Một số nét văn hóa "chưa đẹp" trong kinh doanh tại Việt Nam - Pdf 47

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÀI TẬP NHÓM
VĂN HOÁ VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH
Phân tích một số nét văn hóa “chưa đẹp” thể hiện
trong hoạt động kinh doanh của người Việt Nam
Giảng viên: TS. Nguyễn Thuỳ Dung
Thực hiện bởi: Nhóm THIẾU NỮ

Hà Nội, 09.2017
0


ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ

BÀI TẬP NHÓM
VĂN HOÁ VÀ ĐẠO ĐỨC KINH DOANH

PHÂN TÍCH MỘT SỐ NÉT VĂN HOÁ CHƯA ĐẸP
THỂ HIỆN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM

Giảng viên: TS. Nguyễn Thuỳ Dung
Thực hiện bởi: Nhóm THIẾU NỮ

Hà Nội, 09.2017
1




LỜI MỞ ĐẦU
Trong thời đại hiện nay, nền kinh tế mở cửa, các doanh nghiệp muốn phát
triển bền vững bên cạnh việc phải có chiến lược, định hướng cụ thể còn cần thiết
phải xây dựng cho mình một nền tảng văn hoá doanh nghiệp tốt đẹp và vững chắc.
Tuy nhiên không chỉ riêng Việt Nam mà văn hóa của bất kỳ quốc gia nào trên
thế giới cũng có cả hai phương diện: tích cực và tiêu cực. Điều này ảnh hướng rất
lớn tới hoạt động kinh doanh. Có những nét văn hóa đẹp góp phần thúc đẩy, phát
triển hoạt động kinh doanh; có những nét văn hóa “chưa đẹp” lại tác động tiêu cực,
kìm hãm, cản trở hoạt động kinh doanh.
Chúng ta hãy cùng tìm hiểu những nét văn hoá “chưa đẹp” đang thể hiện trong
hoạt động kinh doanh của người Việt Nam, nhận định nguyên nhân và từ đó đề nghị
một số giải pháp loại bỏ đi những hòn đá tảng cản trở sự phát triển của doanh nghiệp
Việt.

4


I - VÀI NÉT VỀ VĂN HOÁ KINH DOANH TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY
Từ năm 1986, Việt Nam chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao
cấp sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước
theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Từ khi phát động đổi mới trên quy mô rộng lớn,
chúng ta mới bắt đầu nhận ra vị trí vô cùng quan trọng của hoạt động kinh doanh.
Những rào cản bị phá bỏ, sản xuất, thương mại, kinh doanh được xác định là loại
hình hoạt động quan trọng đối với sự phát triển của đất nước.
Năm 2007, Việt Nam trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương
mại Thế giới WTO, các doanh nghiệp Việt Nam bước vào sân chơi toàn cầu, nhiều
cơ hội được mở ra nhưng cũng có đầy rẫy những khó khăn, thách thức đòi hỏi sự nỗ
lực vươn lên của các doanh nghiệp Việt Nam trước áp lực cạnh tranh rất lớn từ các
đối thủ bên ngoài.

Một số doanh nghiệp nước ngoài ở Việt Nam ngoài bất đồng ngôn ngữ còn
có hiện tượng xung đột văn hoá giữa chủ doanh nghiệp và người lao động khiến
doanh nghiệp không thành công trong việc xây dựng mối quan hệ tốt đẹp với người
công nhân. Sa thải nhân công bừa bãi không tuân theo các quy định của pháp luật
Việt Nam, không ký hợp đồng lao động, trốn đống bảo hiểm cho công nhân, chế độ
làm việc quá khắt khe, không đảm bảo sức khoẻ cho người lao động, lương và các
đãi ngộ thấp cũng là những nguyên nhân dẫn đến bất đồng và xảy ra nhiều cuộc đình
công, bãi công.
Trong các doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh cá thể, hình thức kinh
doanh “ăn xổi”, chộp giật khá phổ biến. Nhiều doanh nghiệp, hộ kinh doanh không
những chưa cung cấp sản phẩm có chất lượng tốt ra thị trường mà còn gian dối, lừa
đảo người tiêu dùng, huỷ hoại môi trường, điển hình như việc kinh doanh thực phẩm
bẩn. Chữ tín bị xem nhẹ, yếu tố an toàn của khác hàng bị bỏ qua, tất cả trở thành
những nguyên nhân tạo nên hình ảnh không đẹp của doanh nghiệp đối với xã hội,
không tạo được lòng tin đối với người tiêu dùng.
Bên cạnh việc chưa quan tâm xây dựng văn hoá doanh nghiệp, vấn đề phát
triển bền vững của các doanh nghiệp Việt Nam còn bị ảnh hưởng tiêu cực bởi những
thói quen, nét văn hoá xấu đã ăn sâu vào lối sống, lối làm việc của người lao động
như: ham hưởng thụ, trọng nam khinh nữ, xem nhẹ giờ giấc, kỷ luật, tâm lý đám
đông, tính đố kỵ,… một số sẽ được làm rõ ở phần tiếp theo.
II – MỘT SỐ NÉT VĂN HOÁ “CHƯA ĐẸP” THỂ HIỆN TRONG HOẠT
ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
1. Thiếu tính liên kết cộng đồng, liên kết nhóm làm việc
Vấn đề liên kết doanh nghiệp đã được đặt ra rất nhiều lần ở tất cả các hiệp hội,
ngành nghề. Tuy nhiên, nhiều quan chức, cơ quan có thẩm quyền cũng “bó tay”
trước thói quen cố hữu của rất nhiều doanh nghiệp là “mạnh ai nấy làm”. Tính cộng
đồng của doanh nhân Việt Nam còn quá yếu, quá rời rạc và ở mức thấp, thể hiện ở
6



