TÁC ĐỘNG CỦA VIỆC GIA NHẬP WTO TỚI PHÁP LUẬT SỞ HỮU TRÍ TUỆ VIỆT NAM
Ths. Lê Thị Nam Giang
1. Đặt vấn đề
1.1. Cam kết của Việt Nam về sở hữu trí tuệ
Khi gia nhập WTO, Chính phủ Việt Nam đưa ra bốn cam kết chính về sở hữu trí tuệ,:
Thứ nhất, Chính phủ Việt Nam cam kết sẽ tiến hành tất cả các biện pháp cần thiết nhằm tuân thủ
đầy đủ tất cả các quy định của Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu
trí tuệ từ ngày gia nhập WTO mà không viện dẫn đến bất kỳ thời hạn chuyển tiếp nào. [1]
Thứ hai, Chính phủ Việt Nam cam kết ban hành các văn bản quy phạm pháp luật phù hợp yêu
cầu các cơ quan của Chính phủ chỉ sử dụng các phần mềm máy tính hợp pháp và không vi phạm quyền
tác giả của những phần mềm này, quy định việc mua và quản lý tất cả các phần mềm do các cơ quan
Chính phủ sử dụng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy định việc các nhà cung cấp truyền hình
cáp chỉ được cung cấp các chương trình đã có phép tới khách hàng của họ. [2]
Thứ ba, ban hành văn bản pháp luật quy định tất cả các hành vi giả mạo nhãn hiệu và sao chép
lậu với quy mô thương mại đều có thể bị truy tố hình sự và các cơ quan có thẩm quyền có thể tịch thu và
tiêu hủy trong các vụ án hình sự.[3]
Thứ tư, tổ chức phát sóng sử dụng tác phẩm phát sóng, bản ghi âm, ghi hình đã công bố để thực
hiện chương trình phát sóng không phải xin phép nhưng phải trả tiền nhuận bút, thù lao cho chủ sở hữu
quyền tác giả, quyền liên quan.[4]
1.2. Hiệp định về các khía cạnh liên quan đến thương mại của quyền sở hữu trí tuệ (sau đây gọi tắt
là Hiệp định TRIPS) chính thức được ký kết vào 15/4/1994 và có hiệu lực 1/1/1995. Cho đến thời điểm
hiện nay, Hiệp định TRIPS được coi là Hiệp định đầy đủ và toàn diện nhất về sở hữu trí tuệ vì TRIPS đã
khẳng định lại các đối tượng sở hữu trí tuệ được bảo hộ bởi các điều ước quốc tế trước đó đồng thời mở
rộng sự bảo hộ đối với các đối tượng mới với những tiêu chuẩn bảo hộ tối thiểu mà các nước thành viên
phải đảm bảo trong pháp luật của mình. Mặc dù không phải là Điều ước quốc tế đầu tiên về sở hữu trí
tuệ, nhưng Hiệpđịnh TRIPS là Điều ước quốc tế đầu tiên quy định các biện pháp bảo vệ quyền sở hữu trí
tuệ và qui định một hệ thống giải quyết tranh chấp “gắn với cơ chế giải quyết tranh chấp của WTO và cơ
chế rà soát chính sách thương mại”.[5] Điều đặc biệt quan trọng là bên cạnh Hiệp định WTO, TRIPS phải
được tất cả các nước thành viên WTO tuân thủ và thi hành. Các nước thành viên WTO muốn được
hưởng những quyền lợi từ các nước thành viên khác thì trước hết phải thực hiện các nghĩa vụ của
TRIPS.[6] Chính vì vậy Hiệp định TRIPS đã tác động rất lớn đến pháp luật sở hữu trí tuệ các nước, đã
giao công nghệ. Với sự ra đời của Bộ luật dân sự chúng ta đã hoàn thành một bước cơ bản của quá
trình pháp điển hóa các quy phạm pháp luật về sở hữu trí tuệ, đưa các quy định cơ bản của pháp luật về
quyền sở hữu trí tuệ vào một văn bản pháp luật có hiệu lực cao. Các nội dung của Pháp lệnh bảo hộ
quyền sở hữu công nghiệp và Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả về cơ bản vẫn được giữ nguyên. Trong
thời điểm này chúng ta chưa có điều kiện để mở rộng sự bảo hộ đối với các đối tượng sở hữu trí tuệ
mơi. Tuy nhiên, có một số thay đổi quan trọng trong việc bảo hộ theo hướng nhằm làm cho hệ thống
pháp luật sở hữu trí tuệ của Việt Nam phù hợp hơn với các tiêu chuẩn quốc tế. Mặc dù chưa phải là
thành viên của Công ước Berne về bảo hộ tác phẩm văn học, nghệ thuật nhưng quy định về quyền tác
giả trong Bộ luật dân sự 1995 về cơ bản được xây dựng dựa trên quy định của Berne và của Hiệp định
Trips có tính đến điều kiện thực tiễn của Việt nam. Bộ luật dân sự đã quy định một cách tách bạch quyền
của tác giả đồng thời là chủ sở hữu tác phẩm, quyền của tác giả không đồng thời là chủ sở hữu tác
phẩm, quy định một cách tách bạch các quyền nhân thân và quyền tài sản của tác giả, chủ sở hữu tác
phẩm. Đối với lĩnh vực sở hữu công nghiệp, Bộ luật dân sự quy định lại tiêu chuẩn bảo hộ sáng chế, giải
pháp hữu ích, nhãn hiệu hàng hóa... Tuy nhiên, đây là lĩnh vực mới và cũng là lĩnh vực rất phức tạp, hơn
nữa với thói quen của các nhà lập pháp Việt Nam, các quy định của Bộ luật dân sự chỉ dừng lại ở mức
độ là những nguyên tắc chung, cần phải cụ thể hóa trong các văn bản dưới luật.
