MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa
Lời cảm ơn
Mục lục
Danh mục các chữ viết tắt
Danh mục các bảng
Danh mục các hình( Sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh… )
MỞ ĐẦU
I. Lý do chọn đề tài............................................................................................ 1
II. Mục đích của đề tài....................................................................................... 3
III. Nhiệm vụ của đề tài..................................................................................... 3
IV. Giới hạn phạm vi nghiên cứu.......................................................................3
V.Lịch sử nghiên cứu của đề tài......................................................................... 3
VI. Phương pháp nghiên cứu..............................................................................5
VII. Đóng góp của đề tài....................................................................................6
VIII. Cấu trúc của luận văn................................................................................ 7
NỘI DUNG
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của việc ứng dụng CNTT
trong thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11..............................................................8
1.1. Cơ sở lý luận..............................................................................................8
1.1.1.Quan niệm về thiết kế bài giảng và thiết kế bài giảng có sử dụng
công nghệ thông tin………………………………………………….. ………8
1.1.2.Đặc điểm tâm lí, trình độ nhận thức của học sinh trung học phổ
thông……………………………………………………………...………….23
1.2.Cơ sở thực tiễn……………………………………………….... ………25
1.2.1.Đặc điểm chương trình sách giáo khoa Địa lí lớp 11……… . ………...25
Số hóa bởi Trung tâm Học liệu – Đại học Thái Nguyên
-tnu.e du.v n
KẾT LUẬN …………………………………………………………………105
TÀI LIỆU THAM KHẢO...........................................................................108
PHỤ LỤC......................................................................................................111
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Viết tắt
Viết đầy đủ
TKBG
Thiết kế bài giảng
PPDH
Phương pháp dạy học
THPT
Trung học phổ thông
KT-XH
Kinh tế -xã hội
CNTT
Công nghệ thông tin
Học sinh
DANH MỤC CÁC BẢNG
STT
Số hiệu
1
Bảng 1.1
Nội dung chương trình SGK Địa lí lớp 11
29
2
Bảng 1.2
Mô hìnhGiáo dục trong thời đại thông tin
31
3
Bảng 1.3
4
Stt
8
Số hiệu
Tên bảng
Điều tra tình hình của việc ứng dụng CNTT
dạy học Địa lí ở một số trường THPT
Một số địa chỉ Website cần thiết để giáo viên
tham khảo trong quá trình TKBG
Tên trường và các giáo viên tham gia thực
nghiệm
Tên sơ đồ, biểu đồ, tranh ảnh
Trang
33
51
97
Trang
1
Hình1.1
Hình 2.4
Danh sách các tệp mẫu.
63
6
Hình 2.5
Một slide chủ của một tệp trình diễn
64
7
Hình 2.6
Các kiểu chữ nghệ thuật trong WordArt Gallery
68
Hình 2.7
Một Slide chữ nghệ thuật trong bài Liên minh
châu Âu
69
Hình 2.11
Một Slide có Video Clip trong bài Hoa Kì
73
13
Hình 2.12 Hộp thoại màu trong Power point
74
14
Hình 2.13 Hộp thoại tạo hiệu ứng
75
15
Hình 2.14 Bản đồ Châu Phi chụp qua vệ tinh
76
16
Hình 2.15 Cảnh quan của Châu Phi
77
22
Hình 2.21 Bảng số liệu và tháp dân số châu Phi
93
23
Hình 2.22 Những hình ảnh về hoạt động sản xuất nông nghiệp
93
24
Hình 3.1
102
Biểu đồ đánh giá kết quả thực nghiệm
72
6
MỞ ĐẦU
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Từ những năm cuối của thế kỷ XX, đầu thế kỷ XXI, công nghệ thông
tin (CNTT) đã thâm nhập sâu vào nhiều lĩnh vực khoa học, đời sống, làm
thay đổi căn bản, sâu sắc và đặc biệt đã thúc đẩy sự phát triển của khoa học
quan trọng của ngành GD - ĐT là phải “ Đổi mới mạnh mẽ phương pháp GD
- ĐT, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thói quen, nề nếp tư duy
sáng tạo của người học.Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và
phương tiện hiện đại vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự
học, tự nghiên cứu . . .”
