nhập quốc tế, lợi
nhuận ngày càng tăng, sức cạnh tranh ngày càng mạnh, đời sống
vật chất tinh thần của ngời lao động tăng lên. Tuy vậy, trong quá
trình thực hiện cổ phần hoá đã nẩy sinh nhiều vớng mắc, xuất
hiện những tiêu cực, tiến độ chậm. Tình hình đó làm xuất
hiện nhiều ý kiến khác nhau khi đánh giá về vai trò, kết quả của
cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc. Đại đa số ý kiến đã nhất trí
với nhận định của Đảng và Nhà nớc ta: Cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc đã thực sự là một giải pháp cơ bản và quan trọng
để cơ cấu lại, nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp
nhà nớc.
Để góp phần làm sáng tỏ một số vấn đề lý luận và thực
tiễn về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam, đồng
thời qua đó cung cấp thêm t liệu phục vụ cho quá trình giảng
dạy các môn học kinh tế tôi xin chọn vấn đề: Cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc hiện nay một số vấn đề lý luận thực
tiễn. làm đề tài nghiên cứu của mình.
Bố cục của đề tài gồm 2 chơng, 4 tiết với các vấn đề
cần làm rõ sau:
2
1. Một số vấn đề lý luận về cổ phần hoá doanh nghiệp
công ty cổ phần, nhng còn chung chung và cha làm rõ đợc
những đặc trng cơ bản của CPH.
Quan niệm thứ ba: CPH là việc chuyển DNNN thành công
ty cổ phần, hay chuyển hình thức tổ chức kinh doanh một
chủ là Nhà nớc thành công ty cổ phần với chế độ đồng sở hữu,
hỗn hợp nhiều chủ: bao gồm Nhà nớc, các tổ chức xã hội và cá
nhân... tạo ra mô hình doanh nghiệp mới, phù hợp với nền kinh
tế thị trờng. Có thể nói, đây là quan điểm phản ánh khá đầy
đủ về những đặc trng, bản chất của CPH song tính khái quát
lại cha cao.
Trên cơ sở lý luận kinh tế chính trị Mác- Lê nin, quan
điểm của Đảng ta, đồng thời có kế thừa, phát triển các quan
niệm trên đây, chúng ta có thể hiểu cổ phần hoá DNNN nh
sau: Cổ phần hoá DNNN là việc chuyển DNNN từ một chủ sở
hữu (100% vốn Nhà nớc) thành một loại hình doanh nghiệp mới
- công ty cổ phần, có cơ cấu sở hữu đa dạng, toàn bộ quá
trình tổ chức quản lý sản xuất - kinh doanh, phân phối lợi
nhuận đều thay đổi phù hợp với chế độ công ty, theo đó tùy
vị trí và tính chất cụ thể của doanh nghiệp trong nền kinh tế
quốc dân mà Nhà nớc giữ vai trò chi phối hoặc cổ đông thờng.
Kinh nghiệm của các nớc t bản chủ nghĩa khi CPH họ thờng
chọn một trong hai hình thức sau:
4
Một là, bán toàn bộ hoặc một phần tài sản của doanh
nghiệp cho các cá nhân, tổ chức kinh tế, xã hội bằng phơng
thức phân chia tài sản doanh nghiệp thành nhiều cổ phiếu và
đem bán toàn bộ hoặc một phần số cổ phiếu đó.
cứ vào định hớng sắp xếp, phát triển DNNN và điều kiện thực
tế của từng doanh nghiệp mà quyết định chuyển DNNN hiện
có thành công ty cổ phần, trong đó Nhà nớc có cổ phần chi
phối, cổ phần đặc biệt, cổ phần ở mức thấp hoặc Nhà nớc
không cần giữ cổ phần.
1.1.2 Cổ phần hoá và t nhân hoá
Kể từ khi Nhà nớc ta có chủ trơng thực hiện CPH một bộ
phận DNNN đã có không ít ngời có nhận thức rằng, CPH thực
chất là t nhân hoá DNNN, thực ra, hiểu nh vậy là không đúng.
Cổ phần hoá và t nhân hoá là hai phạm trù kinh tế rất gần
nhau, nhng về bản chất là hoàn toàn khác nhau.