Chính vì vậy, ngày 29/11/1996 Chính phủ đã ban hành các Nghị định hướng dẫn thi hành các quy
định về quyền sở hữu trí tuệ trong Bộ luật dân sự.Cụ thể, trong lĩnh vực quyền tác giả, ngày 29/11/1996
Chính phủ đã ban hànhNghị định số 76/CP hướng dẫn thi hành một số quy định về quyền tác giả
trong Bộ luật dân sự. Ngày 10/5/2001 Bộ văn hóa thông tin ban hành Thông tư số 27 hướng dẫn thi
hành Nghị định trên. Trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp, ngày 24/10/1996 Chính phủ ban hành Nghị
định số 63/CP quy định chi tiết về sở hữu công nghiệp. Nghị định này một mặt cụ thể hóa các quy
định của Bộ luật dân sự về sở hữu công nghiệp, mặt khác quy định những thủ tục, trình tự hành chính
như thủ tục đăng ký quyền đối với các đối tượng sở hữu công nghiệp theo hướng đơn giản hóa tạo
thuận lợi hơn cho người nộp đơn. Ngày 31/12/1996, Bộ KHCNMT đã ban hành Thông tư số 3055/TTSHCN hướng dẫn thi hành thủ tục xác lập quyền sở hữu công nghiệp được quy định tại Bộ luật dân sự
và Nghị định 63/CP.
Để tạo cơ sở pháp lý cho việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ ngày
16/3/1999 Chính phủ ban hành Nghị định 12/CP về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực sở
hữu công nghiệp. Đây được coi là một bước phát triển đột phá trong lĩnh vực sở hữu công nghiệp vì lần
đầu tiên chúng ta đã ban hành một văn bản về xử phạt hành chính trong lĩnh vực này. Ngày 3/5/2000 Bộ
tòa án nhân dân. Đối với lĩnh vực sở hữu công nghiệp, một thông tư tương tự cũng được soạn thảo
nhưng qua rất nhiều lần dự thảo mà cuối cùng vẩn không được ban hành. Thời điểm này Pháp lệnh thủ
tục giải quyết các vụ án dân sự vẫn còn hiệu lực nhưng đã bộc lộ rất nhiều điểm bất cập, không phù hợp
với thực tiễn. Năm 2004 Bộ luật tố tụng dân sự đã được ban hành tạo cơ sở pháp lý thuận lợi hơn cho
việc giải quyết các vụ việc dân sự nói chung, các tranh chấp sở hữu trí tuệ nói riêng.
Việc bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ thông qua các chế tài hình sự đã được ghi nhận tại BLHS 1985.
