THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ CỦA TÒA ÁN NHÂN DÂN - Pdf 47

MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN.............................................................................................................................................2
LỜI CAM ĐOAN.......................................................................................................................................3
CÁC TỪ VIẾT TẮT...................................................................................................................................4
LỜI MỞ ĐẦU.............................................................................................................................................5
1. Tính cấp thiết của đề tài.....................................................................................................................5
2. Mục đích nghiên cứu.........................................................................................................................6
3. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu.........................................................................................................6
3.1. Đối tượng nghiên cứu........................................................................................................................6
3.2. Phạm vi nghiên cứu...........................................................................................................................6
4. Phương pháp nghiên cứu...................................................................................................................6
5. Kết cấu của khóa luận........................................................................................................................7
NỘI DUNG.................................................................................................................................................8
CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ THẨM QUYỀN GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP
DÂN SỰ.................................................................................................................................................8
1.1. Khái quát chung về tranh chấp dân sự..............................................................................................8
1.2. Khái quát về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh chấp dân sự...................................11
CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH VỀ THẨM QUYỀN CỦA
TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ..................................................18
2.1. Những quy định về thẩm quyền theo vụ việc.................................................................................18
2.2. Những quy định về thẩm quyền theo cấp Tòa án...........................................................................34
2.3. Những quy định về thẩm quyền của Tòa án theo lãnh thổ.............................................................39
2.4. Những quy định về thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn............................41
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ
VIỆC THỰC HIỆN NHỮNG QUY ĐỊNH VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG GIẢI
QUYẾT TRANH CHẤP DÂN SỰ.....................................................................................................43
3.1. Thực trạng áp dụng quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết tranh chấp
dân sự hiện nay...............................................................................................................................43
3.2. Một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả trong việc thực hiện thẩm quyền của Tòa án
trong việc giải quyết tranh chấp dân sự.........................................................................................53
KẾT LUẬN...............................................................................................................................................61

tự tìm hiểu một cách trung thực, khách quan và phù hợp với thực tiễn. Các kết
quả này chưa từng được công bố trong bất kỳ nghiên cứu nào khác.

3


4


LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Xã hội ngày càng phát triển và trong cuộc sống thường ngày, con người
tham gia vào rất nhiều các hoạt động dân sự. Vì vậy, các mối quan hệ dân sự
hình thành rất tự nhiên, đa dạng và phong phú. Một con người luôn tham gia
vào rất nhiều quan hệ dân sự. Có thể nói, một người không thể không tham
gia vào quan hệ dân sự, khi tham gia vào các hoạt động dân sự như vậy đã
giúp tạo ra của cải, vật chất trong xã hội
Việc các mối quan hệ xã hội hình thành đa dạng như vậy cũng kéo theo
các tranh chấp dân sự hình thành với số lượng và tính phức tạp tương ứng.
Đây là vấn đề gắn liền với cuộc sống thường nhật của mỗi người, nên nó thu
hút được sự quan tâm của tất cả mọi người. Xã hội ngày càng hiện đại, những
vấn đề tranh chấp dân sự cũng nảy sinh thêm nhiều, mới mẻ, pháp luật về dân
sự cũng đòi hỏi cần phải được các nhà làm luật chú trọng hơn nữa mới có thể
bắt kịp xu hướng của xã hội, điều chỉnh quan hệ dân sự, góp phần đảm bảo
trật tự xã hội
Nước ta đang trong bối cảnh hội nhập mạnh mẽ kéo theo cơ chế, pháp
luật cũng phải dần thay đổi để đáp ứng nhu cầu hội nhập đó. Chính vì vậy,
Đảng, nhà nước đã và đang ban hành nhiều văn bản hướng dẫn nhằm thúc đẩy
cuộc cải cách tư pháp mạnh mẽ. Trong cuộc cải cách này, vẫn xác định
phương hướng tòa án là cơ quan có vị trí trung tâm trong cơ quan nền tư pháp

quy định về tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền của tòa án nhân dân và so
sánh các quy định về tranh chấp dân sự trong bộ luật tố tụng dân sự cũ. Mặc
dù, tranh chấp dân sự không được hiểu gồm các tranh chấp dân sự,tranh chấp
về hôn nhân và gia đình,tranh chấp kinh doanh thương mại và tranh chấp lao
động, nhưng trong bài em nghiên cứu toàn bộ các tranh chấp nêu trên.
4. Phương pháp nghiên cứu
Đề tài được thực hiện trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa triết
học Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và quan điểm đường lối, chính sách