Trớc hết: T nhân hoá là việc chuyển DNNN (có thể 100%
vốn Nhà nớc hoặc có vốn Nhà nớc) sang công ty cổ phần có cơ
cấu sở hữu chủ yếu là sở hữu t nhân. Hoặc có thể hiểu t
nhân hoá là quá trình chuyển DNNN sang doanh nghiệp t
nhân, từ một chủ sở hữu là Nhà nớc sang môt chủ sở hữu là t
nhân. T nhân hoá đồng nghĩa với việc loại DNNN ra khỏi thành
phần kinh tế Nhà nớc. Cải cách DNNN dới hình thức t nhân hoá
đợc coi là làn sóng của chính sách tự do kinh tế mới trong
những năm 80 và 90 của thế kỷ XX ở các nớc TBCN có nền kinh
tế phát triển.
6
Còn CPH ở nớc ta là quá trình chuyển DNNN từ một chủ sở
hữu là Nhà nớc thành doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu.
Doanh nghiệp cổ phần hóa mà Nhà nớc (tức toàn dân) giữ vai
trò chi phối thì vẫn là doanh nghiệp nhà nớc. Trờng hợp Nhà nớc
không cần giữ vai trò chi phối trực tiếp nữa thì đó là doanh
cổ phần đợc bán cho t nhân hoặc ngời lao động, một phần
Nhà nớc sở hữu. Nh vậy, với CPH thì một lợng vốn, tài sản của
một số DNNN đợc chuyển thành sở hữu hỗn hợp của ngời lao
động và của Nhà nớc. Rõ ràng, DNNN bị t nhân hoá một phần,
tức là phần giành cho doanh nhân và ngời lao động. Nghĩa là
một phần tài sản của thành phần kinh tế nhà nớc đã chuyển
sang kinh tế t nhân. Thực tế này cho thấy CPH là t nhân hoá
từng phần các DNNN. Vì lý do này nên nhiều quốc gia khi tiến
hành cải cách thành phần kinh tế nhà nớc đều coi CPH chỉ là
một trong những phơng thức thực hiện t nhân hoá. Tuy nhiên,
giữa CPH và t nhân hoá ở các nớc theo mô hình t nhân hoá
vẫn có những điểm khác nhau rất cơ bản sau đây:
Thứ nhất, t nhân hoá đợc coi là một chính sách và mục
tiêu nhằm hạn chế đến mức tối đa phần vốn, tài sản thuộc sở
hữu Nhà nớc, còn CPH chỉ đợc coi là một giải pháp thực hiện
thực hiện đa dạng hoá sở hữu doanh nghiệp.
Thứ hai, t nhân hoá đợc thực hiện với nhiều phơng thức
khác nhau. Trong đó có cả phơng thức phi quốc hữu hoá, tức là
trả lại cho chủ cũ những tài sản đã bị quốc hữu hoá, kể cả toàn
bộ doanh nghiệp đang hoạt động. Cổ phần hoá trong khi đó
8
chỉ thực hiện thông qua việc DNNN tiến hành phát hành cổ
phần ra công chúng lần đầu.
Thứ ba, tác động của CPH và t nhân hoá hoàn toàn khác
nhau cả về mức độ lẫn tính chất. T nhân hoá dẫn đến sự thay
đổi hình thức sở hữu của doanh nghiệp từ sở hữu Nhà nớc, sở
hữu tập thể sang sở hữu t nhân. Còn CPH có tác dụng làm giảm
hợp và nếu bán theo cách để cho ngời lao động có cổ phần u đãi, hay cổ phần khống chế thì rõ ràng không thể nói
rằng đó là t nhân hoá.
1.2. Cơ sở khách quan cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nớc ở nớc ta hiện nay
1.2.1 Lý luận Mác - Lênin về cổ phần hoá
Từ nửa cuối thế kỷ XIX trong lòng chủ nghĩa t bản với chế độ
sở hữu t nhân về t liệu sản xuất đang thống trị đã bắt đầu
xuất hiện một loại hình xí nghiệp mới - xí nghiệp cổ phần hay
công ty cổ phần, mà sở hữu trong đó là của các cổ đông.
