Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đời sống tinh thần của người dân Việt Nam hiện nay (tt) - Pdf 41

HC VIN CHNH TR QUC GIA H CH MINH

HONG THU TRANG

ảNH HƯởNG CủA ĐạO ĐứC NHO GIáO ĐốI VớI
ĐờI SốNG TINH THầN CủA NGƯờI VIệT NAM HIệN NAY

TểM TT LUN N TIN S
CHUYấN NGNH: CH NGHA DUY VT BIN CHNG
V CH NGHA DUY VT LCH S
Mó s: 62 22 03 02

H NI - 2017


Công trình được hoàn thành tại
Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Nguyễn Thế Kiệt
2. TS. Phan Mạnh Toàn

Phản biện 1:.........................................................
.........................................................

Phản biện 2:.........................................................
.........................................................

Phản biện 3:.........................................................
.........................................................

Luận án sẽ được bảo vệ trước Hội đồng chấm luận án cấp Học viện

quan hệ xã hội, trong ứng xử giữa người với người, trong phong tục, tập quán, trong
nghi thức thờ cúng, trong những tín ngưỡng cổ truyền và vô vàn những lát cắt khác
nhau của đời sống. Đạo đức Nho giáo vẫn có những ảnh hưởng nhất định trong đời
sống tinh thần của người dân Việt Nam hiện nay theo cả hai hướng tích cực và tiêu
cực cho dù người ta có muốn hay không.
Vấn đề nảy sinh ở chỗ, đúng là những hạn chế, tiêu cực trong đạo đức Nho
giáo cần phải được loại bỏ để nó không cản trở sự phát triển của xã hội mới nhưng
những ảnh hưởng tích cực của nó thì cần được lưu giữ và phát huy. Vai trò của đạo
đức Nho giáo càng được khẳng định nhất là trong bối cảnh ngày nay khi chúng ta
đang phải đối mặt với những tác động tiêu cực nảy sinh từ mặt trái của thể chế kinh tế
thị trường và quá trình hội nhập đã góp phần làm cho đạo đức xã hội xuống dốc một
cách nghiêm trọng. Không ít vấn đề được xem như đạo lý xưa nay bị đảo lộn khi mà
sự lên ngôi của đồng tiền đã khiến cho tình cảm giữa con người với con người trở
thành một thứ xa xỉ, khi mà cha mẹ bị con cái bạc đãi, đánh đập, khi mà người ta có
thể sống vô cảm, thờ ơ trước nỗi đau của người khác… Trước thực trạng đó, nhiều
người tỏ ra nuối tiếc đạo đức Nho giáo.


2
Không những thế, gần đây, một số nước trong khu vực vốn chịu ảnh hưởng
của lễ giáo đạo Nho như Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapo… do biết khai thác tốt những
ảnh hưởng tích cực của đạo đức Nho giáo đã góp phần tạo nên những bước phát triển
kinh tế vượt bậc càng củng cố thêm sự nuối tiếc ấy. Thực tế, cách làm của một số
nước Châu Á trong việc khai thác những giá trị tích cực của Nho giáo, đạo đức Nho
giáo nhằm xây dựng và phát triển xã hội hiện đại đã trở thành bài học kinh nghiệm
sâu sắc đối với Việt Nam trong việc lựa chọn cách thức ứng xử hợp lý với Nho giáo
nói chung, đạo đức Nho giáo nói riêng.
Với vai trò là nền tảng của hệ tư tưởng phong kiến, Nho giáo đã hết thời từ lâu
ở Việt Nam cũng như ở quê hương của nó. Nhưng với tính cách là giá trị của di sản
văn hóa, nó vẫn không bị lãng quên. Do đó, việc tìm ra những ảnh hưởng tích cực và