Muốn giờ học đạt kết quả tốt thì chính người GV phải chuẩn bị (thiết
kế) trước giờ lên lớp (thi công). Chính vì vậy, vấn đề đặt ra là ngư ời GV
phải biết lựa chọn phương pháp phù hợp cùng với việc ứng dụng CNTT để
hướng dẫn tổ chức và điều khiển HS phát huy hết năng lực trong quá trình
tìm kiếm tri thức. Tuy nhiên đây là một vấn đề còn khá mới mẻ đối với
GV, nhất là GV địa lý ở trường phổ thông, rất nhiều GV còn lúng túng
trong việc tiếp cận kiến thức lý luận và một hệ thống PPDH có sử dụng
CNTT (nói chung) và các phần mềm Địa lý (nói riêng) với những nguyên
tắc, hình thức tổ chức cũng như qui trình của việc thiết kế bài giảng
(TKBG) cụ thể và tương thích. Đặc biệt là việc TKBG có sử dụng CNTT
trong giảng dạy Địa lí, hiện nay do nhiều nguyên nhân chủ quan, khách
quan nên chưa được đầu tư thích đáng.
Trước ý nghĩa và sự cần thiết của yêu cầu đổi mới PPDH và nâng cao
chất lượng TKBG, cũng như mở rộng thêm khả năng ứng dụng CNTT vào
dạy học Địa lí ở trường THPT hiện nay. Tôi đã lựa chọn vấn đề : “Ứng dụng
công nghệ thông tin trong thiết kế bài giảng Địa lí lớp 11 Trung học phổ
thông ” làm đề tài nghiên cứu cho luận văn của mình với mong muốn góp
một phần nhỏ bé trong việc phổ cập, ứng dụng CNTT để nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy và học môn Địa lí ở trường THPT.
II. MỤC ĐÍCH CỦA ĐỀ TÀI
- Nghiên cứu sử dụng hiệu quả các phần mềm, từ đó tìm ra con đường đơn
giản và hiệu quả nhất mà bất cứ GV nào khi đã có kiến thức và phương tiện
đều có thể ứng dụng CNTT vào TKBG Địa lí (nói chung) và Địa lí lớp 11
(nói riêng).
có hiệu quả vào nhiều lĩnh vực của sản xuất, dịch vụ và đời sống xã hội. Tuy
nhiên trong giáo dục thì gần đây mới được chú ý vì thế còn nhiều hạn chế.
Để đáp ứng được yêu cầu đặt ra đối với sự phát triển của đất nước, góp
phần đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả Giáo dục, thời gian gần đây có
nhiều nhà khoa học giáo dục đã tiến hành nghiên cứu vấn đề này. Các công
trình nghiên cứu của các nhà khoa học liên quan tới việc ứng dụng CNTT và
các phần mềm tin học trong TKBG có thể kể đến:
- “Phần mềm PC- Fact với giảng dạy địa lí ”. PGS Nguyễn Dược biên soạn.
Nxb Giáo Dục, 1998.
- “Ứng dụng công nghệ thông tin trong giảng dạy”- Kỷ yếu Hội thảo Khoa
học công nghệ Bộ GD - ĐT, 2001.
- “Khai thác phần mềm PC – Fact trong dạy học Địa lí ”. Hội thảo Khoa
học ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong Giáo dục phổ
thông. Bộ GD - ĐT, 2001.
- “Khai thác chương trình PC – Fact, Encarta World 2000 và Power Point để
thiết kế và xây dựng bài giảng địa lí ”. PGS .TS Nguyễn Trọng Phúc. Hội
thảo khoa học “ Sử dụng công nghệ thông tin trong đổi mới phương pháp
dạy học” ĐHSP Hà Nội, 2002.
- “Thiết kế bài giảng địa lí ở trường phổ thông” PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc,
Nxb ĐHSP Hà Nội, 2004.
- “Thiết kế bài giảng địa lí kinh tế - xã hội theo hướng dạy học tích
cực ở Trung học phổ thông”. PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, báo cáo đề tài
nghiên cứu khoa học cấp Bộ, 2004.
