thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước hiện nay - Pdf 13

Lời nói đầu.
Sau đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (Tháng 12/1986), cơ cấu nền kinh
tế nớc ta từng bớc chuyển sang nền kinh tế thị trờng theo định hớng xã hội chủ
nghĩa. Trong khi đó, khu vực kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nhng lại hoạt động kém hiệu quả đã kìm hãm sự phát triển nền kinh tế
đất nớc.
Trong cơ chế quản lý mới, hiệu quả sản xuất kinh doanh trở thành yếu tố
sống còn của các doanh nghiệp Nhà nớc thì các doanh nghiệp lại lâm vào tình
trạng khủng hoảng. Biểu hiện rõ nhất là thiếu vốn và phơng thức quản lý vốn
kém hiệu quả. Để thoát khỏi sự khủng hoảng và tồn tại trong môi trờng cạnh
tranh với các thành phần kinh tế khác doanh nghiệp nhà nớc buộc phải thay đổi
phơng thức quản lý vốn và tạo vốn trên cơ sở phát huy tối đa hiệu quả nguồn vốn
huy động đợc
Việc giải quyết hai vấn đề trên thực chất là để tìm ra một mô hình tổ chức
doanh nghiệp khác có khả năng thu hút vốn và quản lý vốn thích hợp với cơ chế
thị trờng.
Công ty cổ phần là mô hình doanh nghiệp đáp ứng các yêu cầu về tạo vốn
và quản lý vốn hiệu quả trong cơ chế thị trờng. Đảng và nhà nớc ta hết sức chú
trọng mô hình này, coi đó là biện pháp nâng cao hiệu quả kinh tế của các doanh
Nghiệp nhà nớc hiện nay.
Để thực hiện chủ trơng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, Chính phủ và
các bộ, ngành hữu quan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật để hớng dẫn và chỉ
đạo việc cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc, qua đó từng bớc xây dựng hoàn
chỉnh một khung pháp luật về vấn đề này.
Tuy đã đạt đợc những kết quả đáng khích lệ nhng đến nay tốc độ triển khai
cổ phần hoá vẫn rất chậm là do nhiều nguyên nhân khác nhau. Trong bài khoá
luận này, em xin đề cập đến những vấn đề về cổ phần hoá doanh nghiệp Nhà nớc
và đề xuất một số giải pháp để đẩy nhanh tốc độ cổ phần hoá.
Kết cấu của khoá luận gồm ba chơng:
Chơng I: Một số nhận thức chung về cổ phần hoá doanh nghiệp nhà n-
ớc ở nớc ta.

nhiệm vụ công ích.
Những đề xuất trên, ta có thể thấy rằng vấn đề đầu t vốn của nhà nớc vào
các donh nghiệp nhà nớc cũng cần phải xem xét. Vấn đề này làm xuất hiện
những ý kiến cho rằng:
Thứ nhất: có cần thiết phải đầu t 100% vốn vào các doanh nghiệp nhà nớc
hay không? vì trong điều kiện nền kinh tế nớc ta hiện nay nhà nớc rất khó khăn
về vốn, đặc biệt cho lĩnh vực đầu t phát triển nên không thể trải đều vốn ngân
sách cho tất cả các doanh nghiệp nhà nớc.
Thứ hai: doanh nghiệp nhà nớc không chỉ có doanh nghiệp 100% vốn đầu
t của nhà nớc mà còn cả những doanh nghiệp có cổ phần chi phối của nhà nớc. ý
kiến này đựơc đa vào luật doanh nghiệp nhà nớc bởi khi tìm hiểu về tỷ trọng vốn
nhà nớc trong các doanh nghiêp nhà nớc trên thế giới thì cũng có ý kiến nh vậy.
ở nớc ta, ngân sách nhà nớc rất eo hẹp nên việc đầu t toàn bộ vốn sản xuất
kinh doanh cho tất cả các doanh nghiệp nhà nớc là không thể. Do đó, doanh
nghiệp nhà nớc cần phải huy động thêm vốn vào các thành phần nền kinh tế
khác, nhà nớc chỉ cần nắm cổ phần chi phối, cổ phần đặc biệt hay thậm chí
không cần đầu t vốn. Với mô hình công ty cổ phần nhà nớc vẫn có quyền quyết
định hoạt động của các doanh nghiệp có cổ phần chi phối hay cổ phần đặc biệt
trong khi đó vẫn thu hút vốn đầu t từ các thành phần kinh tế khác.
Nh vậy chúng ta có thể hình dung doanh nghiệp nhà nớc không chỉ có một
loại, hoạt động ở những lĩnh vực với những phạm vi và mục tiêu khác nhau. Để
nâng cao hoạt động của các donh nghiệp nhà nớc cũng nh để thiết lập cơ chế
quản lý phù hợp, chúng ta cần tìm hiểu thế nào là công ty cổ phần
2.Khái niệm về công ty cổ phần
Công ty cổ phần, về bản chất nó thể hiện là một đơn vị sản xuất kinh doanh
có t cách pháp nhân, chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty bằng tài sản
của công ty, hình thành và hoạt động trên cơ sở nguồn vốn đóng góp của các cá
nhân và pháp nhân đồng ý cùng tham gia kinh doanh. Họ đợc gọi là cổ đông.
3
Công ty cổ phần là công ty có ít nhất 3 thành viên trong suốt quá trình hoạt

