VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
NGUYỄN THỊ TRANG
ĐÀO XUÂN HỘ
I
GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI THẾ HỆ TRẺ
Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG HIỆN NAY
Chuyên ngành: CNDVBC & CNDVLS
Mã số: 9229002
TÓM TẮT LUẬN ÁN TIẾN SĨ TRIẾT HỌC
HÀ NỘI - 2018
Công trình được hoàn thành tại:
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
VIỆN NGÔN NGỮ HỘC VIỆN KHOA HỌC XÁC HỘI V
IỆT NAM
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. NGUYỄN XUÂN TẾ
Phản biện 1: GS.TS. Nguyễn Văn Tài
Phản biện 2: GS.TS. Trần Văn Phòng
Phản biện 3: PGS.TS. Nguyễn Anh Tuấn
hội, trước hết và trực tiếp là của từng địa phương trong vùng. Từ
những vấn đề trên cũng chính là lý do để nghiên cứu sinh chọn
hướng nghiên cứu "Giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở đồng
bằng sông Cửu Long hiện nay" làm đề tài luận án tiến sĩ triết học,
chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy vật
lịch sử.
2. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của luận án
Mục đích: Trên cơ sở làm rõ một số vấn đề lý luận về gia đình,
giáo dục của gia đình và thực trạng giáo dục của gia đình đối với thế
hệ trẻ ở ĐBSCL, luận án đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao
hiệu quả giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở ĐBSCL hiện nay.
Nhiệm vụ: Thứ nhất, tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến
đề tài luận án. Thứ hai, làm rõ một số vấn đề lý luận về gia đình và
giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay. Thứ ba,
phân tích thực trạng giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở ĐBSCL
và những vấn đề đặt ra. Thứ tư, đề xuất một số giải pháp nhằm nâng
cao hiệu quả giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở ĐBSCL hiện
nay.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của luận án
Đối tượng nghiên cứu: Luận án tập trung nghiên cứu giáo dục
của gia đình đối với thế hệ trẻ chủ yếu lứa tuổi vị thành niên chịu sự
nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục của gia đình ở ĐBSCL hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu: Về không gian: luận án nghiên cứu về giáo
dục của gia đình đối với thế hệ trẻ vùng ĐBSCL. Về thời gian:
nghiên cứu việc giáo dục của gia đình đối với thế ở ĐBSCL hiện nay,
khảo sát từ năm 2005 đến nay.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu của luận án
Cơ sở lý luận: Luận án nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của chủ
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
LIÊN QUAN ĐẾN LUẬN ÁN
1.1. Những công trình nghiên cứu về gia đình, giáo dục của gia
đình và vai trò giáo dục của gia đình ở Việt Nam hiện nay
1.1.1. Những công trình nghiên cứu về gia đình, giáo dục của
gia đình ở Việt Nam hiện nay
“Văn hóa gia đình Việt Nam và sự phát triển xã hội” do Lê Minh
(chủ biên), Nxb Lao động, Hà Nội, 1995. “Gia đình Việt Nam với
chức năng xã hội hóa” của Lê Ngọc Văn, Nxb Giáo dục, 1996. “Văn
hóa gia đình Việt Nam” tác giả Vũ Ngọc Khánh, Nxb Văn hóa Dân
tộc, 1998. “Gia đình và dân tộc” của tác giả Nguyễn Thế Long, Nxb.
Lao động, Hà Nội, 1999. “Gia đình Việt Nam trong bối cảnh đất
nước đổi mới” của Lê Thi, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội, 2002. “Tục
ngữ ca dao về quan hệ gia đình” tác giả Phạm Việt Long, Nxb Chính
trị quốc gia, Hà Nội, 2004. Trong công trình “Gia đình học” của tác
giả Đặng Cảnh Khanh và Lê Thị Quý, Nxb Chính trị - Hành chính,
Hà Nội, 2009. “Nghiên cứu gia đình và giới” của tác giả Nguyễn
Hữu Minh và Trần Thị Vân Anh đồng chủ biên, Nxb Khoa học xã
hội, 2009. “Gia đình và giáo dục gia đình” của các tác giả Nguyễn
Thị Phương Thủy và Nguyễn Thị Thọ, Nxb Chính trị quốc gia, Hà
Nội, 2014.