- “Thiết kế, xây dựng hệ thống bài giảng điện tử Địa lí kinh tế - xã hội thế
giới và Việt Nam” PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc, hội thảo Khoa học
“Nâng cao chất lượng dạy và học trong chương trình phổ thông nhờ sự hỗ trợ
của thiết bị và phần mềm dạy học”. ĐHSP Thành phố Hồ Chí Minh, 2005.
Ngoài ra, còn rất nhiều các đề tài nghiên cứu của các tác giả khác. Qua
khả năng học sinh là một quá trình thử nghiệm lâu dài, đòi hỏi nhiều kinh
nghiệm của GV. Để việc ứng dụng CNTT trong giảng dạy Địa lí ở trường phổ
thông đạt hiệu quả tốt cần hiểu kĩ về thái độ của GV và HS, tình hình thực tế
của các trường mà nhất là học hỏi kinh nghiệm của những người đi trước
trong lĩnh vực này để rút ra những bài học kinh nghiệm.
6.3.
Phương pháp thực nghiệm sư phạm
Tiến hành ứng dụng CNTT để TKBG và thực hiện các giờ dạy ở
trường phổ thông. Sử dụng phiếu thăm dò để kiểm tra kết quả từ phía HS
và lấy ý kiến của GV nhằm đánh giá mức độ khả thi của đề tài. Kiểm tra
tính thực tiễn của việc ứng dụng CNTT vào TKBG có thể sử dụng được
thường xuyên hay không, đồng thời thấy được những thiếu sót và chưa
hợp lí để từ đó có những phương hướng điều chỉnh cho hợp lí làm tăng
tính khả thi của đề tài.
6.4.
Phương pháp toán thống kê
Được dùng trong việc xử lý kết quả số liệu thống kê sau khi tiến hành
điều tra, thực nghiệm sư phạm.
VII. ĐÓNG GÓP CỦA ĐỀ TÀI
- Đề tài nghiên cứu, tổng hợp, hệ thống hoá và làm sáng tỏ cũng như tiếp
thu những cơ sở lý luận , cơ sở thực tiễn của việc TKBG (nói chung)
cũng như ứng dụng CNTT trong TKBG Địa lí (nói riêng).
- Qua nghiên cứu, điều tra thực tế đã bước đầu đánh giá được thực trạng
việc ứng dụng CNTT trong TKBG Địa lí ở một số trường THPT.
dạy học, nội dung dạy học các nguyên tắc và PPDH đều được thực hiện.
Tuy nhiên, hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm tiết học,
song tựu chung thì tiết học có thể được hiểu như sau: “Tiết học đó là một
khoảng thời gian của quá trình dạy học, trong đó HS tự giác, tích cực lĩnh
hội nội dung học vấn dưới sự hướng dẫn, chỉ đạo của GV để hình thành
nhân cách và phát triển năng lực trí tuệ”. Qua cách hiểu như trên, chúng ta
có thể thấy rằng: Tiết học của các môn học, trong đó có môn địa lí, là hình
thức cơ bản của hình thức tổ chức dạy học theo trường, theo lớp như hiện
nay. Trong tiết học, các nhiệm vụ chủ yếu của nhà trường phổ thông như:
Hình thành kiến thức, kĩ năng , kĩ xảo, phát triển tư duy và giáo dục tư
tưởng cho HS đều được thực hiện.
Dựa trên những nhiệm vụ chính của tiết học, hiện nay chương trình
giảng dạy môn Địa lí của các trường phổ thông có những kiểu tiết học sau;
- Tiết học mở đầu
- Tiết học nắm kiến thức và kĩ năng mới
- Tiết học vận dụng kiến thức, kĩ năng, kĩ xảo Địa lí:
- Tiết học khái quát hóa và hệ thống hoá tri thức Địa lí
- Tiết học kiểm tra đánh giá kiến thức và kĩ năng của học sinh
* Bài học Địa lí:
Trong quá trình tổ chức dạy học, hình thức lên lớp là cơ bản nhất và
quan trọng nhất. Đây là một quá trình dạy học được cấu tạo bởi các bài học
sắp xếp theo một chương trình nhất định với thời khoá biểu nhất định đối
với từng lớp học sinh. Hình thức tổ chức dạy học này nằm trong hệ thống
dạy học lớp - bài. Qua nghiên cứu, chúng tôi thấy hiện nay khái niệm bài
học còn chưa thống nhất, các nhà Giáo dục còn nhìn bài học từ nhiều góc
độ khác nhau. Tuy nhiên các khái niệm, quan điểm đó đều có một điểm
chung mà chúng ta có thể nhận thấy: Bài học là một hình thức dạy học cơ
bản, là một khâu của quá trình dạy học ở nhà trường phổ thông. Hoạt động
trong sách giáo khoa, đồng thời bài học phải đảm bảo một lượng kiến thức kỹ
năng phù hợp với tiết học. Từ đó có thể rút ra khái niệm cấu trúc bài học, phải
được xây dựng trên những thành tố sau:
+ Phương pháp luận khoa học Địa lí.