chủ yếu bằng quan hệ cung cầu trên thị trờng. Động lực phát triển của nền kinh
tế thị trờng là lợi ích cá nhân, thông qua lợi nhuận của ngời sản xuất và lợi ích
của ngời tiêu dùng.
Trong nền kinh tế thị trờng, cơ chế thị trờng vận động một cách tự phát và
các quan hệ thị trờng điều tiết mọi hành vi kinh tế, hiệu quả của nền kinh tế cũng
nh xu hớng phát triển của nó. Nền kinh tế thị trờng với đặc trng là sự cạnh tranh
khắc nghiệt đã buộc các nhà sản xuất phải luôn tìm cách tích tụ vốn nhằm tái sản
4
xuất cả về chiều rộng lẫn chiều sâu nếu muốn tránh nguy cơ phá sản và để đảm
bảo thị phần của mình trên thị trờng.
Mặt khác lực lợng sản xuất phát triển làm cho trình độ kĩ thuật sản xuất
tăng lên, quy mô sản xuất cũ không còn phù hợp trong điều kiện mới. Cùng với
sự tác động của quản lý cạnh tranh tự do để có thể sản xuất trong điều kiện bình
thờng đòi hỏi phải có một lợng t bản tối thiểu. Trong điều kiện sản xuất phát
triển cạnh tranh ngày càng gay gắt thì một nhà t bản bình thờng không đủ khả
năng đáp ứng đủ về vốn cho kinh doanh. Để có thể khắc phục đợc điều này các
nhà t bản vừa và nhỏ phải thoả hiệp liên kết với nhau hình thành một sức mạnh
về vốn nhằm đủ sức cạnh tranh trên thị trờng. Hơn nữa để có thể nắm bắt nhanh
chóng các cơ hội kinh doanh, tối đa hoá lợi nhuận các nhà t bản hình thành nên
công ty cổ phần nhằm thu hút đợc nguồn vốn kinh doanh từ mọi thành phần
trong xã hội.
Thuộc tính vốn có của nền sản xuất hàng hoá là rủi ro, mạo hiểm. Trong
nền kinh tế thị trờng sản xuất ngày càng phát triển, trình độ kĩ thuật công nghệ
ngày càng cao, quy mô sản xuất ngày càng rộng dẫn đến sự cạnh tranh khắc
nghiệt thì mức độ rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngày càng lớn. Công ty cổ
phần là hình thức thích hợp nhất để phân tán rủi ro đến mức độ cao nhất, từ đó
các nhà t bản có thể đầu t vốn vào các nghành nghề khác nhau và đang mang lại
lợi ích cho toàn xã hội.
Sự xuất hiện của công ty cổ phần là một bớc ngoặt cho lực lợng sản xuất
phù hợp với tính chất xã hội hoá càng cao của quan hệ sản xuất. Công ty cổ phần

ty tơng ứng với phần vốn góp vào công ty. Do đó, trách nhiệm của ngời lao động
đối với các hoạt động của công ty sẽ cao hơn khi họ có cổ phần trong công ty vì
họ phải bảo toàn và phát triển vốn đầu t của họ. Kết quả hoạt động của công ty
gắn liền với lợi ích của họ.
Việc tách quyền sở hữu và quyền kinh doanh tạo cho nhà kinh doanh có
những quyền hạn và lợi ích nhất định để tự mình đa ra những phơng án sản xuất
kinh doanh năng động có hiệu quả nhất.
Hội đồng quản trị với t cách là bộ máy quản lý công ty và trực tiếp bầu ra
giám đốc nhng hội đồng quản trị không trực tiếp can thiệp vào các hoạt động sản
xuất kinh doanh cụ thể mà chỉ quyết định những vấn đề có tính chất chiến lợc
lâu dài còn giám đốc có quyền tự chủ lớn trong kinh doanh để nâng cao hiệu quả
sử dụng đồng vốn.
*Công ty cổ phần là một hình thức tổ chức kinh doanh có tính dân chủ cao.
Trong công ty cổ phần, số lợng các cổ đông thờng rất lớn; ít nhất cũng có 3
thành viên và nhiều nhất đến hàng triệu cổ đông. Cơ cấu tổ chức của công ty vừa
đảm bảo vai trò chủ sở hữu, vừa đảm bảo cho công ty cổ phần hoạt động hiệu
quả. công ty cổ phần có thể thu hút sự tham gia của số đông quần chúng nên nó
trở thành tổ chức kinh tế mang tính xã hội cao và thể hiện tính dân chủ trong
quản lý kinh tế. Xét về phơng diện cá nhân thì sự góp vốn của ngời lao động
trong công ty cổ phần có thể tạo cho họ tiếng nói nhất định đối với những hoạt
động của công ty.
Hoạt động của công ty cổ phần mang tính công khai cao đặc biệt trớc toàn
thể cổ đông với t cách là chủ sở hữu. Do đó, nó tạo điều kiện cho các cổ đông có
sự hiểu biết nhất định để kiểm tra tình hình hoạt động của công ty nh chiến lợc
kinh doanh, chính sách phân phối lợi nhuận công khai trở thành những nội
dung quan trọng thể hiện tính dân chủ trong quản lý.
*Công ty cổ phần có khả năng thống nhất các lực lợng kinh tế khác nhau
6
Với mục đích đầu t kinh doanh nhằm thu hút lợi nhuận mà các lực lợng
kinh tế tìm đến với nhau, thống nhất lực lợng tiền vốn của mỗi cá nhân thành

-Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã
góp vào công ty.
-Cổ đông có quyền tự do chuyển nhợng cổ phần của mình cho ngời khác.
-Cổ đông có thể là tổ chức, các nhân, số lợng cổ đông ít nhất là ba và không
hạn chế số lợng tối đa.
7
-Hình thức công ty cổ phần : Là hình thức kinh doanh chung vốn nhng việc
huy động vốn không phải chủ yếu là qua vay mợn hoặc góp vốn trực tiếp của
nhiều ngời kinh doanh. Có thể nói hình thức của công ty cổ phần là phát minh
quan trong nhất trong lịch sử phát triển các hình thức tổ chức doanh nghiệp.
Chính vì vậy, chủ nghĩa t bản đã lợi dụng công ty cổ phần với những biến đổi và
thích nghi nhanh nhất với cơ chế thị trờng, với việc áp dụng khoa học kĩ
thuật Để đứng vững và nhanh chóng phục hồi sau cuộc khủng hoảng.
*Đặc điểm công ty cổ phần trong hoạt động kinh doanh.
-Về mặt pháp lý công ty cổ phần có bốn đặc trng sau:
Trách nhiệm pháp lý hữu hạn: Các cổ đông chỉ có trách nhiệm tài chính với
công ty trong giới hạn cổ phần mà họ đóng góp. Nếu công ty bị phá sản hay giải
thể, chủ nợ của công ty chỉ có thể đòi nợ trên cơ sở số tài sảncủa công ty chứ
không có quyền đòi nợ trực tiếp các cổ đông.
Tính có thể chuyển nh ợng cổ phiếu: Nói chung các cổ phiếu có thể tự do
mua bán, khi ngời ta có tiền nhàn rỗi họ có thể mua cổ phiếu để huy động kiếm
lợi cổ tức. Nhng khi họ cần tiền họ không thể bắt công ty hoàn lại vốn mua cổ
phiếu, song họ có thể bán cổ phiếu cho một ngời khác trên thị trờng chứng
khoán.
T cách pháp nhân: Mọi công ty cổ phần đều có t cách pháp nhân, nó đăng
ký hoạt động, có con dấu riêng, có quyền ký kết các hợp đồng sản xuất kinh
doanh với các đơn vị khác. Công ty có quyền đi kiện hoặc bị kiện (Nếu vi phạm
pháp luật), công ty đợc trao đổi ở thị trờng chứng khoán, trên thị trờng công ty
có thể công khai phát cổ phiếu và có thể chuyển nhợng tự do trên thị trờng chứng
khoán.

sở hữu trên các phơng diện sau:
*Thu lợi tức cổ phần trên cơ sở hoạt động của công ty.
Tham gia đại hội cổ đông quyết định những vấn đề chiến lợc của công ty
nh thông qua điều lệ phơng án phát triển quyết toán tài chính, bầu và ứng cử vào
các cơ quan lãnh đạo.Không trực tiếp rút vốn, nhng đợc phép chuyển nhợng
quyền sở hữu của mình thông qua việc mua bán cổ phiếu. Hoạt động của công ty
không bị ảnh hởng của quá trình chuyển nhợng quyền sở hữu.
*Ưu điểm của công ty cổ phần về mặt sở hữu nh sau:
Nó tạo ra cơ chế giải phóng hầu hết các chủ sở hữu khỏi nhiệm vụ quản lý
và sử dụng vốn, chức năng đó đợc giao cho các nhà quản lý chuyên nghiệp. Điều
đó một mặt làm cho các chủ sở hữu yên tâm về quyền lợi, mặt khác giúp cho
đồng vốn đợc sử dụng có hiệu quả cao.
Nó là giải pháp hạn chế độc quyền rất hữu hiệu, với số lợng cổ đông đông
đảo và lợng vốn rất lớn làm cho khả năng chi phối của một vài cá nhân giảm đi
rất nhiều chỉ có nhà nớc mới có khả năng thực hiện sự chi phối này nếu xét thấy
cần thiết.
-Về mặt sở hữu: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, giám đốc điều hành là
tổ chức làm đại diện cho quyền sở hữu của các cổ động có nghĩa vụ trực tiếp
quản lý công ty.
9
*Đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát
Sơ đồ mô tả hệ thống tổ chức của công ty cổ phần:
-Đại hội cổ đông: Gồm tất cả các cổ đông có quyền biểu quyết, là cơ quan
quyết định cao nhất của công ty cổ phần . đại hội thờng kỳ thiệu tập vào cuối
năm tài chính(ít nhất mỗi năm một lần) để giải quyết các công việc thuộc hoạt
động sản xuất kinh doanh trong khuôn khổ điều lệ nh:
Quyết định loại cổ phần và tổng số cổ phần dợc quyền chào bán từng loại,
quyết định mức cổ tức hàng năm của từng loại cổ phần.
Bầu, bãi nhiệm, miễn nhiệm thành viên Hội đông quản trị, thành viên ban
kiểm soát.