1.1.2. Những công trình nghiên cứu về vai trò giáo dục của gia
đình ở Việt Nam hiện nay
Đề tài cấp nhà nước KX 07.09 “Vai trò gia đình trong sự hình
thành và phát triển nhân cách của con người Việt Nam” được thực
hiện bởi Trung tâm Nghiên cứu về gia đình và phụ nữ, tác giả Lê Thi
Tác, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và Chủ nghĩa duy
vật lịch sử đã được in thành sách, Nxb Thanh niên, 2011. “Gia đình
và biến đổi gia đình ở Việt Nam”, của tác giả Lê Ngọc Văn, Nxb
Khoa học xã hội, Hà Nội, 2012. “Tác động của kinh tế thị trường đến
chức năng gia đình ở Việt Nam hiện nay”, Luận án tiến sĩ triết học
của Phạm Thị Bình, chuyên ngành Chủ nghĩa duy vật biện chứng và
Chủ nghĩa duy vật lịch sử, Hà Nội, 2012.
1.2.2. Những công trình nghiên cứu liên quan đến thực trạng
giáo dục của gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long
“Phụ lục báo cáo đánh giá tác động xã hội” trong Dự án Quản lí
thủy lợi phục vụ phát triển nông thôn vùng ĐBSCL của Viện Xã hội
học, Hà Nội, 2011. “Văn hóa người Việt vùng Tây Nam Bộ”, Trần
Ngọc Thêm (chủ biên), Nxb Văn hóa - Văn nghệ, Tp. Hồ Chí Minh,
2014. “Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực vùng Tây Nam Bộ trong
tiến trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa” tác giả Hoàng
Mạnh Tưởng, Tạp chí Khoa học Chính trị, 2015. Đề cập đến văn hóa
vùng đất Nam Bộ, Hội Khoa học lịch sử Việt Nam, “Lược sử vùng đất
Nam bộ Việt Nam”, Nxb Thế giới, Hà Nội, 2008; “Đồng bằng sông
Cửu Long vùng đất - con người”, Nxb Quân đội nhân dân, Hà Nội,
2010; “Đặc điểm văn hóa Đồng bằng sông Cửu Long”, Trần Phỏng
Điều (biên soạn), Nxb Văn hóa thông tin, 2014.
1.3. Những công trình nghiên cứu về giải pháp giáo dục của
gia đình ở Việt Nam nói chung và những công trình liên quan
đến giải pháp giáo dục của gia đình ở đồng bằng sông Cửu Long
nói riêng
1.3.1. Những công trình nghiên cứu về giải pháp giáo dục của
“Kiến nghị cho giáo dục Đồng bằng sông Cửu Long”, Lưu Phước
Lượng, Phó Trưởng ban chỉ đạo Tây Nam bộ, báo Sài Gòn giải
phóng, tháng 9/2009.
1.4. Đánh giá chung về tình hình nghiên cứu và một số vấn
đề đặt ra mà luận án cần tiếp tục giải quyết
Kế thừa những thành tựu của các nhà nghiên cứu đi trước, luận án
đặt mục tiêu tiếp tục giải quyết những vấn đề như sau: Thứ nhất, làm
rõ một số vấn đề lý luận về giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở
Việt Nam hiện nay. Thứ hai, phân tích thực trạng giáo dục của gia
đình đối với thế hệ trẻ ở ĐBSCL và những vấn đề đặt ra. Thứ ba, đề
xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả giáo dục của gia đình
đối với thế hệ trẻ ở ĐBSCL hiện nay.
Chương 2
GIA ĐÌNH VÀ GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH ĐỐI VỚI
THẾ HỆ TRẺ Ở VIỆT NAM HIỆN NAY
2.1. Quan niệm về gia đình, giáo dục gia đình và vai trò giáo
dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở Việt Nam
2.1.1. Khái niệm gia đình và mối quan hệ giữa gia đình và xã
hội
Khái niệm gia đình. Gia đình là một nhóm người được hình
thành, tồn tại và phát triển trên cơ sở các quan hệ cơ bản là quan hệ
hôn nhân, quan hệ huyết thống và quan hệ nuôi dưỡng giữa các thành
viên. Giữa họ có chung những giá trị vật chất, tinh thần và cùng thực
hiện các chức năng phù hợp với yêu cầu của mỗi giai đoạn lịch sử
nhất định.
Mối quan hệ giữa gia đình và xã hội. Thứ nhất, trình độ phát
triển kinh tế - xã hội quy định hình thức, quy mô và kết cấu của gia
nhanh, bền vững của xã hội.