2. Thiếu tính kỷ luật, giờ giấc
Câu chuyện năng suất lao động của Việt Nam đã nhiều lần được đề cập đến
từ giữa năm 2014 sau khi một nghiên cứu của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) công
7


bố. Kết quả cho thấy năng suất lao động của Việt Nam thuộc nhóm thấp nhất Châu
Á – Thái Bình Dương (những nơi có thể thu thập số liệu). Theo đó, năng suất của
người lao động Việt thấp hơn Singapore gần 15 lần, Nhật 11 lần và Hàn Quốc 10
lần. So với các nước láng giềng ASEAN có mức thu nhập trung bình, năng suất lao
động của Việt Nam vẫn có khoảng cách lớn, chỉ bằng một phần năm Malaysia và
hai phần năm Thái Lan.
Kỷ luật lao động của người lao động Việt Nam nói chung chưa đáp ứng được
yêu cầu đặt ra của quá trình sản xuất công nghiệp. Một bộ phận lớn người lao động
hiện nay chưa được tập huấn về kỷ luật lao động công nghiệp. Phần lớn lao động
xuất thân từ nông thôn, nông nghiệp, mang nặng tác phong sản xuất của một nền
nông nghiệp tiểu nông, tùy tiện về giờ giấc và hành vi.
Nhân viên trong công ty cũng thường đỗ lỗi cho những lý lo khách quan chứ
ít khi tự nhận lỗi về mình do ngủ nướng hay quên giờ giấc,… Ảnh hướng đến văn
hóa làm việc trong công ty, đến môi trường kỷ luật, mất đi thái độ chuyên nghiệp và
ảnh hưởng trực tiếp đến năng suất và hiệu quả lao động. Nhắc đến “đi muộn” là phải
kể đến “về sớm”. Người Việt luôn có tâm lý mong được về sớm, nhất là đối với lao
động làm việc theo giờ hành chính. Điểu này ảnh hưởng đến thái độ và kỷ luật chung
của môi trường làm việc cũng như năng suất lao động.
3. Văn hoá quan hệ, phong bì
Văn hóa Phương Đông là nét văn hóa kiêng nể, trọng quan hệ. Tuy nhiên nó
đã bị bị biến tướng trở thành một con đường tuyển dụng và thăng tiến bỏ qua việc
đánh giá năng lực.
“Thứ nhất quan hệ
Thứ nhì tiền tệ

Về nông nghiệp, Việt Nam là một trong 5 nước sản xuất chè lớn nhất thế giới,
tuy nhiên, giá xuất khẩu lại ở mức thấp nhất thế giới, thậm chí chè Việt Nam còn bị
một số thị trường chê, trả lại hàng. Tình trạng của cây chè cũng giống như nhiều mặt
hàng nông sản khác của Việt Nam như gạo, sắn, cao su... khi có một nền thương mại
buôn chuyến, có gì bán nấy với giá rẻ. Bởi cách làm manh mún, chỉ biết lợi trước
mắt nên nông sản Việt luôn ở tình trạng phải bán rẻ cho thị trường dễ tính Trung
Quốc.
Về du lịch, nhiều công ty lữ hành, du khách kêu ca các khu du lịch, điểm đến
nổi tiếng ở Việt Nam, vẫn "thói nào tật ấy": tự tăng giá, bắt chẹt khi đông khách, sẵn
sàng phá bỏ cam kết vì hám lợi trước mắt, lừa tiền khách du lịch. Điều này khiến du
khách nước ngoài tới Việt Nam hiếm khi quay trở lại lần thứ hai.