Vì đời sống tinh thần nói chung rất rộng, bao gồm nhiều lĩnh vực khác nhau.
Do vậy, ở đây, luận án chỉ tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo
trên ba lĩnh vực cơ bản trong đời sống tinh thần người Việt Nam hiện nay, cụ thể là:
đời sống chính trị, đời sống pháp luật và đời sống đạo đức.
4. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
- Luận án dựa trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, các chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách pháp luật của Nhà nước về
con người và văn hóa, đạo đức, về đời sống tinh thần…
- Tiếp thu, kế thừa có chọn lọc và phát triển những giá trị khoa học của một số
công trình nghiên cứu đã công bố liên quan đến nội dung của luận án.
- Luận án dựa trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng
và chủ nghĩa duy vật lịch sử, sử dụng các phương pháp: phương pháp lịch sử và lôgíc,
phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp qui nạp và diễn dịch, phương pháp
đối chiếu, so sánh… để thực hiện mục tiêu và nhiệm vụ mà luận án đặt ra.
5. Đóng góp mới của luận án
- Bước đầu làm rõ nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo Trung Quốc và quá
trình du nhập, biến đổi của chúng trong Nho giáo ở Việt Nam trên cơ sở luận giải
những nhân tố tác động đến sự biến đổi ấy.
- Phân tích những ảnh hưởng tích cực cũng như tiêu cực của đạo đức Nho giáo
đến một số lĩnh vực cụ thể của đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay như:
đời sống chính trị, đời sống pháp luật, đời sống đạo đức và chỉ ra những nguyên nhân
của của sự ảnh hưởng.
- Đưa ra phương hướng và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát huy ảnh hưởng
tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong việc xây dựng đời
sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận án
- Luận án góp phần vào việc tìm hiểu đạo đức Nho giáo và ảnh hưởng của nó
với đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay, từ đó đề ra các giải pháp nhằm
phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong
việc xây dựng đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay.

những năm trở lại đây cũng cho chúng ta một cái nhìn khá toàn diện về nội dung cơ
bản trong những quan niệm đạo đức Nho giáo. Đồng thời các công trình này cũng
đưa ra những đánh giá về mặt tích cực và tiêu cực của các quan niệm đạo đức Nho
giáo theo ý kiến riêng của từng tác giả căn cứ vào góc độ nghiên cứu khác nhau ở
cùng một vấn đề. Tiêu biểu có thể kể đến các công trình như: Bàn về Khổng Tử (Nxb
Sự thật, Hà Nội 1963) của Quan Phong, Lâm Duật Thời, Nho gia với Trung Quốc
ngày nay (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 1996) của Vi Chính Thông, Đạo hiếu
trong Nho gia (Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội 2014) của Cao Vọng Chi…
Ngoài ra còn rất nhiều những công trình nghiên cứu dưới dạng các bài tạp chí,
các luận văn, luận án có liên quan đến vấn đề này.
Có thể thấy rằng, những công trình trên đã cung cấp cho tác giả luận án một cái
nhìn hết sức đầy đủ, sâu sắc và khá toàn diện quá trình ra đời, phát triển của Nho
giáo, đạo đức Nho giáo, những nội dung cơ bản trong quan niệm của Nho giáo về
đạo đức cũng như toàn bộ quá trình du nhập, phát triển, biến đổi của đạo đức Nho
giáo ở Việt Nam trong từng thời kỳ lịch sử trải qua các triều đại phong kiến. Do đó, ở


5
chương 2 trong nội dung của luận án, khi nghiên cứu về đạo đức Nho giáo Trung
Quốc và đạo đức Nho giáo ở Việt Nam, tác giả luận án không kì vọng đem đến một
sự hiểu biết mới nào về vấn đề này. Kế thừa thành quả nghiên cứu của những người
đi trước, luận án chỉ tập hợp, khái quát lại một cách hệ thống nguồn gốc ra đời và một
số nội dung chủ yếu của đạo đức Nho giáo Trung Quốc; quá trình du nhập, những
nhân tố ảnh hưởng đến sự biến đổi của đạo đức Nho giáo ở Việt Nam cũng như chỉ ra
những nét riêng của đạo đức Nho giáo ở Việt Nam qua tư tưởng của một số nhà nho
Việt tiêu biểu.
1.2. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ ĐỜI SỐNG TINH THẦN VÀ
ẢNH HƯỞNG CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG TINH THẦN
CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY


đối với đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay - thực trạng và nguyên nhân.
Tuy nhiên, đôi khi, do giới hạn về mặt thời lượng nghiên cứu hay một yếu tố nào đó,
nhiều công trình chủ yếu chỉ dừng lại ở mức nêu ra tên những ảnh hưởng tích cực và
tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong xã hội phong kiến Việt Nam là gì và khẳng định
những ảnh hưởng của nó còn kéo dài cho tới tận ngày nay chứ ảnh hưởng của nó đối
với các lĩnh vực cụ thể trong đời sống tinh thần người Việt hiện nay diễn ra như thế
nào, tác động ra sao, theo phương thức gì thì nhìn chung các tác giả đề cập chưa
nhiều. Nhiều công trình luận văn, luận án phân tích cụ thể hơn về ảnh hưởng của lễ
giáo đạo Nho đối với đời sống tinh thần người Việt hiện nay theo cả hai hướng tích
cực và tiêu cực nhưng chủ yếu nhóm công trình này mới tập trung nghiên cứu ảnh
hưởng của đạo đức Nho giáo đến đời sống đạo đức - chỉ là một trong những bộ phận
cụ thể của đời sống tinh thần… Do đó, ở chương này, luận án tiếp tục mở rộng và
làm sâu sắc thêm những ảnh hưởng cụ thể của đạo đức Nho giáo trong đời sống tinh
thần người Việt Nam hiện nay ở những lĩnh vực cơ bản nhất của nó bao gồm: đời
sống chính trị, đời sống pháp luật, đời sống đạo đức. Ở chương này, tác giả cũng làm
rõ thêm phương thức ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đời sống tinh thần
người Việt hiện nay để trả lời cho câu hỏi tại sao khi những cơ sở kinh tế, chính trị,
xã hội cho sự tồn tại của Nho giáo, đạo đức Nho giáo gần như đã không còn, nhưng
những ảnh hưởng của nó thì vẫn tiếp diễn trong đời sống hiện tại, cho dù người ta có
muốn hay không.
1.3. NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ PHƯƠNG HƯỚNG VÀ
NHỮNG GIẢI PHÁP NHẰM PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ
ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO ĐỐI VỚI ĐỜI SỐNG
TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT HIỆN NAY

Đề xuất phương hướng và các giải pháp nhằm phát huy ảnh hưởng tích cực,
hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo đối với đời sống tinh thần của
người Việt hiện nay là đề tài thu hút được sự quan tâm, nghiên cứu của các học giả
dưới dạng các cuốn sách tham khảo, chuyên khảo, trong đó phải kể đến như: Bàn về
văn hiến Việt Nam (Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội 1996) của Vũ Khiêu, Ảnh hưởng

tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong việc xây dựng đời
sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay.
Chương 2
ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRUNG QUỐC VÀ
ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO Ở VIỆT NAM
2.1. NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRUNG QUỐC

2.1.1. Sơ lược những điều kiện dẫn đến sự hình thành Nho giáo và đạo đức
Nho giáo
Sự ra đời của Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng bắt nguồn từ
sự biến động lớn lao của tình hình kinh tế, chính trị, xã hội thời Xuân Thu - Chiến
Quốc cũng như từ việc kế thừa những tiền đề về văn hóa, tư tưởng, đạo đức của
người Trung Quốc từ trong lịch sử. Người có công sáng lập ra Nho giáo là Khổng Tử
(551 - 479 trước Công nguyên). Sống trong thời kỳ loạn lạc, hàng ngày, hàng giờ
được tận mắt chứng kiến cảnh cướp bóc, chém giết, do đó, lý tưởng mà ông hướng
tới là xây dựng một chế độ xã hội thái bình, thịnh trị, ổn định theo khuôn mẫu của