2.2. Nội dung và phương pháp giáo dục của gia đình đối với
thế hệ trẻ ở Việt Nam hiện nay
2.2.1. Những nội dung giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ
ở Việt Nam hiện nay
Một là, giáo dục đạo đức, lối sống. Chủ yếu là giáo dục lòng hiếu
thảo đối với ông bà, cha mẹ, giáo dục thái độ ứng xử giữa anh chị
em, giáo dục lòng nhân ái, yêu thương con người, yêu quê hương đất
nước, giáo dục tính khiêm tốn, đức tính trung thực.
Hai là, giáo dục tri thức. Bao gồm nội dung toàn diện: tri thức
làm người, tri thức khoa học - kỹ thuật, tri thức chính trị - xã hội, tri
thức nghề nghiệp… Tuy nhiên, trong phạm vi gia đình, giáo dục chủ
yếu là tri thức làm người, là giáo dục thái độ học tập cho thế hệ trẻ.
Ba là, giáo dục lao động. Giáo dục thái độ, kỹ năng, thói quen,
tình cảm, kỷ luật lao động, quý trọng sản phẩm của lao động, giáo
dục cho thế hệ trẻ phải tôn trọng, quý mến người lao động, bất kể là
họ lao động chân tay hay trí óc.
Bốn là, giáo dục sức khoẻ, thẩm mỹ. Giáo dục cho thế hệ trẻ thấy
sự cần thiết, quan trọng của sức khoẻ đối với mỗi người cũng như đối
với gia đình và xã hội. Giáo dục thẩm mỹ nhằm giúp thế hệ trẻ biết
cảm thụ cái đẹp, phân biệt được cái đẹp và cái xấu, giáo dục tình yêu
cái đẹp, thực hành cái đẹp.
Năm là, giáo dục giới tính. Giáo dục giới tính là hệ thống các biện
pháp tâm, sinh lý nhằm giáo dục thế hệ trẻ có thái độ đúng đắn đối
với các vấn đề về giới và giới tính. Giúp cho các em có được những
kiến thức về cơ thể học, sinh lý học, chức năng sinh sản.
sống, đã góp phần nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của
mọi tầng lớp nhân dân. Bên cạnh đó thì các gia đình cũng gặp những
vấn đề khó khăn trong công việc, cuộc sống, trong giáo dục con cái.
2.3.4. Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
Toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo điều kiện phát triển kinh tế,
chính trị, văn hóa, xã hội, giúp thay đổi diện mạo của nhiều gia đình
theo hướng tích cực về bình đẳng giới và quyền của trẻ em, quyền tự
do, dân chủ… Mặt trái của nó cũng gây tác động tiêu cực đó là
cường điệu giá trị của tự do và chủ nghĩa cá nhân cực đoan, lối sống,
mẫu hình gia đình của phương Tây khác lạ...
2.3.5. Chính sách văn hóa - giáo dục của Đảng và Nhà nước
Việt Nam
Đảng và Nhà nước ta cũng đã và đang tập trung cho giáo dục, coi
giáo dục là quốc sách hàng đầu. Những thành tựu của giáo dục thời
gian qua một phần là do chính sách giáo dục đúng đắn của Đảng và
Nhà nước, truyền thống giáo dục đúng đắn của bao thế hệ Việt Nam
và công lao giáo dục con cái của các bậc cha mẹ.
Kết luận chương 2
Chương 3
THỰC TRẠNG GIÁO DỤC CỦA GIA ĐÌNH
ĐỐI VỚI THẾ TRẺ Ở ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG
VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA
3.1. Khái quát về những điều kiện ảnh hưởng đến giáo dục
của gia đình đối với thế hệ trẻ ở đồng bằng sông Cửu Long
3.1.1. Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội và văn hóa vùng
điều kiện giao thông đi lại khó khăn, điều kiện sinh hoạt văn hóa gia
đình còn hạn chế. Thứ năm, các tập tục, tập quán như ma chay, cưới
hỏi, lễ tết nặng nề về hình thức, gây lãng phí về thời gian, tiền của.
Thứ sáu, trình độ học vấn của các bậc cha mẹ ở ĐBSCL còn thấp.
Thuận lợi: Tâm lý cởi mở, đậm nét dân chủ trong mỗi gia đình
tạo nên các thế hệ gần gũi nhau hơn, dễ dàng cho việc giáo dục con
cái của các bậc cha mẹ.