Trong các tác phẩm của C.Mác và Ph.Ăng-ghen, chúng ta có
thể tìm thấy những phân tích sâu sắc về thực chất quá trình
hình thành loại hình công ty cổ phần trong lòng chủ nghĩa t
bản ở Tập III của Bộ "T bản" 1. Tập này đã đợc Ph.Ăng-ghen biên
tập và cho xuất bản vào năm 1894, sau khi C.Mác qua đời. Trong
đó đáng lu ý ở sự tiên đoán về hai khuynh hớng quan trọng của
sự xuất hiện các công ty cổ phần trong xã hội t sản:
Thứ nhất, dới chủ nghĩa t bản, C.Mác chỉ ra rằng công ty
cổ phần ra đời là sự manh nha của một hình thức sản xuất mới,
1
C.Mác và Ph.Ang-ghen: Toàn tâ p, Nxb Chính tr ị quôc gia, Hà N ôi, 1994, t 25 Ph â n I, tr
666 ,tr 675
10
sẽ đa đến việc lập ra chế độ độc quyền và đa đến sự can
thiệp của nhà nớc t sản. Khi xuất bản tác phẩm này Ph.Ăng-ghen
có bổ sung thêm một số ý nh: Các-ten ra đời xóa bỏ tự do cạnh
tranh. Trong một số ngành mà trình độ sản xuất cho phép làm
cổ phần t bản chủ nghĩa, mâu thuẫn đợc giải quyết một cách
tiêu cực, còn trong những nhà máy hợp tác, mâu thuẫn đợc giải
quyết một cách tích cực".
Thời đó, C.Mác cũng đã đề cập đến các xí nghiệp của các
nhà nớc t sản cũng có thể trở thành các công ty cổ phần để
tăng thêm quy mô sản xuất của chúng. Vì rằng, công ty cổ
phần ra đời đã làm cho quy mô sản xuất có thể đợc tăng lên, mở
rộng một cách to lớn, đến nỗi những t bản riêng lẻ không thể làm
nổi. Ngay cả những xí nghiệp của nhà nớc (của chính phủ)
cũng đợc tổ chức thành công ty cổ phần, tham gia vào công ty
cổ phần.
Trong quá trình phát triển lịch sử của chủ nghĩa t bản, do
những điều chỉnh thích nghi để bảo vệ lợi ích của giai cấp t
sản, cố gắng duy trì sự tồn tại chủ nghĩa t bản trên thế giới nên
khuynh hớng thứ nhất đã trở nên mạnh mẽ hơn. Chủ nghĩa t bản từ
giai đoạn tự do cạnh tranh đã chuyển thành chủ nghĩa t bản độc
quyền, tức chủ nghĩa đế quốc. ở các tác phẩm của V.I. Lênin, các
hình thức của công ty cổ phần ít đợc bàn đến, ngay cả trong
quá trình thực hiện Chính sách kinh tế mới. Trong quá trình này
V.I. Lênin đề cập rất nhiều đến chủ nghĩa t bản độc quyền nhà
nớc và sự vận dụng sáng tạo trong hoàn cảnh cụ thể của nớc Nga
13
Xô-viết thành phần kinh tế chủ nghĩa t bản nhà nớc. Trong đó, V.I.
Lênin cho rằng, việc nhà nớc Xô-viết có thể chỉ cần nắm khoảng
25% cổ phần là có thể chi phối đợc các cổ đông t nhân khác
trong các xí nghiệp thuộc thành phần kinh tế chủ nghĩa t bản
nhà nớc.
- Các doanh nghiệp nhà nớc phải góp phần quan trọng bảo
đảm sản phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu
cầu cần thiết của quốc phòng, an ninh và phúc lợi xã hội.