Đề nghị tăng vốn điều lệ và chia tổ chức.
ấn định việc trích lập các quỹ của công ty theo điều lệ.
Quyết định các vấn đề liên quan đến bộ máy tổ chức của công ty theo nghị
quyết của đại hội cổ đông. Chủ tịch hội đồng quản trị là ngời đứng đầu Hội đồng
quản trị có thể kiêm tổng giám đốc công ty và do Hội đồng quản trị bầu ra. Chủ
tịch hội đồng quản trị là ngời chịu trách nhiệm chính trong việc tổ chức điều
hành thực hiện những nghị quyết, quyết định của đại hội cổ đông, đồng thời
chịu trách nhiệm trớc các cổ đông về kết quả hoạt động sản xuất công ty. Chủ
tịch hội đồng quản trị cũng là ngời chịu trách nhiệm cuối cùng về các quyết định
của hội đông quản trị.
-Ban kiểm soát: công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có ban kiểm soát
gồm 3 đến 5 thành viên do đại hội cổ đông bầu ra. Trong đó ít nhất một thành
viên có chuyên môn về kế toán và tất cả các kiểm soát viên không phải là thành
viên trong hội đồng quản trị cũng không phải là thân nhân của Hội đồng quản trị
và giám đốc. Ban kiểm soát bầu một thành viên làm trởng ban, Trởng ban kiểm
soát phải là cổ đông, quyền và nghĩa vụ của trởng ban do điều lệ công ty quy
định.
Ban kiểm soát có những quyền hạn và nghĩa vụ sau đây:
Kiểm tra các sổ sách chứng từ và tài sản của công ty.
Báo cáo trớc đại hội cổ đông về các sự kiện tài chính bất thờng sảy ra,
những u, khuyết điểm trong quá trình quản lý tài chính của Hội đồng quản trị.
-Giám đốc: Là ngời ngời điều hành hoạt động hàng ngày của công ty và
chịu trách nhiệm trớc Hội đồng quản trị về quyền và nhiệm vụ đợc giao. Ngoại
trừ giám đốc kiêm luôn chức vụ chủ tịch hội đồng quản trị còn lại giám đốc có
thể thuê ngoài. Do đó, giám đốc không làm theo nhiệm kỳ mà làm theo hợp
đồng ký kết với chủ tịch hội đồng quản trị.
11
Quyền và nhiệm vụ của giám đốc là kiến nghị lên chủ tịch Hội đồng quản
trị và đại hội cổ đông, nhiệm vụ phát triển công ty và dự án kế hoạch hàng năm
của công ty. Trên cơ sở những kế hoạch và nhiệm vụ do đại hội cổ đông và Hội

điểm kéo dài, kết quả còn rất hạn chế. Trong bốn năm mới cổ phần hoá đợc 5
doanh nghiệp gồm 3 doanh nghiệp trung ơng và 2 doanh nghiệp địa phơng. Tất
cả các doanh nghiệp cổ phần này đều có quy mô nhỏ, có những lợi thế nhất định
trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Tuy kết quả của giai đoạn thí điểm còn ít
nhng rút ra nhiều kinh nghiệm quý báu cho việc xây dựng chế độ chính sách chỉ
đạo thực hiện công tác cổ phần hoá trong giai đoạn sau này.
12
B. giai đoạn đầu của thời kỳ mở rộng công tác cổ phần hoá(từ tháng 5/1996
đến tháng 5/1998)
Giai đoạn này đợc đánh dấu bằng việc chính phủ ban hành nghị định 28/CP
lần đầu tiên quy định một cách hệ thống từ mục đích yêu cầu, đối tợng đến ph-
ơng thức tiến hành, chế độ đối với doanh nghiệp và ngời lao động trong doanh
nghiệp cổ phần hoá, các văn bản hớng dẫn của các nghành chức năng nh bộ tài
chính, bộ lao động cũng đầy đủ hơn. Vì vậy, tốc độ cổ phần hoá nhanh hơn,
trong hai năm cổ phần hoá đợc 25 doanh nghiệp gấp năm lần giai đoạn thí điểm,
diện cổ phần hoá cũng rộng hơn, có ba bộ và chín tỉnh, thành phố có doanh
nghiệp cổ phần hoá. Quy mô doanh nghiệp cổ phần hoá cũng lớn hơn với một
doanh nghiệp có vốn trên 120 tỷ đồng, 5 doanh nghiệp có vốn từ 10 tỷ đồng trở
lên. Tuy nhiên so với yêu cầu thì tốc độ cổ phần hoá còn chậm.
C. Giai đoạn từ tháng 7/1998 đến nay.
Nhằm đẩy nhanh quá trình cổ phần hoá, rút kinh nghiệm từ giai đoạn đầu
mở rộng diện cổ phần hoá, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 44/CP ngày
29/06/1998 về vấn đề cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc thay thế cho các nghị
định trớc đây, cùng với chỉ thị sắp xếp lại doanh nghiệp nhà nớc của Thủ tớng
Chính phủ. Nghị định này đã quy định rõ loại doanh nghiệp giữ nguyên quyền
sở hở hữu 100% vốn nh: doanh nghiệp hoạt động công ích, doanh nghiệp có vị
trí trọng yếu trong công việc phát huy vai trò chủ đạo, doanh nghiệp nhà nớc cần
độc quyền. Mở rộng hơn các chế độ cho công tác cổ phần hoá , đã xác định rõ và
giảm phần đặc biệt cổ phần chi phối, không hạn chế quy mô doanh nghiệp cổ
phần hoá , phân cấp nhiều hơn thẩm quyền quyết định cổ phần hoá. Thủ tớng