Khó khăn: Một là, lối sống lề mề, chậm chạp, không biết tận dụng,
không biết quý trọng thời gian làm chậm sự phát triển. Hai là, suy nghĩ
giản đơn, ít có sự nhìn xa, trông rộng để có sự đầu tư cho con cái trong
tương lai về vấn đề học hành, sự nghiệp. Ba là, trình độ học của những
người làm cha làm mẹ thấp nên còn nhiều bất cập trong giáo dục con trẻ.
3.2. Những thành tựu, hạn chế trong giáo dục của gia đình
đối với thế hệ trẻ ở đồng bằng sông Cửu Long những năm qua
3.2.1. Giáo dục đạo đức, lối sống
Việc giáo dục đạo đức, lối sống của các gia đình ở các tỉnh vùng
ĐBSCL luôn được coi trọng, duy trì và phát triển bền vững. Gia đình
cả thành thị và nông thôn, nội dung giáo dục đạo đức, lối sống cũng
có sự thay đổi phù hợp với sự thay đổi của xã hội trong thời kỳ đổi
mới. Số gia đình văn hóa ở các tỉnh trong vùng không ngừng tăng.
Năm 2014, toàn tỉnh Vĩnh Long có 255.068/tổng số 259.300 hộ đang
cư trú trên địa bàn đăng ký cuộc vận động, qua kết quả chấm điểm có
240.551 hộ gia đình đạt chuẩn văn hóa (chiếm tỷ lệ 92,76%), tăng
7.632 hộ so với cuối năm 2013. Năm 2014, toàn tỉnh Đồng Tháp có
378.685/426.796 gia đình đạt chuẩn văn hóa, đạt tỷ lệ 88,73%, so với
năm 2013 đạt 88,12%, tăng 0,61% . Bên cạnh đó cũng gặp một số
khó khăn, hạn chế: tội phạm vị thành niên trong vùng vẫn diễn biến
gia đình khó khăn nên tích cực hoạt động lao động. Các bậc cha mẹ ở
vùng ĐBSCL còn khuyến khích con cái phải biết năng động, sáng tạo
trong lao động, tạo cho trẻ có tính tự lập cao. Nhiều gia đình đã định
hướng nghề nghiệp cho con ngay từ khi còn nhỏ, nhất là các nghề
truyền thống lâu đời của gia đình. tỉnh Tiền Giang, với hơn 6.000 cơ sở
và 13 làng nghề; tỉnh Vĩnh Long, hiện có 23 làng nghề; thành phố Cần
Thơ 32 làng nghề. Nhiều bậc cha mẹ đã có những tư tưởng tiến bộ,
định hướng từ nhỏ cho con học lên cao để sau này có nghề nghiệp ổn
định. Bên cạnh những thành tựu, giáo dục lao động, định hướng nghề
nghiệp cho thế hệ trẻ ở vùng ĐBSCL vẫn còn một số hạn chế nhất định
như: có sự không đồng đều giữa thành thị, nông thôn giữa các gia đình
có thu nhập cao và gia đình có thu nhập thấp, giữa con trai và con gái.
3.2.4. Giáo dục sức khỏe, thẩm mỹ
Đa số các gia đình chú ý chăm sóc, giáo dục thế hệ trẻ ăn uống
hằng ngày hợp vệ sinh và hợp lý trong điều kiện gia đình mình.