8
nhà Tây Chu. Theo ông, đó là một xã hội có đạo đức, con người tồn tại trong những
mối quan hệ xã hội nhất định và đi kèm với nó là những chuẩn mực đạo đức, những
khuôn phép nhất định. Nếu làm được như vậy sẽ đưa xã hội từ loạn về trị. Từ đó, ông
cho rằng, việc trị nước phải dựa trên đạo đức, phải dùng nhân trị, lễ trị thì xã hội mới
“hữu đạo”, mới thái bình thịnh trị. Tư tưởng đó của ông sau này đã được các thế hệ
học trò nối tiếp nhau kế thừa và phát triển làm nên sự lớn mạnh và tầm ảnh hưởng
sâu rộng của học thuyết Nho giáo nói chung và đạo đức Nho giáo nói riêng.
2.1.2. Những nội dung cơ bản của đạo đức Nho giáo
2.1.2.1. Học thuyết Nho giáo về tính người - cơ sở hình thành quan niệm
của Nho giáo về đạo đức
Khi đưa ra học thuyết về tính người, mỗi nhà nho đều dựa trên những ý kiến

ông lại cho rằng, những đức con người cần phải có là tứ đức: nhân, lễ, nghĩa, trí. Đến
Đổng Trọng Thư, ông nêu lên Ngũ thường: nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
2.1.2.3. Tam cương
Theo quan niệm của Nho giáo, Tam cương dùng để chỉ ba mối quan hệ cơ bản
nhất của con người từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội, đó là các quan hệ: vua tôi, cha - con, chồng - vợ. Khái niệm Tam cương xuất hiện lần đầu tiên là trong Hán
Nho thể hiện tư tưởng của Đổng Trọng Thư vào thời Hán Vũ đế. Mục đích chính của
tư tưởng này là quy định thân phận của bề tôi, của người vợ và của người con phụ
thuộc vào vua, vào chồng, vào cha. Theo Đổng Trọng Thư, trong mối quan hệ vua tôi, bề tôi phải tuyệt đối trung thành với vua và vua giữ vai trò quyết định so với bề
tôi, đến mức vua bảo thần chết, thần không thể không chết; trong mối quan hệ cha con, yêu cầu người con phải có hiếu với cha mẹ và người cha giữ vai trò quyết định
đối với con; trong mối quan hệ vợ - chồng, yêu cầu vợ phải theo chồng, phải giữ tiết
hạnh với chồng và trong mối quan hệ này thì người chồng giữ vai trò quyết định đối
với người vợ. Đạo Tam cương chứa đựng cả ưu điểm và hạn chế.
2.1.2.4. Ngũ thường
Theo quan niệm của Nho giáo, Ngũ thường bao gồm các phạm trù đạo đức:
nhân, lễ, nghĩa, trí, tín.
Nhân: là phạm trù đạo đức đầu tiên và cơ bản nhất trong Ngũ thường. Nhân
được coi là hạt nhân lý luận trong hệ thống tư tưởng của Nho giáo và tất cả các
phạm trù đạo đức còn lại đều xoay xung quanh phạm trù trung tâm này. Nhân bao
hàm trong nó mọi đức tính, mọi phạm trù đạo đức khác như: lễ, nghĩa, trí, tín,
trung, hiếu… các đức tính khác là bộ phận của nhân, là biểu hiện cụ thể của nhân
trong các quan hệ ứng xử giữa con người với con người. Người có nhân đồng
nghĩa với người hoàn thiện nhất nên có thể xem nhân là nghĩa rộng nhất của đạo
đức con người.
Lễ: theo Nho giáo, lễ là những quy định về mặt đạo đức có tính bắt buộc, ràng
buộc đối với mọi hành vi ứng xử của con người trong các mối quan hệ xã hội. Lễ còn
là trật tự, kỷ cương, phép nước mà mọi người phải tuân theo. Do đó, nếu xã hội giữ
được lễ thì “hữu đạo” và thịnh trị, còn nếu để mất lễ sẽ “vô đạo” và đại loạn.
Nghĩa: Theo Khổng Tử, nghĩa là điều nên nói, việc phải làm; là việc làm chí
thiện, hợp lý; là trách nhiệm đạo đức giữa những người khác nhau hoặc những
đẳng cấp khác nhau trong xã hội. Nghĩa là việc làm phù hợp với lẽ phải và đạo lý,