6


của Đảng, Nhà nước ta về phát triển kinh tế xã hội, về xây dựng và hoàn thiện
pháp luật trong qua trình cải cách nên tư pháp nước nhà
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong đề tài bao gồm các
phương pháp nghiên cứu khoa học nói chung và phương pháp nghiên cứu
khoa học pháp lí nói riêng như phương pháp phân tích, tổng hợp, đối chiếu, so
sánh, hệ thống pháp luật…
5. Kết cấu của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung
của khóa luận có bố cục gồm 3 chương.
Chương 1: Những vấn đề chung về thẩm quyền giải quyết tranh chấp
dân sự
Chương 2: Những quy định của pháp luật hiện hành về thẩm quyền của
tòa án trong giải quyết tranh chấp dân sự
Chương 3: Thực trạng và một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả
việc thực hiện quy định về thẩm quyền của tòa án trong giải quyết tranh chấp
dân sự

7

quyết của Tòa án (Điều 30);

8


- Những tranh chấp về lao động thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án (Điều 32).
Khi một tranh chấp dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án,
được đương sự yêu cầu tòa án giải quyết sẽ trờ thành vụ án dân sự. Vụ án dân
sự là các tranh chấp về quyền và nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn
nhân và gia đình, kinh doanh và thương mại, lao động giữa các cá nhân, tổ
chức tham gia quan hệ pháp luật đó, do các đương sự có yêu cầu giải quyết và
được Tòa án thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật tố tụng. Đây cũng
là khái niệm vụ án dân sự theo nghĩa rộng nhất và mới nhất của BLTTDS.
Theo từ điển tiếng Việt thì tranh chấp là “giành nhau một cách giằng co
cái không rõ thuộc về bên nào”[13]. Tranh chấp cũng có nghĩa là đấu tranh
giằng co khi có ý kiến bất đồng, thường là trong vấn đề quyền lợi ích giữa hai
bên
Từ những phân tích trên, có thể rút ra định nghĩa sau: tranh chấp dân
sự là những mâu thuẫn, bất đồng về quyền và lợi ích giữa các chủ thể tham
gia hoặc các chủ thể có liên quan đến quan hệ pháp luật dân sự.
Những tranh chấp dân sự sẽ trở thành vụ án dân sự, nếu có yêu cầu giải
quyết tại tòa án sẽ được giải quyết theo thủ tục giải quyết vụ án dân sự. Tranh
chấp dân sự và giải quyết tranh chấp dân sự là những vấn đề xuất hiện trong
thực hiện chức năng của tòa án. Tuy nhiên, không phải tất cả tranh chấp dân
sự sẽ dẫn đến việc giải quyết tranh chấp dân sự. Thực tế có tranh chấp dân sự
nhưng không có yêu cầu giải quyết. Nhưng đã nói đến tranh chấp dân sự
thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án thì tranh chấp dân sự và giải quyết
tranh chấp dân sự là những khái niệm luôn luôn tồn tại cùng nhau. Về nội
hàm đây là những khái niệm khác nhau, chỉ những vấn đề khác nhau. Nếu

Thứ nhất, tranh chấp dân sự là những mẫu thuẫn, bất đồng về quyền và
nghĩa vụ giữa các bên trong mối quan hệ phát sinh từ hoạt động dân sự
Con người tham gia vào rất nhiều hoạt động trong xã hội, và hoạt động
dân sự là một trong số đó. Khi tham gia mới nảy sinh sự tương tác, dẫn đến
tạo ra lợi ích nhưng cũng kéo theo đó là mâu thuẫn bất đồng giữa các bên.
Trong đó, có bên được hưởng (quyền), nhưng có bên có trách nhiệm ( nghĩa
10