Thực hiện tốt vấn đề này sẽ mang lại những tác dụng tích
cực sau:
Thứ nhất, tăng thêm vốn cho phát triển kinh tế. Dù bán
một phần tài sản doanh nghiệp bằng hình thức bán cổ phần,
hoặc gọi thêm vốn bằng hình thức mua cổ phần, thì tiền vốn
của doanh nghiệp đều tăng lên trong khi vốn hữu hình của
doanh nghiệp vẫn bảo tồn. Vốn tiền tăng lên sẽ giúp cho phát
triển tài sản cố định và giúp phát triển cả vốn lu động, càng
cần thiết đối với những doanh nghiệp đang làm ăn có hiệu
quả. Trong thực tiễn cổ phần hóa, vốn nhà nớc vẫn có thể tăng
lên do định giá lại tài sản doanh nghiệp theo giá thị trờng và cả
giá cả của những thơng hiệu nổi tiếng. Chẳng hạn, trong 12
đơn vị của Tổng công ty Thủy tinh và Gốm xây dựng thì giá
trị tài sản đợc đánh giá lại đã tăng thêm trên 22 tỷ, giá trị thơng hiệu là 37 tỷ đồng, làm cho tổng vốn của Nhà nớc tăng
thêm 59 tỷ đồng.
Thứ hai, tạo nên động lực trực tiếp cho sản xuất kinh
doanh. Cổ phần hoá DNNN làm thay đổi hình thức sở hữu, từ
một chủ duy nhất là Nhà nớc sang nhiều chủ sở hữu, thay đổi
15
cơ chế quản lý đã tạo cho ngời lao động thực sự làm chủ doanh
nghiệp, gắn bó với kết quả sản xuất, kinh doanh. Thông qua Đại
hội cổ đông, ngời lao động đợc quyền tham gia quyết định
những vấn đề hệ trọng liên quan đến sự tồn tại, phát triển của
doanh nghiệp. Đây không chỉ là cơ chế để phát huy dân chủ
đối với doanh nghiệp. Bằng việc sở hữu cổ phần trong doanh
nghiệp, ngời lao động có cơ hội để tăng thu nhập, tham gia
vào việc quyết định các vấn đề quan trọng của doanh nghiệp
thông qua cái gọi là nền dân chủ cổ phần. Điều này có ý
nghĩa rất lớn trong việc nâng cao tính chủ động, tích cực,
tinh thần lao động hăng say của ngời lao động không chỉ đối
với các vấn đề của doanh nghiệp mà cả đối với các vấn đề
kinh tế, chính trị, xã hội của đất nớc. Đây chính là yếu tố tích
cực của CPH xét ở khía cạnh ổn định chính trị - xã hội.
Thứ năm, củng cố vai trò của doanh nghiệp nhà nớc - bộ
phận rờng cột, năng động của kinh tế nhà nớc, nhờ hiệu quả
ngày càng cao của nó và lực lợng vật chất, tài chính to lớn do
nhà nớc chi phối đợc. Cổ phần hoá DNNN sẽ làm cho số lợng
doanh nghiệp 100% vốn của Nhà nớc giảm, nhng Nhà nớc lại có
điều kiện đầu t cho các DNNN ở những ngành, những lĩnh
vực then chốt. Tạo điều kiện cho các doanh nghiệp này mở
rộng quy mô sản xuất, đổi mới công nghệ, nâng cao năng lực
sản xuất kinh doanh, năng lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị
trờng. Một phần tài sản của Nhà nớc đợc đầu t trở lại để phát
triển các doanh nghiệp CPH, từ đó làm cho vốn của Nhà nớc đ-
17
ợc luân chuyển từ nơi hiệu quả thấp đến nơi có hiệu quả cao,
tạo ra động lực cho DNNN phát triển. Khi doanh nghiệp làm ăn
có hiệu quả, lợi nhuận doanh nghiệp tăng, có điều kiện thực
hiện tốt hơn nghĩa vụ đối với Nhà nớc, tăng ngân sách Nhà nớc,
góp phần tăng cờng tiềm lực kinh tế đất nớc.
Thứ sáu, Hình thành phơng thức quản lý hiệu quả cho
Thứ bảy, phát triển của thị trờng chứng khoán.
Thị trờng chứng khoán là biểu hiện của sự phát triển ở
mức độ cao của KTTT. Thị trờng chứng khoán hình thành từ
nhu cầu mua bán, trao đổi cổ phiếu do các công ty cổ phần
phát hành. Chính công ty cổ phần là nơi cung ứng các sản
phẩm cho thị trờng chứng khoán. Cổ phần hoá DNNN về mặt
lý thuyết sẽ là điều kiện, tiền đề của sự hình thành và phát
triển thị trờng chứng khoán. Thị trờng chứng khoán phụ thuộc
chủ yếu vào việc trên thị trờng có chứng khoán để giao dịch
hay không. Với sự xuất hiện của những công ty cổ phần, hàng
hoá chứng khoán trên trung tâm giao dịch chứng khoán sẽ
nhiều hơn, chất lợng hơn, ảnh hởng của thị trờng vốn quan
trọng này đối với nền kinh tế sẽ ngày càng rõ nét hơn.