thống doanh nghiệp nhà nớc, khắc phục tình trạng yếu kém, hoạt động không có
hiệu quả của doanh nghiệp. Ngay sau đó, Thủ tớng chính phủ đã ban hành Nghị
quyết số 183/2001/QĐ-TTg ngày 20/11/2001 về chơng trình hành động của
Chính phủ thực hiện nghị quyết hội nghị lần thứ ba BCH Trung ơng Đảng, khoá
IX. Mục tiêu của chơng trình hành động là tổ chức hoạt động thắng lợi Nghị
quyết của trung ơng: tiếp tục đổi, phát triển và mới nâng cao hiệu quả doanh
nghiệp nhà nớc, để doanh nghiệp nhà nớc góp phần quan trọng bảo đảm các sản
phẩm, dịch vụ công ích thiết yếu của xã hội và nhu cầu cần thiết của quốc
phòng, an ninh, là lực lợng lòng cốt đẩy nhanh tăng trởng kinh tế và tạo nền tảng
cho sự nghiệp công nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc.
2.Luật doanh nghiệp
Luật doanh nghiệp đã đợc Quốc hội nớc cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt
Nam khoá X kỳ họp thứ 5 thông qua ngày 12/06/1999. Đây là cơ sở pháp lý
quan trọng để nhà nớc quản lý, khuyến khích phát triền các thành phần kinh tế
và hình thành tổ chức kinh doanh nhằm giải phóng sức lao động, động viên tối
đa mọi mguồn lực trong nhân dân và toàn xã hội phục vụ cho công cuộc công
nghiệp hoá hiện đại hoá đất nớc, nâng cao hiệu quả kinh tế xã hội, cải thiện đời
sống cho nhân dân.
Trong nền kinh tế thị trờng, có rất nhiều phơng pháp và cách thức tổ chức
hoạt động kinh doanh. Nhà nớc cho phép và bảo hộ cho các loại hình tổ chức
kinh doanh nào hoạt động là tuỳ thuộc vào định hớng phát triển kinh tế xã hội,
cũng nh các điều kiện khác của đất nớc. Trong bài viết này em xin đề cập đến
một vài khía cạnh về công ty cổ phần trong luật doanh nghiệp.
Công ty cổ phần là loại hình công ty đối vốn. Đặc điểm quan trọng của
công ty đối vốn la sự phân định rõ ràng tài sản của công ty và tài sản của cá nhân
(thành viên công ty). Thành viên của công ty đối vốn chỉ chịu trách nhiệm về
khoản nợ của công ty trong phạm vi phần vốn họ góp vào công ty. Việc thành lập
công ty là dựa trên yếu tố vốn góp, nên thành viên của công ty đối vốn là rất
14
đông. Về mặt lý thuyết thì cả những ngời không hiểu biết về kinh doanh cũng

doanh. Từ doanh nghiệp nhỏ sản xuất một hoặc một số sản phẩm đơn lẻ thuộc sở
hữu của hàng ngàn cổ đông, kinh doanh trên lĩnh vực nghành hàng và có thể vợt
ra ngoài phạm vi quốc gia.
Luật doanh nghiệp quy định cổ đông có quyền tự do chuyền đổi cổ phần
của mình cho ngời khác nh một loại tài sản (trừ cổ phần u đãi không đợc chuyển
đổi, cổ phần phổ thông của cổ đông sáng lập bị hạn chế chuyển đổi trong thời
hạn 3 năm). Tạo điều kiện cho các cổ đông quyền tự do mua bán hay tuỳ nghi sử
dụng vốn của mình trong công ty mà không cần sự đồng ý của cổ đông khác.
15
Điều này làm tăng thêm sự hấp dẫn đối với các nhà đầu t, cũng nh tạo điều kiện
cho công ty cổ phần khắc phục khó khăn về tài chính trong việc mở rộng nhu
cầu kinh doanh, đa dạng hoá sản phẩm. Tuy nhiên để phát huy tối đa sức mạnh
của lợi thế này đòi hỏi phải có một thị trờng chứng khoán đủ mạnh, cơ chế quản
lý linh hoạt và hệ thống pháp luật phù hợp với tiến trình kinh tế -xã hội
Nói chung không một loại hình tổ chức kinh doanh nào mà chỉ có u điểm
mà không có nhợc điểm. Nhợc điểm chung của công ty cổ phần (xét trên góc độ
chủ đầu t) là khó trốn thuế để hởng siêu lợi nhuận và đa số các cổ đông chỉ quan
tâm đến việc thu lợi tức cổ phần cao hơn mức bình thờng mà không quan tâm gì
đến hoạt động của công ty. Đó chính là điều kiện tạo cho cổ đông đa số và ngời
quản lý lạm dụng quyền hạn trong quản lý điều hành để hởng lợi tức cao.
Có lẽ không đúng và không chính xác khi đánh giá loại hình tổ chức kinh
doanh nào là hơn, bởi vì một trong những yếu tố quan trọng nhất của kinh doanh
là chấp nhận rủi ro cao hơn và có phần mạo hiểm để lựa chọn loại hình kinh
doanh nào cho phù hợp.
3.Phơng hớng và nhiệm vụ của Đảng và Nhà nớc ta đối với công tác cổ phần
hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Để thực hiện tốt chủ trơng của Đảng và chính phủ về cổ phần hoá doanh
nghiệp nhà nớc trong giai đoạn 2002-2005 chính phủ đang tập chung chỉ đạo và
giao nhiệm vụ cho các Bộ, nghành trung ơng sửa đổi, bổ sung các cơ chế, chính
sách đã ban hành, đồng thời đề nghị Quốc hội, Uỷ ban thờng vụ Quốc hội sử đổi

cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc. Phối hợp với các bộ tiếp tục hoàn thiện các
văn bản pháp luật về cổ phần hoá doanh nghiệp cũng nh các chính sách về
khoán, bán, cho thuê doanh nghiệp nhà nớc cho tập thể ngời lao động.
Phối hợp với Bộ tài chính trình chính phủ về quyết định cổ phần hoá có bán
cổ phần cho nhà đầu t nớc ngoài, thành lập quỹ hỗ trợ đổi mới doanh nghiệp và
cổ phần hoá . Phối hợp với Bộ lao động-thơng binh xã hội, trình Chính phủ các
chính sách đối với ngời lao động dôi d trong quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp
nhà nớc.
Hợp tác với các tổ chức quốc tế nghiên cứu tìm ra các dự án nhằm nâng cao
năng lực hoạt động của ban đổi mới quản lý doanh nghiệp một số tỉnh, thành phố
và tổng công ty 91, đồng thời tranh thủ các nguồn tài trợ quốc tế hỗ trợ các
doanh nghiệp nhà nớc trong diện cổ phần hoá, giải quyết các tồn đọng về tài
chính và lao động.
Duy trì chế độ báo cáo định kỳ và đột xuất của các ban quản lý đổi mới
doanh nghiệp của các bộ địa phơng, tổng công ty 91 về tình hình thực hiện cổ
phần hoá theo hớng dẫn của uỷ ban đổi mới doanh nghiệp trung ơng, kịp thời xử
lý các vớng mắc nảy sinh trong quá trình thực hiện, các vấn đề vợt quá thẩm
quyền phải báo cáo Thủ tớng chính phủ.
17
ChơngII:
Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở
việt nam hiện nay Và Sự CầN THIếT PHảI cổ phần hoá
doanh nghiệp nhà nớc
I.Thực trạng cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc
1.Thực trạng các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta hiện nay.
Khi chuyển sang cơ chế thị trờng, các doanh nghiệp nhà nớc khônmg còn
đợc bao cấp mọi mặt nh trớc nữa, mặt khác lại bị các thành phần kinh tế khác
cạnh tranh quyết liệt,nên đã làm cho hệ thống doanh nghiệp nhà nớc thay đổi
khá rõ nét. Từ 12000 doanh nghiệp giảm xuống còn khoảng 5600 doanh nghiệp,
nhờ đổi mới về mặt tổ chức quản lý, về kĩ thuật công nghệ của các doanh nghiệp

động kém hiệu quả và phát sinh nhiều bất cập. Quá trình chuyển đổi đất nớc
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trờng có sự
quản lý của nhà nớc tất yếu phải đổi mới căn bản doanh nghiệp nhà nớc
2.Các bớc để tiến hành cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc.
Trình tự và nội dung các bớc tiến hành cổ phần hoá một doanh nghiệp nhà
nớc theo tiến độ sau:
Bớc1: Thành lập ban vận động cổ phần hoá doanh nghiệp. Ban vận động cổ
phần hoá doa uỷ ban nhân dân các tỉnh quyết định thành lập và cử giám đốc
doanh nghiệp làm trởng ban. Bao gồm: các chuyên gia kĩ thuật, cán bộ quản lý,
các chuyên gia quản lý các nghành quản lý nhà nớc(nghành chủ quản, tài chính,
ngân hàng). Ban vận động có nhiệm vụ chuẩn bị phơng án cổ phần hoá và nội
dung các bớc tiến hành cổ phần hoá xây dựng luận chứng sơ bộ về cổ phần hoá :
quy mô, loại hình sản xuất kinh doanh
Bớc 2: Phân tích và tổ chức doanh nghiệp.
Bớc này nhằm làm rõ thực trạng về các mặt những vấn đề đặt ra cần xử lý
trớc khi tiến hành cổ phần hoá
Bớc 3: Xác định giá trị doanh nghiệp.
Giá trị của doanh nghiệp là giá cả của doanh nghiệp khi bán cho chủ sở hữu
khác, vì vậy nó cũng chịu sự chi phối của thị trờng, quan điểm cung cầu tại thời
điểm cổ phần hoá và những điều kiện kèm theo do bên bán hoặc bên mua đặt ra
việc xác định giá trị doanh nghiệp tiến hành theo các bớc sau:
Xác định giá trị doanh nghiệp theo số liệu thống kiểm kê thời điểm
1/1/1996 và điều chỉnh theo hệ số tại thời điểm 1/1/1997
-Đánh giá lại giá trị tài sản và vốn trong diện cổ phần hoá
-Phân tích phơng án kinh doanh và lợi nhuận trong 10 năm tới.
-Xác định sơ bộ giá trị doanh nghiệp theo phơng án lợi nhuận nêu trên.
-Đối chiếu kết quả này với: Trị giá vốn theo sổ sách, trị giá vốn theo đánh
giá, so với vốn đầu t một doanh nghiệp mới, có công suất tơng đơng ở trong nớc
hoặc ở nớc ngoài (có tỷ lệ hao mòn tơng đơng với doanh nghiệp cổ phần hoá)
-Dự kiến trị giá doanh nghiệp và báo cáo lên hội đồng thẩm định xem xét