vụ), dẫn đến tranh chấp. Và tranh chấp đó được gọi là tranh chấp dân sự. Có
thể nói, đây là đặc trưng cơ bản nhất của tranh chấp dân sự
Thứ hai, việc giải quyết tranh chấp dân sự có thể do hai bên tự thỏa
thuận hoặc do tòa án giải quyết
Trong dân sự, luôn tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên nên khi có
tranh chấp dân sự xảy các bên trước nhất có quyền tự thỏa thuận với nhau.
Đây cũng có thể xem là đặc trưng nổi bật của tranh chấp dân sự, bởi khác với
dân sự, có thể lấy ví dụ trong hình sự, đó là mối quan hệ giữa nhà nước và
người phạm tội và hành vi phạm tội, không thể thỏa thuận như trong dân sự,
nên đây được coi là một trong những đặc trưng cơ bản của tranh chấp dân sự.
Nếu như không thỏa thuận được các bên có thể nhờ tòa án giải quyết, để đảm
bảo quyền và lợi ích của các bên
1.2. Khái quát về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh
chấp dân sự
1.2.1. Khái niệm về thẩm quyền giải quyết của Tòa án đối với tranh
chấp dân sự
Thẩm quyền của tòa án bao gồm quyền hạn cụ thể của tòa án trong việc
thụ lý và giải quyết tranh chấp dân sự, do đó, khái niệm về thẩm quyền giải
quyết tranh chấp dân sự của tòa án có tầm ảnh hưởng quan trọng. Có thể nói
khái niệm về thẩm quyền giải quyết tranh chấp dân sự chưa được thực sự
nghiên cứu một cách kĩ càng và sâu sắc, nếu có chỉ là căn cứ vào khái niệm về

tư pháp
Vai trò của Đảng Cộng sản đã được khẳng định qua hai cuộc kháng
chiến trường kì của dân tộc ta và bây giờ trong thời bình vai trò lãnh đạo của
Đảng vẫn không thể thiếu. Đảng được sinh ra từ nhân dân, vì nhân dân mà tồn
tại, tất cả đường lối chính sách của Đảng luôn vì lợi ích của nhân dân. Đảng
Cộng sản Việt Nam là tổ chức lãnh đạo trên thực tế, pháp luật luôn thể chế
hóa đường lối của Đảng, cũng chính là nguyện vọng của nhân dân, thành
những quy định chung thống nhất trong toàn xã hội. Trong lĩnh vực giải quyết
tranh chấp dân sự, đường lối của Đảng luôn là những căn cứ cho nhà làm luật
xây dựng các văn bản pháp luật. Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI đã đề ra
đường lối đổi mới với quyết tâm: triệt để xóa bỏ cơ chế kế hoạch hóa tập
12


trung, bao cấp chuyển hẳn sang nền kinh tế theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Với đường lối đó, Đảng đã đặt ra nhiệm vụ phải hoàn thiện bộ máy bảo vệ
pháp luật bằng công cuộc cải cách tư pháp. Trước yêu cầu đó, ngày
18/12/1993, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã thông
qua luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật tổ chức tòa án nhân dân, quyết
định thành lập Tòa Kinh tế thuộc hệ thống tòa án nhân dân để giải quyết các
vụ án hành chính. Tuy nhiên, trước sự đổi thay của tình hình kinh tế - xã hội
và thực tiễn xét xử, những quy định của pháp luật về thẩm quyền của tòa án
đã không còn phù hợp. Để khắc phục sự bất cập này, Đảng đã có nhiều Nghị
quyết về công tác tư pháp trong đó nhấn mạnh yêu cầu phân định hợp lí thẩm
quyền của tòa án các cấp như: Nghị quyết số 08-NQ/TW ngày 02/02/2002 của
Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian
tới lại khẳng định cần khẩn trương chuẩn bị tốt điều kiện để thực hiện việc
tăng thẩm quyền xét xử cho tòa án cấp huyện, đổi mới tổ chức của tòa án
nhân dân tối cao để tập trung làm tốt nghiên cứu giám đốc thẩm, tổng kết thực
tiễn xét xử, hướng dẫn các tòa án áp dụng pháp luật thống nhất. Tiếp đến là

hạn của tòa án nhân dân tối cao, tòa án cấp cao, tòa án cấp tỉnh, tòa án cấp
huyện thì mỗi cấp xét xử không được tổ chức tương ứng với mỗi cấp tòa án.
Vì vậy, pháp luật tố tụng lại phải có nhiệm vụ phân định thẩm quyền cho phù
hợp.
Thứ hai, hệ thống tòa án của Việt Nam được tổ chức theo địa giới hành
chính lãnh thổ, theo đó, thì ở mỗi tỉnh, huyện đều có tòa án nhân dân. Cách tổ
chức đó dẫn đến nhu cầu phân định thẩm quyền theo lãnh thổ hoặc theo sự
lựa chọn của nguyên đơn để xác định tòa án của địa phương nào có thẩm
quyền giải quyết tranh chấp
Thứ ba, hệ thống tòa án Việt Nam được tổ chức ở bốn cấp: tòa án nhân
dân tối cao, tòa án cấp cao, tòa án nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung
ương (sau đây gọi chung là tòa án nhân dân cấp tỉnh), tòa án huyện, quận, thị
xã, thành phố thuộc tỉnh (sau đây gọi chung là tòa án nhân dân cấp huyện),
quy đinh định này đặt cho pháp luật tố tụng nhiệm vụ là phải quy định những
vụ án nào thuộc thẩm quyền xét xử sơ thẩm của tòa án nhân dân cấp huyện,