9


Tóm lại, hám lợi và chộp giật là thứ “văn hoá xấu” đang hiện diện trên mọi
lĩnh vực của kinh doanh tại Việt Nam, như một căn bệnh trầm kha, là hậu quả của
lối tư duy “ăn xổi” và tầm nhìn hạn hẹp.
5. Ỷ lại, bị động, chậm đổi mới
Khởi nguồn văn hóa Việt là văn hóa gốc nông nghiệp, chính vì thế nét văn
hóa này đã ăn sâu vào ý thức người Việt. Cho đến nay, nó vẫn còn được thể hiện
trong việc xác định tầm nhìn của các doanh nghiệp. Tại sao doanh nghiệp Việt cứ
mãi quanh quẩn ở ao làng? Có lẽ chính bởi chính tầm nhìn ngắn hạn của doanh
nghiệp với kiểu tư duy nhỏ mà ổn định, an toàn.
Điều này càng thấy rõ vấn đề doanh nghiệp Việt không dám đột phá, ngại đổi
mới. Theo thống kê của Chương trình đối tác đổi mới sáng tạo (IPP) liên kết giữa
Phần Lan và Việt Nam, đến thời điểm hiện tại chỉ có khoảng 20-30% doanh nghiệp
Việt Nam có hoạt động đổi mới sáng tạọ, đặc biệt là đổi mới về công nghệ trong khu
vực công nghiệp – xây dựng.
Mặt khác, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam vẫn không thoát ra khỏi thói bị

Về phía xã hội và người lao động, vấn đề trọng yếu chính là việc phải hình
thành được năng lực làm chủ của nguồn nhân lực tham gia thị trường lao động thông
qua cải tổ một cách có hệ thống và toàn diện nền giáo dục quốc gia. Năng lực làm
chủ sẽ giúp nguồn nhân lực chủ động trong việc đáp ứng những yêu cầu về việc làm.
Năng lực làm chủ thể hiện ở trình độ được đào tạo phù hợp với yêu cầu ngày càng
cao của công việc, có khả năng thích ứng và khả năng sáng tạo trong quá trình tham
gia thị trường lao động.
Ngoài ra, văn hóa kinh doanh, đạo đức kinh doanh phải trở thành môn học bắt
buộc và có thời lượng phù hợp trong các chương trình đào tạo ngành kinh tế. Ngoài
ra, các ngành, các cấp, các hiệp hội khi xây dựng các chương trình bồi dưỡng, tập
huấn, tọa đàm, hội nghị,… cần chú ý lồng ghép nội dung văn hóa kinh doanh.
IV. KẾT LUẬN
Từ những phân tích trên đây, có thể khẳng định vấn đề nổi cộm gây ra những
nét văn hoá “chưa đẹp” cản trở sự phát triển của doanh nghiệp Việt Nam là tầm nhìn
hạn hẹp và ảnh hưởng của tác phong nông nghiệp lạc hậu, và hơn hết là văn hoá kinh
doanh chưa được xem trọng.
Do đó, để giải quyết căn cơ những vấn đề này, cần có sự vào cuộc của Nhà
nước, các doanh nghiệp và toàn xã hội nhằm thay đổi có hiệu quả nền giáo dục, đào
tạo và nâng cao vai trò của văn hoá doanh nghiệp, đạo đức kinh doanh. Như vậy nền
kinh tế Việt Nam mới có sự phát triển nhanh và bền vững, quá trình đổi mới mới có
hiệu quả, nâng cao vị thế của đất nước trên trường quốc tế trong bối cảnh cách mạng
công nghệ 4.0.
11


TÀI LIỆU THAM KHẢO
1. Dương Thị Liễu, Giáo trình Văn hoá kinh doanh, NXB Đại học Kinh tế quốc dân,
2011.
2. Lê Thị Hồng Điệp, Những hạn chế về lao động và việc làm trên thị trường lao
động ở Việt Nam hiện nay, Tạp chí Khoa học ĐHQGHN: Kinh tế và Kinh doanh,


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status