Nhiều gia đình đã xây dựng nhà vệ sinh riêng, năm 2008 toàn vùng
có 35,2% hộ có nhà vệ sinh; năm 2014 tăng lên 61,1%. Tỷ lệ hộ sử
dụng nguồn nước hợp vệ sinh trong vùng cũng liên tục tăng, năm
2008 chỉ có 80,6%; năm 2014 là 89,1% . Các gia đình chú ý xây
dựng chuồng trại chăn nuôi gia súc, gia cầm cách xa nhà. Nhiều gia
đình tích cực hưởng ứng phong trào “nuôi con khỏe, dạy con ngoan”
và tạo điều kiện cho trẻ rèn luyện sức khỏe, chơi thể thao. Việc giáo
dục thẩm mỹ cho con cái được các bậc cha mẹ ở ĐBSCL luôn chú
trọng. Cha mẹ còn luôn chỉ bảo thế hệ trẻ hiểu và phân biệt xấu đẹp,
trong quan hệ giao tiếp, trong lao động… Mặc dù có những thành tựu
bên cạnh đó vẫn còn nhiều hạn chế. Một số gia đình ở ĐBSCL vẫn
chưa chú trọng quan tâm đến giáo dục sức khỏe cho con cái. Một số
3.3. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong giáo
dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở đồng bằng sông Cửu Long
và những vấn đề đặt ra
3.3.1. Nguyên nhân của những thành tựu và hạn chế trong
giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ ở đồng bằng sông Cửu
Long những năm qua
Nguyên nhân của những thành tựu. Một là, trình độ hiểu biết
của các bậc cha mẹ ngày được nâng cao, sự quan tâm của các bậc cha
mẹ đối với con cái ngày càng tăng. Hai là, công cuộc đổi mới và phát
triển kinh tế - xã hội đã tạo điều kiện vật chất, tinh thần cho hoạt
động giáo dục thế hệ trẻ của gia đình ở ĐBSCL. Ba là, công tác gia
đình và giáo dục của gia đình đã nhận được sự quan tâm của Đảng,
chính quyền, toàn thể nhân dân, các cấp, các ngành ở ĐBSCL.
Nguyên nhân của những hạn chế. Một là, một bộ phận không
nhỏ gia đình ở ĐBSCL còn gặp nhiều khó khăn trong đời sống kinh
tế, thiếu việc làm, thu nhập thấp ... Hai là, một số gia đình ở ĐBSCL
nhận thức chưa đúng, chưa rõ về tầm quan trọng, về nội dung và
phương pháp giáo dục của gia đình đối với thế hệ trẻ. Ba là, sự thiếu
gương mẫu về đạo đức và lối sống của người làm cha làm mẹ trong
một số gia đình. Bốn là, sự phối, kết hợp, giữa giáo dục gia đình, nhà
trường và xã hội còn nhiều hạn chế. Năm là, sự lãnh đạo của Đảng,
chính quyền và các đoàn thể chính trị - xã hội đối với vấn đề xây
dựng gia đình và giáo dục của gia đình ở vùng ĐBSCL.
3.3.2. Những vấn đề đặt ra trong giáo dục của gia đình đối với
thế hệ trẻ ở đồng bằng sông Cửu Long hiện nay
Thứ nhất, cần phải làm gì để nâng cao hiệu quả giáo dục đạo đức,
Thứ nhất, những bậc cha mẹ ở ĐBSCL phải là một tấm gương về
đạo đức, lối sống cho thế hệ trẻ học tập và noi theo. Thứ hai, những
bậc làm cha làm mẹ cần phải tự nâng cao trình độ, trau dồi kinh
nghiệm. Thứ ba, cần phải thống nhất nội dung, phương pháp giáo dục
giữa các thành viên. Thứ tư, trong việc giáo dục con cái cha mẹ cần
nắm vững đặc điểm tâm lý lứa tuổi và đặc điểm cá nhân từng đứa trẻ:
4.1.3. Tăng cường kết hợp chặt chẽ, sự thống nhất giữa gia
đình, nhà trường và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục của gia
đình đối với thế hệ trẻ ở ĐBSCL
Mỗi thiết chế có những đặc trưng riêng, sức mạnh riêng nhưng
đều có một mục tiêu là nhằm phát triển con người toàn diện, phù hợp
với yêu cầu xã hội yêu cầu của đất nước, yêu cầu của thời đại đặt ra.
Vì vậy, Tăng cường sự phối kết hợp chặt chẽ, sự thống nhất giữa gia
đình, nhà trường và xã hội để nâng cao hiệu quả giáo dục của gia
đình đối với thế hệ trẻ ở ĐBSCL.
4.2. Các giải pháp về kinh tế
4.2.1. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp
và nông thôn, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát huy tác dụng của
cơ cấu kinh tế nhiều thành phần, chú trọng phát triển kinh tế hộ
gia đình vùng đồng bằng sông Cửu Long
Vùng ĐBSCL phải đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá nhất
là công nghiệp hoá hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn. Trong
những năm tới, vùng ĐBSCL cần đảm bảo quá trình chuyển dịch cơ
cấu theo hướng khai thác thế mạnh vốn có của vùng một cách bền
vững, tập trung xây dựng hai loại cơ cấu chính đó là cơ cấu ngành
và cơ cấu các thành phần kinh tế.
thiết chế văn hóa; tạo điều kiện để người dân chủ động tham gia các
hoạt động văn hóa cộng đồng.