Sự hoạt động hiệu quả của thị trờng chứng khoán sẽ dễ
dàng thu hút các nguồn vốn trong xã hội cho phát triển kinh tế.
Nguồn lực này còn đợc mở rộng đáng kể khi Nhà nớc cho phép
tổ chức, cá nhân nớc ngoài đợc mua cổ phiếu của DNNN cổ
phần hoá. Trong điều kiện nớc ta hiện nay, việc đẩy nhanh
19
CPH sẽ gắn chặt với việc phát triển thị trờng chứng khoán. Thị
trờng chứng khoán phát triển đến mức độ nhất định và hoạt
động có hiệu quả sẽ tác động tích cực đến cổ phần hoá
DNNN. Cổ phần hoá DNNN đợc tiến hành tốt sẽ làm cho không
chỉ thị trờng chứng khoán phát triển sôi động hơn mà còn góp
phần thúc đẩy hệ thống thị trờng ngày càng phát triển đồng
bộ phù hợp với cơ chế thị trờng hiện nay.
Những vấn đề trình bày trên khảng định, cổ phần hoá
ý tởng về cổ phần hoá DNNN của Đảng đợc hình thành
khá sớm ngay từ Đại hội đại biểu Đảng toàn quốc lần thứ VI
(12/1986), với đờng lối đổi mới toàn diện nền kinh tế đất nớc.
Tại Hội nghị Trung ơng 3 (khoá VI) về đổi mới cơ chế quản lý
kinh tế đã nêu: Nếu không đủ điều kiện để củng cố và không
cần thiết duy trì hình thức quốc doanh thì chuyển sang
hình thức sở hữu khác (kể cả cho tập thể, t nhân thuê), hoặc
giải thể, trớc hết là những xí nghiệp sản xuất hàng tiêu dùng
không thuộc loại thiết yếu, xí nghiệp dịch vụ trang bị kỹ thuật
thấp, bị thua lỗ thờng xuyên. Trong quyết định số 21/HĐBT
ngày 14/7/1987 của Hội đồng Bộ trởng (nay là Chính phủ), về
đổi mới kế hoạch và hạch toán kinh doanh XHCN, đảm bảo
quyền tự chủ đối với xí nghiệp quốc doanh, đã đề cập tới việc
thí điểm tiến hành cổ phần hoá DNNN và giao cho Bộ Tài
chính chủ trì. Tuy nhiên, do điều kiện thị trờng cha phát
triển, đồng thời do tồn tại quá lâu trong cơ chế cũ nên từ Trung
ơng tới cơ sở đều cha hiểu hết vấn đề phức tạp này, từ đó cha có sự thống nhất về quan điểm. Đến nay ở nớc ta CPH vẫn là
21
vấn đề mới đối với thực tiễn quản lý DNNN. Đầu năm 1990, trên
cơ sở đánh giá kết quả sau 5 năm thực hiện đờng lối đổi mới,
Hội đồng Bộ trởng đã ban hành quyết định số 143/HĐBT ngày
10/5/1990 về chủ trơng nghiên cứu và làm thử mô hình
chuyển xí nghiệp quốc doanh sang công ty cổ phần. Tuy vậy,
cho đến năm 1992 cả nớc vẫn cha triển khai CPH đợc một
doanh nghiệp nào. Đến Đại hội VII, Đảng ta tiếp tục khẳng
định: khẩn trơng sắp xếp lại và đổi mới quản lý kinh tế quốc
doanh. Cho thuê, chuyển hình thức sở hữu hoặc giải thể các
DNNN, tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII), Đảng ta chủ trơng:
Để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo nên động lực, ngăn chặn
tiêu cực, thúc đẩy DNNN làm ăn có hiệu quả, cần thực hiện các
hình thức CPH có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản
xuất - kinh doanh; trong đó, sở hữu nhà nớc chiếm tỉ lệ cổ
phần chi phối. Mặc dù quan điểm của Đảng về cổ phần hoá
DNNN đã đợc nêu khá rõ ràng, song cho tới tháng 4/1996, cả nớc
chỉ có 5 DNNN chuyển thành công ty cổ phần (2/61 tỉnh,
thành phố và 3/7 bộ có DNNN cổ phần hoá). Cả 5 doanh nghiệp
này đều là những doanh nghiệp có quy mô vừa và nhỏ, chủ
yếu sản xuất hàng hoá và dịch vụ trong những lĩnh vực không
quan trọng, kinh doanh có lãi. Nh vậy, quá trình thí điểm cổ
phần hoá DNNN ở nớc ta diễn ra quá chậm và nhiều khó khăn.