14


vụ nào do tòa án nhân dân cấp tỉnh giải quyết, vụ nào thuộc tòa án cấp cao
hoặc tòa án tối cao giải quyết
Thứ tư, theo luật tổ chức tòa án nhân dân 2014 tổ chức tòa chuyên trách
tại tòa án nhân dân cấp cao, cấp tỉnh và cấp huyện (có thể có). Việc tổ chức
như vậy, đòi hỏi phải có sự phân định thẩm quyền giữa các tòa án chuyên
trách trong cùng một tòa án. Vì vậy, pháp luật tố tụng phải quy định thẩm
quyền theo vụ việc nhằm phân định những tranh chấp nào thuộc thẩm quyền
giải quyết cuat Tòa dân sự, những tranh chấp nào thuộc Tòa kinh tế hay Tòa
lao động giải quyết…
c. Căn cứ vào những đòi hỏi khách quan của thực tiễn giải quyết tranh
chấp dân sự

Mặc dù một số ý kiến cho rằng không nên quan niệm cứ nào khó hơn là
thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án nhân dân cấp tỉnh hoặc Thẩm phán
của tòa án nhân dân cấp tỉnh phải giỏi hơn Thẩm phán tòa án nhân dân cấp
huyện. Nhưng trong điều kiện hiện nay, khi mà pháp luật vẫn quy định những
tiêu chuẩn khác nhau đối với thẩm phán của tòa án nhân dân các cấp thì năng
lực và trình độ giải quyết tranh chấp giải quyết tranh chấp dân sự vẫn luôn là
một căn cứ quan trọng để phân định thẩm quyền cho tòa án các cấp.
e. Căn cứ vào tính chất xét xử
Để giải quyết một tranh chấp, pháp luật quy định nhiều thủ tục xét xử,
mỗi thủ tục xét xử lại có những yêu cầu khác nhau nên tính chất xét xử cũng
khác nhau
Đối với thủ tục xét xử sơ thẩm, với tính chất là xét xử lần đầu tiên nên
tòa án sơ thẩm được giải quyết toàn bộ mọi vấn đề của vụ án theo yêu cầu của
đương sự. Đối với xét xử phúc thẩm, với tính chất là tòa án cấp trên trực tiếp
xét lại toàn bộ hoặc từng phần cảu vụ án mà các bản án, quyết định sơ thẩm
chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo, kháng nghị trong thời hạn luật định
nên tòa án cấp phúc thẩm chỉ xem xét những vấn đề trong kháng cáo, kháng
nghị và những vấn đề có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị. Đối với giám
đốc thẩm, tái thẩm với tính chất là xét lại bản án hoặc quyết định đã có hiệu
lực pháp luật nhưng có vi phạm pháp luật trong quá trình xử lý vụ án hoặc có
tình tiết mới được phát sinh làm thay đổi nội dung cơ bản của vụ án nên Hội
đồng giám đốc thẩm và tái thẩm chỉ xem xét việc áp dụng pháp luật, việc giải
quyết vụ án của tòa án cấp dưới có đúng hay không, có tình tiết mới được
16


phát hiện hay không để khắc phục các sai lầm của cấp dưới mà không xét xử
lại về nội dung vụ án
Như vậy, tính chất của các thủ tục xét xử do pháp luật quy định thể hiện
bản chất của các thủ tục xét xử đó, đây chính là cơ sở để xác định nhiệm vụ,