+ Đối tượng nhiệm vụ của môn Địa lí ở trường phổ thông.
+ Nội dung khoa học của bài Địa lí.
+ Trình độ nhận thức của HS.
Vì thế, ta thấy rằng mỗi bài học thường bắt đầu bằng phần vào bài
nhằm xác định mục tiêu của bài. Phần nội dung bài học bao gồm tên các mục,
tiếp đến là nội dung cụ thể của các đề mục. Tên đề mục thường là một vấn đề,
một khái niệm hay là một tình huống có vấn đề cần giải quyết. Còn nội dung
của các đề mục thường bao gồm phần thông báo nội dung kiến thức của mỗi
đề mục. Mà các bài học có nội dung dài - ngắn khác nhau. Sau phần nội dung
là phần kết luận, củng cố kiến thức. Cuối mỗi bài học là phần câu hỏi. Tuỳ
mỗi bài học mà hệ thống câu hỏi và bài tập giao động từ 2 đến 3 câu. Bản
thân các câu hỏi trong bài học cũng đã bao hàm cả ba loại là tái hiện kiến thức
- phát triển tư duy - rèn luyện kỹ năng.
Khi xây dựng kiến thức bài học không nhất thiết phải lệ thuộc hoàn
toàn vào SGK và tài liệu tham khảo để xây dựng cấu trúc bài học cho hợp
lí đạt hiệu quả cao. Cấu trúc bài học phải quán triệt những vấn đề về lí
thuyết và phương pháp luận của khoa học Địa lí và trình độ nhận thức của
HS. Từ cấu trúc bài học, GV kết hợp với cấu trúc tiết học và định hướng
PPDH cũng như tổ chức hoạt động cho HS và lựa chọn phương tiện dạy
học hợp lí để TKBG.
* Thiết kế bài giảng:
TKBG là những dự kiến cụ thể về sự kết hợp giữa cấu trúc tiết học +
cấu trúc bài học + hình thức tổ chức hoạt động của GV và HS + phương pháp,
phương tiện và thiết bị kĩ thuật dạy học. Trong đó nêu rõ các bước chủ yếu,
Vì vậy, TKBG (giáo án), phải quán triệt được tinh thần cơ bản của
chương trình, phải nhất quán với bản kế hoạch từng năm, từng học kì, từng
chương. Khi TKBG, GV phải chú ý đầy đủ các mặt: Mục tiêu, nội dung, hình
thức, phương pháp dạy của GV, phương pháp học của HS, hiệu quả... Nghĩa là
phải chú ý đến tất cả các nhân tố của quá trình dạy học. Trong TKBG, tiến
trình bài giảng phải là tiến trình hoạt động thực sự của bản thân chủ thể là
HS, thời gian chủ yếu phải giành cho hoạt động của HS.
TKBG - nơi thể hiện một cách tập trung và sinh động nhất những quan
điểm về dạy học. Có thể nói TKBG là sự thể hiện những xu hướng, quan điểm
dạy - học khác nhau, nơi thể hiện giữa quan điểm cũ và mới, quan điểm giữa
truyền thống và hiện đại, giữa rập khuôn máy móc và sự sáng tạo của người
GV...Bất cứ sự đổi mới nào về nội dung và phương pháp đều tác động đến
việc TKBG. TKBG hiện đại cần phải biết vận dụng những lí thuyết mới,
những phương pháp mới, kể cả những phương tiện - thiết bị dạy học mới
trong xu thế tiến bộ của lý luận dạy học và sự phát triển của khoa học kĩ thuật.