Trớc những khó khăn của việc thí điểm cổ phần hoá
DNNN, tại Hội nghị giữa nhiệm kỳ (khoá VII, tháng 1 năm 1994)
Đảng ta đã chỉ ra rằng: "Để thu hút thêm các nguồn vốn, tạo nên
23
động lực, ngăn chặn tiêu cực, thúc đẩy doanh nghiệp nhà nớc
làm ăn có hiệu quả, cần thực hiện các hình thức cổ phần hóa
có mức độ phù hợp với tính chất và lĩnh vực sản xuất - kinh
doanh; trong đó sở hữu nhà nớc chiếm tỷ lệ cổ phần chi phối".
Theo đó, Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ đã chủ trơng: "áp dụng từng bớc vững chắc phơng thức bán một tỷ lệ
cổ phần cho công nhân viên chức trực tiếp làm việc tại doanh
nghiệp; thực hiện chia lợi nhuận theo lơng cơ bản kết hợp với
chia theo cổ phần. Thí điểm việc bán một phần cổ phần, cổ
phiếu của một số doanh nghiệp nhà nớc cho các tổ chức và cá
nhân ngoài doanh nghiệp. Trên cơ sở cổ phần hóa, tổ chức
10 năm đổi mới. Song xã hội hóa không đồng nghĩa với phi nhà
nớc hóa và càng không phải t hữu hóa. Phơng châm cơ bản ở
đây vẫn là Nhà nớc và nhân dân cùng làm; trong đó Nhà nớc có
vai trò nòng cốt, thực hiện quản lý nhà nớc, tổ chức cho nhân
dân và trong điều kiện cụ thể tham gia cùng làm với dân; không
làm thay dân, cũng không khoán trắng".
Đại hội IX (tháng 4 năm 2001) đã yêu cầu "Trong 5 năm tới
cơ bản hoàn thành việc củng cố, sắp xếp, điều chỉnh cơ
cấu, đổi mới và nâng cao hiệu quả các doanh nghiệp nhà nớc
hiện có, đồng thời phát triển thêm doanh nghiệp mà Nhà nớc
đầu t 100% vốn hoặc có cổ phần chi phối ở một số ngành,
lĩnh vực then chốt và địa bàn quan trọng. Thực hiện tốt chủ
trơng cổ phần hóa và đa dạng hóa sở hữu đối với những
doanh nghiệp mà Nhà nớc không cần nắm 100% vốn. Tiếp tục
25
đổi mới cơ chế, chính sách đối với doanh nghiệp nhà nớc để
tạo động lực phát triển và nâng cao hiệu quả".
Hội nghị Trung ơng 3 khóa IX (tháng 9 năm 2001) đã ra
Nghị quyết "Về tiếp tục sắp xếp, đổi mới, phát triển và nâng
cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc", coi đó là "nhiệm vụ cấp
bách và cũng là nhiệm vụ chiến lợc, lâu dài với nhiều khó khăn,
phức tạp, mới mẻ". Hội nghị chủ trơng "đẩy mạnh cổ phần hóa
những doanh nghiệp nhà nớc mà Nhà nớc không cần giữ 100%
vốn, xem đó là khâu quan trọng để tạo chuyển biến cơ bản
trong việc nâng cao hiệu quả doanh nghiệp nhà nớc". Đặc biệt,
Hội nghị đã có những định hớng quan trọng: chỉ ra những lĩnh
vực mà Nhà nớc vẫn giữ 100% vốn, những lĩnh vực mà Nhà nớc