dân sự trên một địa bàn. Sau khi xác định được tòa án cấp nào có thẩm quền
giải quyết, phải cụ thể được tòa án ở địa giới hành nào trong cấp tòa án đó có
thẩm quyền giải quyết. Như vậy, việc phân định thẩm quyền theo lãnh thổ của
tòa án thực chất là sự phân định thẩmm quyền giữa các tòa án cùng cấp, nhằm
lựa chọn được tòa án có điều kiện tốt nhất giải quyết tranh chấp dân sự. Thẩm
quyền giải quyết tranh chấp dân sự theo lãnh thổ của tòa án là quyền của một
tòa án cụ thể thực hiện thủ tục giải quyết một tranh chấp cụ thể theo quy định
của pháp luật.
d. Phân định thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn
Pháp luật về dân sự luôn đề cao quyền tự định đoạt của các bên, và quy
định này cũng đã thể hiện chủ trương đó. Tuy nhiên việc lựa chọn của nguyên
đơn cũng không được trái các quy định của pháp luật dân sự về thẩm quyền
theo lãnh thổ, và các quy định khác, và quy định về thẩm quyền theo sự lựa
chọn của nguyên đơn được quy định cụ thể tại Điều 40 BLTTDS. Nên, thẩm
quyền giải quyết theo sự lựa chon của nguyên đơn là quyền của một tòa án cụ
thể thực hiện các thủ tục giải quyết một tranh chấp dân sự theo thủ tục sơ
thẩm dựa trên sự lựa chọn của nguyên đơn.
Tóm lại, nếu thẩm quyền theo vụ việc xác định vụ việc nào thuộc thẩm
quyền của tòa án, thì thẩm quyền theo cấp xác định tòa án huyện hay tỉnh có
thẩm quyền giải quyết theo thủ tục sơ thẩm vụ việc cụ thể, thẩm quyền theo
lãnh thổ và thẩm quyền theo sự lựa chọn của nguyên đơn xác định cụ thể tòa
án nào có thẩm quyền giải quyết. Việc phân định như vậy đảm bảo không
chông chéo về thẩm quyền trong quá trình giải quyết các vụ việc của các tòa
án và đảm bảo tính kịp thời nhanh chóng trong giải quyết tranh chấp dân sự.

18


CHƯƠNG 2: NHỮNG QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT HIỆN HÀNH
VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT

tòa án.Trường hợp đối tượng tranh chấp là các vật khác nhau của thế giới vật
chất nhưng không phải là tài sản theo quy định của pháp luật dân sự thì tòa án
không có thẩm quyền thụ lý, giải quyết
- Tranh chấp về hợp đồng dân sự
Tranh chấp về hợp đồng dân sự thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết
cùa tòa án bao gồm những tranh chấp phát sinh từ việc giao kết, thực hiện,
sửa đổi và chấm dứt hợp đồng. Ngoài ra, những tranh chấp về các biện pháp
bảo đảm thực hiện nghĩa vụ dân sự như cầm cố, thế chấp, đặt cọc, ký cược, ký
quỹ, bảo lãnh, phạt vi phạm... cũng thuộc thẩm quyền thụ lý và giải quyết của
tòa án. Hiện nay, các tranh chấp phát sinh từ hợp đồng dân sự, hợp đồng
thương mại, hợp đồng lao động đều thuộc thẩm quyền cùa tòa án theo tố tụng
dân sự. Tuy nhiên, cũng cần phân biệt tranh chấp giữa các hợp đồng đó, giúp
cho việc xác định luật nội dung được áp dụng để giải quyết tranh chấp, áp
dụng thời hiệu khởi kiện cũng như tính án phí mà các bên phải chịu.
- Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ, trừ trường
hợp quy định tại Khoản 2 Điều 30 của BLTTDS
Căn cứ khoản 2 Điều 30 BTTDS quy định: “Tranh chấp về quyền sở
hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có
mục đích lợi nhuận” đây được quy định là tranh chấp kinh doanh thương mại.
Như vậy, ở đây, có thể hiểu tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao
công nghệ này là những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công
nghệ, giữa các cá nhân, tổ chức với nhau mà chỉ một bên có mục đích lợi
nhuận hoặc các bên đều không có mục đích lợi nhuận. Khác với tranh chấp về
quyền sở hữu tài sản là động sản và bất động sản, các tranh chấp về quyền sở
hữu trí tuệ thuộc thẩm quyền dân sự của tòa án gồm: tranh chấp về quyền tác
giả, quyền liên quan đến quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp và quyền
đối với giống cây trồng. Ngoài ra, các tranh chấp về hợp đồng chuyển giao
công nghệ cũng thuộc thẩm quyền giải quyết của tòa án. Khi giải quyết các