Điều 126 BLHS 1985 quy định tội xâm phạm quyền tác giả, quyền sáng chế, phát minh với mức phạt là cảnh
cáo, phạt tiền đến 5 triệu đồng, cải tạo không giam giữ đến 1 năm hoặc bị phạt tù từ 3 tháng đến 1 năm. Điều
167 BLHS 1985 quy định về tội làm hàng giả, tội buôn bán hàng giả với mức phạt là phạt tù ở khung hình phạt
thấp nhất là từ 1 đến 7 năm; cao nhất là từ 12-20 năm, tù chung thân hoặc tử hình. Trước yêu cầu của Hiệp
định thương mại Việt Nam-Hoa Kỳ, của Hiệp định TRIPS về việc thực thi quyền sở hữu trí tuệ thông qua thủ
tục tố tụng hình sự, trước tình hình xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ ngày càng tăng tại Việt Nam, nhằm nâng
cao hiệu quả của việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ bằng pháp luật hình sự, BLHS năm 1999 đã dành 6 điều
để quy định các tội danh liên quan đến sở hữu trí tuệ.[11] Với Điều 170 và 171, lần đầu tiên BLHS 1999 đã quy
định các tội danh về quyền SHCN và thể hiện quan điểm mới khi quy định về hình phạt: hình phạt chính được
áp dụng là hình phạt tiền bên cạnh hình phạt tù. Tội sản xuất buôn bán hàng giả đã được tách ra thành 3 tội
danh độc lập. So sánh với Điều 167 của BLHS 1985 thì các Điều 156, 157, 158 của BLHS 1999 đã quy định
khung hình phạt cụ thể hơn, thuận lợi hơn cho việc áp dụng trên thực tế. Các hình phạt cũng được mở rộng
hơn. Bên cạnh 2 hình thức chế tài chính là phạt tiền và phạt tù còn áp dụng các hình thức phạt bổ sung như
tịch thu 1 phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định
từ 1 đến 5 năm.
Bên cạnh đó, trong thời điểm trước năm 2005, vấn đề bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ còn được quy
định trong hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật khác như: Pháp lệnh xử phạt vi phạm hành chính;
Luật thương mại 1997; Luật khuyến khích đầu tư trong nước; Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam năm
2000; Luật khoa học và công nghệ năm 2000…
Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật trên đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc bảo hộ
quyền sở hữu trí tuệ tại Việt Nam và đã làm cho hệ thống pháp luật Việt Nam đáp ứng được yêu cầu về
tính “đầy đủ” của WTO. Tuy nhiên, việc bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ được quy định trong Bộ luật dân sự
3. Kết luận
3.1. Phân tích trên cho thấy việc Việt Nam gia nhập WTO đã tác động một cách một cách sâu rộng đến
hệ thống quy phạm pháp luật sở hữu trí tuệ Việt Nam. Sự phát triển của hệ thống quy phạm pháp luật sở
hữu trí tuệ Việt Nam diễn ra trong cả một quá trình, có những bước chuyển tiếp cho phù hợp với tình
hình thực tiễn của Việt Nam. Tuy nhiên cần nhấn mạnh, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật Việt Nam
về sở hữu trí tuệ không chỉ xuất phát từ những yêu cầu của WTO mà còn xuất phát từ yêu cầu nội tại của
đất nước.
3.2. Với việc sửa đổi Bộ luật dân sự năm 2005, với việc ban hành Luật sở hữu trí tuệ năm 2005 và các
văn bản hướng dẫn thi hành, cho tới thời điểm hiện nay có thể khẳng định, pháp luật sở hữu trí tuệ Việt
Nam đã hoàn toàn đáp ứng yêu cầu về tính “đầy đủ” của WTO và tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc
đáp ứng yêu cầu của WTO về tính “hiệu quả”. Tuy nhiên, chúng ta vẫn tiếp tục phải xây dựng một số văn
bản quy phạm pháp luật trong lĩnh vực này. Nhằm thực hiện cam kết của Việt Nam, chúng ta cần ban
hành các văn bản quy định các cơ quan của Chính phủ chỉ sử dụng các phần mềm máy tính hợp pháp
và không vi phạm quyền tác giả của những phần mềm này, quy định việc mua và quản lý tất cả các phần
mềm do các cơ quan Chính phủ sử dụng. Chúng ta cũng cần ban hành văn bản quy phạm pháp luật quy
định việc các nhà cung cấp truyền hình cáp chỉ được cung cấp các chương trình đã có phép tới khách
hàng của họ. Ngoài ra, chúng ta cũng cần sớm ban hành các thông tư quy định về bảo hộ một số đối
tượng đặc thù như phần mềm máy tính…
3.3. Với các cam kết của Chính phủ Việt Nam về sở hữu trí tuệ, thách thức lớn nhất đối với chúng ta
không còn là vấn đề lập pháp mà là vấn đề thực thi pháp luật. Tính hiệu quả của hệ thống bảo hộ quyền
sở hữu trí tuệ không chỉ đòi hỏi ở khung pháp lý mà còn đòi hỏi rất nhiều ở hệ thống cơ quan bảo vệ
quyền sở hữu trí tuệ, ở ý thức và nỗ lực của chủ sở hữu trí tuệ và toàn xã hội. Chính vì vậy, chúng ta cần
phải đẩy mạnh hơn nữa việc thực thi các quy định của pháp luật trên thực tế, nâng cao năng lực của các
cơ quan thực thi quyền, đặc biệt nâng cao hiệu quả giải quyết tranh chấp sở hữu trí tuệ tại tòa án, nâng
cao ý thức tôn trọng bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ.