44/CP ngày 19/6/1998 thay thế cho Nghị định 28/CP và hệ thống các văn bản h-
ớng dẫn đã kiến tạo khuôn khổ pháp luật đầy đủ nhất cho việc cổ phần hoá, khắc
phục đợc những khuyết điểm nảy sinh trong Nghị định 28/CP đặc biệt là các vấn
đề về u đãi cho ngời lao động, xác định giá trị doanh nghiệp, thẩm quyền định
giá, thẩm quyền ra quyết định cổ phần hoá . Về cơ bản nó mang những nội dung
tích cực phù hợp với thực tiễn cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nớc ở Việt Nam. Vì
vậy năm 1999 công tác cổ phần hoá có những bớc khởi sắc nhất định cổ phần
hoá đợc 250 doanh nghiệp. Năm 2000 cổ phần hoá đợc 212 doanh nghiệp và
năm 2001 là 149 doanh nghiệp cho đến nay có khoảng 774 doanh nghiệp nhà n-
ớc trong cả nớc đợc cổ phần hoá. Trong số các doanh nghiệp nhà nớc đã cổ phần
hoá có tới 60 doanh nghiệp trớc khi cổ phần hoá kinh doanh thua lỗ. Số còn lại
khi có lãi khi lỗ, tính chung thì có lãi ở mức thấp. Nhng sau khi cổ phần hoá đã
đạt đợc.
Kết quả bớc đầu nh sau:
20
-Huy động đợc khoảng 3.000 tỉ đồng vốn ngoài xã hội vào đầu t phát triển
sản xuất kinh doanh
-Doanh thu tăng 1,4 lần
-Lợi nhuận tăng 2 lần
-Nộp ngân sách tăng 1,2 lần
-Thu nhập ngời lao động so với khi còn là doanh nghiệp nhà nớc tăng 22%
-Số lao động tăng 5,1 lần
-Vốn của ngời lao động trong công ty tăng từ 1,5 đến 2 lần so với mức mua
cổ phiếu
-Giá trị cổ phiếu tăng từ 3 đến 4 lần
-Vốn điều lệ tăng từ nguồn lợi nhuận của doanh nghiệp và phát hành thêm
cổ phiếu. Phần vốn góp nhà nớc tại các doanh nghiệp cổ phần hoá đợc xác định
lại một cách rõ ràng, minh bạch hơn, đợc đánh giá đúng hơn, nên vốn nhà nớc đã
tăng lên so với sổ sách kế toán, đồng thời cũng tăng lên sau cổ phần hoá
-Thời gian cổ phần hoá từ 7 tháng đến 9 tháng, trung bình là 27 tháng.

làm, phát triển doanh nghiệp, nâng cao sức cạnh tranh, thay đổi cơ cấu doanh
nghiệp nhà nớc. Huy động vốn và sử dụng hiệu quả các nguồn vốn là một trong
những điều kiện quan trọng hàng đầu để đẩy nhanh công nghiệp hoá hiện đại
hoá đất nớc, đó cũng là điều kiện tốt quan trọng để nâng cao khả năng cạnh
tranh, mở rộng sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Hiện nay vốn kinh
doanh đang là một trong những vấn đề nan giải của các doanh nghiệp. Việc huy
động thêm vốn từ cổ phần hoá là điều kiện xác lập ngời chủ ấy cùng với ngời đại
diện nhà nớc ở doanh nghiệp quản lý hoạt động kinh doanh một cách hữu hiệu
nhất. Hơn nữa, việc huy động vốn là phơng tiện thiết yếu để đạt tới mục tiêu
nâng cao hiệu quả kinh tế.
Tạo điều kiện chủ động và độc lập cho doanh nghiệp cổ phần hoá trong các
quan hệ tự nguyện về liên doanh, liên kết cả trong và ngoài nớc, mở ra khả năng
tự nguyện hợp tác hình thành các tập đoàn kinh tế mạnh đấp ứng với yêu cầu sản
xuất kinh doanh lớn trong nớc và đảm bảo sức mạnh cạnh tranh với các đối tác
trong nớc và trên thị trờng quốc tế. Đây cũng là tiền đề thuận lợi tiến đến công ty
cổ phần đa quốc gia.
Tạo điều kiện để ngời lao động trong doanh nghiệp có cổ phần và những
ngời đã góp vốn đợc làm chủ thực sự, thay đổi phơng thức quản lý, tạo động lực
thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả tăng cờng phát triển đất nớc nâng
cao thu nhập của ngời lao động góp phần tăng trởng kinh tế đất nớc.
Việc chuyển một số doanh nghiệp nhà nớc thành công ty cổ phần đã tách
biệt rõ ràng quyền sở hữu và quyền kinh doanh, hành vi của chính quyền và hành
vi của doanh nghiệp đợc hợp lý hoá một cách rõ nét. Sự can thiệp trực tiếp của
các chính quyền vào hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ giảm đến
mức thấp nhất. Thông qua việc mua cổ phần, ngời lao động mới có điều kiện để
thực hiện trên thực tế quyền làm chủ đích thực của mình, với t cách là cổ đông
họ tham gia cùng với các cổ đông khác quyết định chiến lợc phát triển công ty,
tham gia quản lý, phân chia lợi nhuận, sáp nhập, giải thể công ty, lựa chọn hội
đồng quản trị.
Tạo mọi điều kiện cho những ngời góp vốn và ngời lao động thực sự làm