Ngày nay, ngoài việc tiếp thu và vận dụng những thành tựu của lý luận
dạy học, sự phát triển của khoa học kĩ thuật đã có tác động mạnh mẽ đến việc
dạy học (Tiếp nhận, lưu trữ, xử lí thông tin). Trong dạy học Địa lí ngày nay
đã có sự trợ giúp một cách hữu hiệu bởi các phương tiện, thiết bị kĩ thuật: Bản
đồ, biểu đồ, tài liệu tham khảo, băng video, chương trình vi tính - phần mềm
có nội dung Địa lí, các thiết bị nghe nhìn khác...Các phương tiện thiết bị kĩ
thuật trên đã làm thay đổi cách tiếp cận nội dung bài học của HS, PPDH của
GV và cách thiết kế từng bài giảng cụ thể.
* Bài giảng:
Bài giảng có một vị trí quan trọng trong quá trình dạy học. Theo
PGS.TS Nguyễn Trọng Phúc:“ Bài giảng là bản thiết kế (giáo án) đã được
người GV thực hiện trên lớp. Bài giảng là nơi thể hiện một cách tập trung và
sinh động nhất những quan điểm, những xu hướng khác nhau - nơi đối lập
sắc riêng, có ý chí, hoài bão, tự chủ, tự giác. Trong đó GD - ĐT giữ vai trò
then chốt trong việc xây dựng con người mới phát triển toàn diện.
Chính vì vậy, các nước trên thế giới đã và đang rất quan tâm đến sự
nghiệp Giáo dục; đầu tư và xây dựng một nền Gáo dục đáp ứng kịp thời các
yêu cầu cấp thiết của sự phát triển KT-XH và đảm bảo sự hoà nhập và giao lưu
quốc tế.
Bốn trụ cột của thế kỉ XXI là:
+ Học để biết.
+ Học để hiểu.
+ Học để làm.
+ Học để tồn tại và phát triển.
Để phát triển Giáo dục, nhiều nước trong đó có Việt Nam đã xây dựng
Luật Giáo dục, đề ra khẩu hiệu “ Hãy cứu lấy nền kinh tế bằng giáo dục”.
Giáo dục đã trở thành quốc sách hàng đầu của nhiều quốc gia trên thế giới.
Với những đặc trưng trên, nền giáo dục mới phải hướng vào những yêu
cầu phục vụ cho sự phát triển KT-XH. Giáo dục không những tạo ra con
người trí tuệ mà phải nhấn mạnh nội dung nhân văn. Hơn nữa, giáo dục
không chỉ chú ý đến mặt thiết chế của xã hội về mục đích, mục tiêu giáo dục,
mà còn phải quan tâm đến lợi ích của người học và nhu cầu phát triển của
chính bản thân người học. Nói cách khác, đó là sự thống nhất giữa nhu cầu
phát triển của KT-XH hội và nhu cầu phát triển của chính bản thân cá nhân.
Chất lượng đào tạo cần phải được nâng cao cho tương xứng với những nhiệm
vụ mới, phù hợp với yêu cầu của xã hội hiện nay.
Ở nước ta định hướng đổi mới phương pháp dạy và học đã được xác
định trong nghị quyết TW 4 khoá VII (1/1993) của Đảng Cộng sản Việt Nam
nêu rõ : "Đổi mới phương pháp dạy và học ở các cấp học, bậc học. Kết hợp
tốt học với hành, học tập với lao động sản xuất, thực nghiệm và nghiên cứu
khoa học ; gắn nhà trường với xã hội. Áp dụng những phương pháp giáo dục
Đổi mới PPDH (nói chung) và Đổi mới PPDH Địa lí (nói riêng) là một
nhiệm vụ quan trọng đã và đang được tiến hành mạnh mẽ trên cơ sở đổi mới
theo yêu cầu của xã hội về mục tiêu, về nội dung, về phương pháp giáo dục.
Việc đổi mới PPDH Địa lí dựa trên cơ sở của việc định hướng đổi mới PPDH
nói chung, được xác định trong các Nghị quyết của Đảng và Luật giáo dục.
Đó là "Phương pháp GD - ĐT phải phát huy tính tự giác, chủ động sáng tạo
của học sinh, phù hợp với từng lớp học, môn học, bồi dưỡng phương pháp tự
học, rèn luyện khả năng áp dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình
cảm, đem lại niềm vui hứng thú học tập cho HS".