Phụ lục: Bản so sánh tóm tắt các quy định của Hiệp định Trips và quy định của pháp luật Việt
Nam[17]
mình trong việc
bảo hộ sở hữu trí
tuệ.
Chưa quy định
Được
quy
định tại trong
Pháp lệnh về
đối xử tối huệ
quốc và đối
xử quốc gia
trong thương
mại quốc tế
và Điều 774,
775 Bộ luật
dân sự
X
Đối với việc bảo hộ
sở hữu trí tuệ, bất
kỳ một sự ưu tiên,
chiếu
cố,
đặc
quyền hoặc sự
miễn trừ nào được
một thành viên
nhiên các quy
Việt Nam đã
là thành viên
của
Công
X
Chưa
đáp
ứng
Điều 1- Điều 21 và
phụ lục của Công
ước Berne 1971,
trừ Điều 6bis.
định rất chung
chung, chưa có
điều khoản quy
định tách bạch
giữa
quyền
nhân thân và
quyền tài sản,
chưa tách bạch
quyền của tác
giả với chủ sở
thực tế vấn đề
trên chưa được
quy định cụ thể.
Điều
14
khoản 1 Điều
22 Luật sở
hữu trí tuệ
X
Đối với chương
trình máy tính và
tác phẩm điện ảnh,
phải dành cho tác
giả hoặc người
thừa kế hợp pháp
của họ quyền cho
phép hoặc cấm
cho thuê bản gốc
hoặc bản sao tác
phẩm nhằm mục
đích thương mại
Chưa được quy
định cụ thể.
Điều 20 Luật
sở hữu trí tuệ,
Điều 27 Luật
sở hữu trí tuệ;
Điều 26 Nghị
định 100/CP
X
trong 50 năm kể từ
ngày
tạo
ra.
(Không áp dụng
đối với tác phẩm
nhiếp ảnh và tác
phẩm nghệ thuật
ứng dụng).
Các quy định về
bảo hộ quyền liên
quan tại Điều 14
của Hiệp định Trips
Được
quy
định tại phần
thứ 2 Luật sở
hữu trí tuệ và
Nghị
mại,
quyền
chống
cạnh
tranh
không
lành
mạnh liên quan
đến sở hữu
công nghiệp.
Được
quy
định trong Bộ
luật dân sự
năm
2005,
Luật sở hữu
trí tuệ năm
2005 và các
văn
bản
hướng dẫn thi
hành
X
Nhãn hiệu hàng
hóa
bảo hộ "bất kỳ một
dấu hiệu nào, hoặc
sự kết hợp các dấu
hiệu có khả năng
phân biệt hàng
hóa hoặc dịch vụ
của một doanh
nghiệp với hàng
hóa hoặc dịch vụ
của doanh nghiệp
khác có khả năng
cấu tạo nên nhãn
hiệu hàng hóa."
-Thời hạn bảo
hộcho lần đăng ký
đầu tiên và mỗi lần
gia hạn đăng ký
không được dưới 7
năm. việc đăng ký
nhãn hiệu hàng
hóa được gia hạn
một cách không
hạn chế.
- Chủ sở hữu
nhãn
hiệu hàng
hóa có độc quyền
nhãn hiệu âm
thanh, nhãn
hiệu mùi vị.
Thời hạn bảo
hộ cho lần đăng
ký đầu tiên và
mỗi lần gia hạn
đăng ký là 10
năm.
Chủ văn bằng
bảo hộcó quyền
sở hữu, có độc
quyền sử dụng,
chuyển
giao
quyền sở hữu
hoặc quyền sử
dụng cho chủ
thể khác.
Thời hạn bảo
hộ cho
lần
đăng ký đầu
tiên và mỗi
lần gia hạn
đăng ký là 10
năm.
Chưa có quy
định cụ thể
X
bất kể là sản phẩm
hay quy trình, trong
tất cả các lĩnh vực
công nghệ
- Tiêu chuẩn sáng
chế: mới, có trình
độ sáng tạo và có
khả năng áp dụng
công nghiệp.
- Thời hạn bảo
hộ sáng chế tối
thiểu là 20 năm kể
từ ngày nộp đơn.