4.3.3. Đẩy mạnh chương trình xoá đói giảm nghèo bền vững,
nâng cao mức hưởng thụ giáo dục và dịch vụ y tế của các gia đình
vùng đồng bằng sông Cửu Long
Đẩy mạnh chương trình xoá đói giảm nghèo bền vững
Về giáo dục: cần đầu tư mạnh về tài chính; cần hoàn thiện mạng
lưới trường học; đổi mới nội dung, thay đổi phương pháp dạy.
Về y tế: tăng cường dịch vụ y tế từ tuyến xã, có chính sách y tế
bảo hiểm rộng rãi, xây dựng thêm cơ sở vật chất cho các trạm y tế ở
cơ sở, cần làm tốt công tác truyền thông.
4.3.4. Đấu tranh phòng ngừa và chống các tệ nạn xã hội tạo
môi trường lành mạnh cho giáo dục thế hệ trẻ trong gia đình vùng
đồng bằng sông Cửu Long
Quy định rõ ràng và đầy đủ các hành vi cũng như chế tài xử lý đối
với những hành vi vi phạm; chú trọng đến công tác phòng ngừa; tập
trung tuyên truyền, giáo dục nâng cao nhận thức, hiểu biết của người
dân, cho các bậc cha mẹ, thanh niên, học sinh, sinh viên…
4.3.5. Cần tạo điều kiện để phát huy vai trò của người mẹ đối
với giáo dục thế hệ trẻ trong gia đình vùng đồng bằng sông Cửu
Long
Chính sách chăm sóc sức khoẻ sinh sản cho phụ nữ và kế hoạch
hoá gia đình; phòng chống bạo lực trong gia đình đối với phụ nữ;
thực hiện và phối hợp giám sát thực hiện các chính sách ưu tiên của
nhà nước, của các tỉnh trong vùng đối với các đối tượng phụ nữ .
vào việc bảo tồn và phát huy văn hóa gia đình cũng như văn hóa dân
tộc Việt Nam; góp phần đảm bảo sự phát triển nhanh, bền vững của
xã hội. Giáo dục gia đình có nội dung toàn diện, nhiều mặt nhưng có
thể khái quát thành những nội dung cơ bản sau đây: giáo dục đạo
đức, lối sống; giáo dục tri thức; giáo dục lao động, nghề nghiệp; giáo
dục sức khỏe, thẩm mỹ; giáo dục giới tính. Phương pháp gia đình
cũng hết sức phong phú, linh hoạt, tùy thuộc vào điều kiện và hoàn
cảnh cụ thể, nhưng về cơ bản gồm: phương pháp thuyết phục khuyên
bảo; phương pháp thông qua lao động hằng ngày; phương pháp nêu
gương; phương pháp phân hóa và cá biệt; phương pháp khen thưởng,
trách phạt. Hiện nay, giáo dục gia đình cũng như các môi trường giáo
dục khác, cũng chịu tác động của nhiều nhân tố, các nhân tố này
không tác động một cách riêng rẽ, mà tác động một cách kết hợp
đồng thời với nhau, có cả tích cực và tiêu cực vì thế gia đình phải
phát huy lợi thế từ các nhân tố, hạn chế những tác động tiêu cực
trong quá trình giáo dục thế hệ trẻ.
Là một vùng đồng bằng châu thổ rộng lớn, ĐBSCL là vùng đất
được thiên nhiên ban tặng khí hậu thuận hòa, đất đai màu mỡ, với
thủy hải sản phong phú. Gia đình ở ĐBSCL ngoài những đặc điểm
chung của gia đình Việt Nam thì những đặc điểm về địa lý, lịch sử,
văn hóa quy định gia đình ở ĐBSCL có những đặc điểm riêng: có lối
sống phóng khoáng, hào hiệp, tự do, đôi khi thiếu tính kế hoạch trở
thành một tính cách đặc trưng của mỗi con người, mỗi gia đình trên
vùng đất trù phú này; quan hệ giữa các thành viên trong gia đình ông
bà, cha mẹ, con cái ở ĐBSCL tương đối bình đẳng, hòa thuận, gần
gũi giữa các thế hệ kể cả con dâu, con rể ít có vùng miền nào có
được; trong mỗi gia đình không khí dân chủ đậm nét;truyền thống gia
đình gắn với truyền thống văn hóa nông nghiệp, các tập tục, tập quán