Như vậy, có thể nói rằng quan điểm dạy học đổi mới hiện nay đã được
định hướng rõ ràng, được thể chế hoá trong luật giáo dục và ngày càng phát
triển rộng rãi trong nhà trường phổ thông. Trong tương lai việc dạy - học
không chỉ dừng lại ở thiết kế sử dụng các bài giảng điện tử mà còn hướng tới
xây dựng một nền (Giáo dục điện tử). Đây chính là cuộc cách mạng làm thay
đổi toàn bộ mô hình học tập trong thế kỉ này, giúp xoá nhoà ranh giới Địa lí,
mang giáo dục đến với mọi người chứ không phải mang mọi người đến với
giáo dục.
*Quan điểm dạy học theo hướng tích cực:
Tích cực là một một nét quan trọng của nhân cách, là một đức tính rất quý của
con người. Theo Kharlamôp: “ Tính tích cực là trạng thái hoạt động của chủ
thể, nghĩa là người hành động. Vậy tính tích cực nhận thức là trạng thái hoạt
động của học sinh, đặc trưng bởi khát vọng học tập, gắng sức về trí tuệ và
nghị lực cao trong quá trình nắm vững kiến thức ”.
“Tích cực trong học tập có nghĩa là hoàn thành một cách chủ động, tự
giác có nghị lực, có hướng đích rõ rệt, có sáng kiến và đầy hào hứng, những
hành động trí óc và chân tay nhằm nắm vững kiến thức, kĩ năng và kĩ xảo, vận
dụng chúng vào trong học tập và thực tiễn”.
từng nội dung và điều kiện dạy học. Bản chất cơ bản của DHTC là dạy học
thông qua việc tổ chức các hoạt động cho người học - người học - chủ thể và
hoạt động học - được hút vào những hoạt động học tập do GV tổ chức và chỉ
đạo, qua đó được tự lực khám phá cái mình chưa biết chứ không tiếp nhận tri
thức đã sắp đặt sẵn.
Dạy học theo cách này không những cung cấp tri thức mà còn hướng
dẫn hành động - người học biết cách hành động và tích cực tham gia vào các
hoạt động của cộng đồng. Ở đây học chữ và học làm gắn quyện vào nhau " Từ
học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng muốn tồn tại và phát triển như
nhân cách một con người lao động, tự chủ, năng động và sáng tạo".
Đối với DHTC việc rèn luyện phương pháp tự học là rất quan trọng vì
nó không chỉ là một biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học mà còn là một mục
tiêu dạy học. Trong xã hội hiện đại đang biến đổi nhanh - với sự bùng nổ
thông tin, khoa học kĩ thuật - công nghệ phát triển như vũ bão thì không thể
nhồi nhét vào đầu óc trẻ một khối lượng kiến thức ngày càng nhiều. Phải quan
tâm dạy cho trẻ phương pháp học ngay từ cấp tiểu học và càng lên cấp học
cao hơn càng phải được chú trọng. Trong các phương pháp học thì cốt lõi là
phương pháp tự học. Nếu rèn luyện cho người học được phương pháp, kĩ
năng, thói quen, ý chí tự học thì sẽ tạo cho họ lòng ham học, khơi dậy nội lực
vốn có trong mỗi con người, kết quả học tập sẽ được nâng lên gấp bội. Vì
vậy, ngày nay người ta nhấn mạnh hoạt động học trong quá trình dạy học, nỗ
lực tạo ra sự chuyển biến từ học tập thụ động sang tự học chủ động. Đặt vấn
đề phát triển tự học ngay trong nhà trường phổ thông, không chỉ tự học ở nhà
sau bài lên lớp mà tự học cả trong tiết học có sự hướng dẫn của GV. Điều đó
sẽ giúp cho người học chủ động, linh hoạt, dễ dàng thích ứng với những biến
động phức tạp trong cuộc sống.
PPDH tích cực đòi hỏi sự cố gắng trí tuệ và nghị lực cao của mỗi HS
trong quá trình tự giành lấy kiến thức mới. Tuy nhiên mọi con đường học tập