- Chủ sở hữu
sáng chế có độc
quyền cấm bên thứ
ba thực hiện các
hành vi chế tạo, sử
dụng, chào bán,
bán hoặc nhập
khẩu sản phẩm mà
hội.
- Thời
hạn
bảo hộ sáng
chế là 15 năm
kể từ ngày ưu
tiên.
- Chủ văn bằng
bảo hộcó quyền
sở hữu, có độc
quyền sử dụng,
chuyển
giao
quyền sở hữu
hoặc quyền sử
dụng cho chủ
thể khác.
- Tiêu chuẩn
sáng
chế:
mới, có trình
độ sáng tạo
và có khả
năng áp dụng
công nghiệp.
X
- Thời hạn bảo
hộ kiểu dáng công
nghiệp kéo dài ít
nhất là 10 năm.
- Chủ sở hữu có
quyền cấm những
người khác không
được sự đồng ý
của chủ sở hữu
mà sản xuất, bán
hoặc nhập khẩu
những sản phẩm
mang hoặc thể
hiện một kiểu dáng
sao chép hoặc cơ
bản là một bản sao
chép
của
kiểu
dáng đang được
bảo hộ, khi các
hành vi đó được
thực hiện nhằm
mục đích thương
mại.
Phải bảo hộ chỉ
dẫn địa lý Các
quốc gia thành
-Chủ văn bằng
bảo hộcó quyền
sở hữu, có độc
quyền sử dụng,
chuyển
giao
quyền sở hữu
hoặc quyền sử
dụng cho chủ
thể khác.
Mới chỉ quy định
bảo hộ một
dạng của chỉ
dẫn địa lý là tên
gọi xuất
xứ
hàng hóa
Văn
bằng
bảo
hộ có
hiệu lực 5
năm,
được
gia hạn hai
lần liên tiếp,
mỗi lần 5
năm.
mạnh.
rượu
Thiết kế bố
mạch tích hợp
trí
Chưa bảo hộ
Được
quy
định tại Bộ
luật dân sự
luật sở hữu trí
tuệ và các
văn
bản
hướng dẫn thi
hành
X
Chưa bảo hộ
Được
quy
định tại Bộ
luật dân sự
của người nắm giữ
quyền đều bị coi là
những hành vi bất
hợp pháp.
Các thành viên
phải bảo hộ thông
tin kín.
[1] Nguồn: báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO đoạn 403.
[2] Nguồn: báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO đoạn 465.
[3] Nguồn: báo cáo của Ban công tác về việc Việt Nam gia nhập WTO đoạn 471.
[4] Nguồn: Phụ lục: nội dung áp dụng trực tiếp các cam kết của Việt Nam kèm theo Nghị quyết số
71/2006/QH11 ngày 29/11/2006 của Quốc hội phê chuẩn Nghị định thư gia nhập Hiệp định thành lập tổ
chức thương mại thế giới của nước CHXHCN Việt Nam.
[5] Tác động của các Hiệp định của WTO đối với các nước đang phát triển, tài liệu của Uy ban quốc gia
về hợp tác kinh tế quốc tế và Uy ban thương mại quốc gia Thụy Điển, Hà Nội 2005, Tr194
[6] Tại vòng đàm phán Uruguay, một số nước đang phát triển phản đối mạnh mẽ việc hội nhập của các
quyền sở hữu trí tuệ vào chính sách thương mại. Tuy nhiên, cuối cùng thì các nước đang phát triển cũng
phải chấp nhận vì nhiều lý do khác nhau. Một trong những lý do đó là sự nhượng bộ trong lĩnh vực sở
hữu trí tuệ đổi lấy những nhượng bộ từ các nước phát triển về khả năng tiếp cận thị trường trong các lĩnh
vực khác – xem Tác động của các Hiệp định của WTO đối với các nước đang phát triển, tài liệu của Uy
ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế và Uy ban thương mại quốc gia Thụy Điển, Hà Nội 2005, Tr194
[7] Vào thời điểm này, quyền sở hữu trí tuệ được bảo hộ bởi Pháp lệnh bảo hộ quyền tác giả ngày
02/12/1994; Pháp lệnh bảo hộ quyền sở hữu công ngày11/2/1989, Nghị định 84/HĐBT ngày 20/3/1990;
Thông tư số 1134/SC ngày 17/10/1991; Thông tư số 3/NCPL của TANDTC hướng dẫn xét xử các tranh
chấp về quyền sở hữu công nghiệp.
[8] Xem chi tiết bản so sánh trong phần phụ lục.
[9] Chương 2 của Hiệp định quy định về quyền sở hữu trí tuệ