20


21


thỏa thuận được thì bên bị điều tra có quyền khởi kiện tại Tòa án để yêu cầu
bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật về dân sự. Trong trường hợp
phải bồi thường, cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh phải xác
định trách nhiệm kể cả trách nhiệm vật chất của người đề nghị và những
người có liên quan để có hình thức kỷ luật thoả đáng và bồi hoàn khoản tiền
mà cơ quan quản lý cạnh tranh, Hội đồng cạnh tranh đã bồi thường cho bên bị
điều tra.
- Tranh chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn
nước theo quy định của Luật tài nguyên nước
Theo quy định tại điều 76 Luật tài nguyên nước thì Ủy ban nhân dân
cấp huyện và Bộ tài nguyên và môi trường có trách nhiệm giải quyết tranh
chấp về khai thác, sử dụng tài nguyên nước, xả thải vào nguồn nước; trường
hợp không đồng ý với quyết định giải quyết tranh chấp thì các bên tranh chấp
có quyền khiếu nại đến Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc khởi kiện tại Tòa án
nhân dân theo quy định của pháp luật
- Tranh chấp đất đai theo quy định của pháp luật về đất đai; tranh chấp
về quyền sở hữu, quyền sử dụng rừng theo quy định của Luật bảo vệ và phát
triển rừng
Quyền sử dụng đất là loại tài sản đặc biệt, do vậy, các tranh chấp về
quyền sử dụng đất thực chất cũng là một dạng của tranh chấp về tài sản.
Quyền sử dụng đất được coi là tài sản và được pháp luật bảo hộ nếu như
người sừ dụng đất có đủ giấy tờ cần thiết chứng minh quyền sử dụng hợp
pháp của mình. Theo quy định cùa Luật Đất đai năm 2013, tranh chấp đất đai
mà đương sự có Giấy chứng nhận hoặc có một trong các loại giấy tờ quy định
tại Điều 100 của Luật đất đai 2013, và tranh chấp về tài sản gắn liền với đất
thì do Tòa án nhân dân giải quyết. Ngoài ra, nếu không có Giấy chứng nhận

sản nếu nộp đủ tiền thi hành án và thanh toán các chi phi thực tế, hợp lý đã
phát sinh từ việc cưỡng chế thi hành án, tổ chức bán đấu giá. Người phải thi
hành án có trách nhiệm hoàn trả phí tổn thực tế, hợp lý cho người đăng ký
mua tài sản. Mức phí tổn do các bên thoà thuận; nếu không thỏa thuận được
thì yêu cầu Toà án giải quyết (Khoản 5 Điều 101 Luật Thi hành án dân sự).

24


Trong trường hợp không đồng ý vói kết quả bán đấu giá, đương sự, Chấp
hành viên có quyền khởi kiện yêu cầu Toà án giải quyết tranh chấp về kết quả
bán đấu giá tài sản (Khoản 2 Điều 102 Luật Thi hành án dân sự).
- Các tranh chấp khác về dân sự, trừ trường hợp thuộc thẩm quyền giải
quyết của cơ quan, tổ chức khác theo quy định của pháp luật
2.1.2. Tranh chấp hôn nhân, gia đình thuộc thẩm quyền của tòa án
Theo Điều 28, BLTTDS, các tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc
thẩm quyền giải quyết của tòa án:
- Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn; chia tài sản
sau khi ly hôn.
Điều 59 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định về nguyên tắc
chia tài sản khi ly hôn, theo đó, việc chia tài sản khi ly hôn do các bên thỏa
thuận; nếu không thỏa thuận được thì yêu cầu tòa án giải quyết.... Tài sản
chung của vợ chồng về nguyên tắc được chia đôi, nhưng có xem xét hoàn
cảnh của của gia đình vợ, chồng; Công sức đóng góp của vợ, chồng vào việc
tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung. Lao động của vợ, chồng trong
gia đình được coi như lao động có thu nhập; Bảo vệ lợi ích chính đáng của
mỗi bên trong sản xuất, kinh doanh và nghề nghiệp để các bên có điều kiện
tiếp tục lao động tạo thu nhập; Tài sản riêng của vợ, chồng thuộc quyền sở hữu
của người đó, trừ trường hợp tài sản riêng đã nhập vào tài sản chung theo quy
định của Luật này.Trong trường hợp có sự sáp nhập, trộn lẫn giữa tài sản riêng


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status