nhà nớc làm ăn có lãi, số doanh nghiệp nhà nớc làm ăn thua lỗ là 29%, còn lại
tức là khoảng 31/% ở trạng thái không có lãi hoặc lãi không đáng kể trong điều
kiện phần lớn các doanh nghiệp này vẫn đợc nhà nớc bao cấp phần lớn vốn và
tiêu thụ sản phẩm.
Tuy số đầu doanh nghiệp nhà nớc đợc thu gọn lại ( năm 1989 là 12.089
doanh nghiệp đến năm 2001 còn 5.500 doanh nghiệp) nhng tổng số vốn do nhà
nớc cấp cho các doanh nghiệp nhà nớc lại tăng gấp đôi, song sự đóng góp của
các doanh nghiệp nhà nớc vào GDP vẫn ở mức thấp.
Tỷ trọng hao vật chất trong tổng sản phẩm xã hội của khu vực kinh tế nhà
nớc cao gấp 1,5 lần và chi phí sáng tạo ra một phần thu nhập quốc dân thờng cao
gấp 2 lần so với kinh tế t nhân.
23
Mức tiêu hao vật chất của doanh nghiệp nhà nớc trong sản xuất một đơn vị
tổng sản phẩm xã hội ở nớc ta thờng gấp 1,3 lần so với mức trung bình trên thế
giới.
Ví dụ: Sản phẩm hoá chất là 1,88 lần, sản phẩm cơ khí là 1,5 lần.
Mức tiêu hao năng lợng của các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta cũng cao
hơn mức trung bình trên thế giới.
Ví dụ: Hoá chất là 1,44 lần, than là 1,75 lần.
Chất lợng sản phẩm của doanh nghiệp thấp và không ổn định. Trung bình
khu vực kinh tế chỉ có khoảng 15% đạt tiêu chuẩn xuất khẩu; 65% đạt tiêu chuẩn
dới trung bình để tiêu dùng nội địa; 20% sản phẩm kém chất lợng. Do đó, hiện t-
ợng hàng hoá ứ đọng làm hơn 10% vốn lu động toàn xã hội không luân chuyển
thờng xuyên.
Hệ số tính lời của khu vực kinh tế nhà nớc rất thấp. Một đồng vốn trong
doanh nghiệp nhà nớc chỉ làm ra lợi nhuận trớc thuế cha đến 0,1 đồng
Hiệu qủa khai thác vốn đầu t của khu vực kinh tế nhà nớc rất thấp. Trong
những năm gần đây, một năm nhà nớc dùng hơn 70% vốn đầu t ngân sách cho
các doanh nghiệp nhà nớc, các doanh nghiệp này sử dụng lao động có trình độ
đại học, công nhân kĩ thuật lành nghề, phần lớn tín dụng ngân hàng thơng mại

Về vốn lu động: Phần lớn doanh nghiệp nhà nớc chỉ mới bảo đảm đợc 10%
so với yêu cầu tối thiểu của nhà nớc cần đầu t là 30%, nhiều doanh nghiệp nhà n-
ớc không vay đợc vốn dài hạn để đầu t chiều sâu, mở rộng mặt hàng và quy mô
sản xuất họ phải vay vốn ngắn hạn với lãi suất cao để đầu t vào sản xuất nên kém
hiệu quả, khó hoàn lại vốn và không có khả năng trả nợ khi đến hạn, từ đó lầm
vào tình trạng khó khăn về tài chính.
Về vốn cố định: Nhiều nhà kinh tế đã chứng minh sự lạc hậu về máy móc
thiết bị và dây chuyền sản xuất của các doanh nghiệp nhà nớc ở nớc ta hiện nay
là trình độ của thế giới cách đây từ 15 đến 20 năm. Mức trang bị vốn cố định cho
một ngời lao động của nớc ta rất thấp, chỉ bằng 13% của các xí nghiệp vừa và
nhỏ trong khu vực. Mức hao mòn hữu hình từ 30% đến 50% hàng năm, thậm chí
có 30% đến 38% máy móc thiết bị đang ở dạng chờ thanh lý. Trừ một số dây
chuyền hiện đại mới nhập còn phần lớn công nghệ vẫn ở trình độ thấp. Điều
đáng quan tâm là số nợ hàng ngàn chục tỷ đồng vay trong và ngoài nớc mà nghĩa
vụ trả nợ lại chủ yếu là các doanh nghiệp nhà nớc. Do tình trạng nợ nần khá phổ
biến lại dây da khó đòi nên tài chính của các doanh nghiêp rất khó lành mạnh
hoá, cản trở sự phát triển của doanh nghiệp.
Thứ ba: Cổ phần hoá nhằm nâng cao khả năng quản lý và sử dụng vốn của
các doanh nghiệp nhà nớc ngày càng hiệu quả hơn.
Xuất phát từ nhợc điểm cơ bản của các doanh nghiệp nhà nớc hiện nay hiệu
quả sử dụng vốn cha cao, cơ chế quản lý vốn cha thích ứng với cơ chế thị trờng,
nguồn vốn trong khu vực quốc doanh còn bị thất thoát và lãng phí nghiêm trọng.
Trong xây dựng cơ bản, huy động tài sản cố định chỉ đạt 40% đến 50%.
Nguyên nhân của tình trạng này là việc đầu t mất cân đối và sự sai lầm trong lựa
chọn phơng án kĩ thuật. điều này thể hiện rõ ở chỗ máy móc thiết bị, khâu quyết
định tạo ra sản phẩm và năng suất chỉ chiếm 1/4 giá trị tài sản cố định.
Tỷ trọng đồng bộ trong tổng số máy móc đa vào sử dụng thấp: ở doanh
nghiệp nhà nớc trung ơng là 24,3%; quốc doanh địa phơng là14,3%. Hệ số sinh
lời trên một đồng vốn cố định để tạo ra GDP chỉ đạt 0,6 đến 0,7 so với các nớc
tiên tiến trên thế giới. đa số các doanh nghiệp đều tìm cách giảm vốn hệ số bảo


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status