cơ sở các mối quan hệ hiện thực từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội trong đó đức
nhân được xem là gốc trong hệ thống phạm trù đạo đức Nho giáo. Ở mỗi mối quan
hệ xã hội cụ thể, các nhà nho đều đề ra những chuẩn mực đạo đức cụ thể, rõ ràng để
mọi người có thể tu dưỡng, rèn luyện.
Ba là, Nho giáo đặc biệt chú tâm vào việc xây dựng mẫu người lý tưởng
(người quân tử) - người cầm quyền với những yêu cầu hết sức cao về chuẩn mực và
sự tu dưỡng đạo đức của cá nhân và xem đó là yêu cầu bắt buộc đối với lớp người
này khi muốn dùng đạo đức để cai trị nhân dân, thực hiện đường lối đức trị.
Bốn là, Nho giáo quan tâm đến vấn đề giáo dục, đào tạo con người nhưng mới
chỉ dừng lại ở việc chú trọng đến giáo dục đạo đức với hạt nhân cốt lõi là phương
pháp tu thân, tự sửa mình.


11
2.2. ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO Ở VIỆT NAM

2.2.1. Quá trình du nhập và tiếp biến của Nho giáo và đạo đức Nho giáo ở
Việt Nam
Nho giáo, đạo đức Nho giáo được du nhập vào nước ta thời kỳ Bắc thuộc. Quá
trình du nhập, tiếp biến, suy tàn của Nho giáo, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam gắn liền
với những bước thăng trầm, với sự thịnh suy của chế độ phong kiến Việt Nam trải
qua các triều đại. Trong toàn bộ quá trình này, điều cần nhấn mạnh là, như bất kỳ một
học thuyết nào khác, Nho giáo và đạo đức Nho giáo khi du nhập vào Việt Nam
không còn giữ được nét nguyên thủy như nó vốn có mà đã được tiếp biến, được “Việt
hóa” nhằm phục vụ cho những yêu cầu của dân tộc Việt Nam. Người Việt vừa tiếp
nhận Nho giáo lại vừa có sự cải biến, bổ sung cho phù hợp với thực tiễn lịch sử của
dân tộc mình. Do đó, Nho giáo Trung Quốc khi vào Việt Nam đã trở thành Nho giáo
Việt Nam, thậm chí có người còn gọi đó là Nho Việt. Người dân Việt Nam tiếp thu
Nho giáo, đạo đức Nho giáo trên nền tảng đạo đức truyền thống dân tộc. Đây cũng là
quy luật chung trong sự giao lưu của các hệ tư tưởng.

Nam được thể hiện đậm nét thông qua quan niệm của một số nhà nho Việt tiêu biểu
thời phong kiến, cụ thể trong luận án là tư tưởng của Nguyễn Trãi (1380-1442); Lê
Thánh Tông (1442-1497); Nguyễn Bỉnh Khiêm (1491-1585); Lê Quý Đôn (17261784); Ngô Thì Nhậm (1746-1803); Minh Mệnh (1791-1840); Nguyễn Đức Đạt
(1823-1887).
Thông qua việc tìm hiểu quá trình du nhập và tiếp biến của Nho giáo, đạo đức
Nho giáo ở Việt Nam cũng như quan niệm về đạo đức của một số nhà nho tiêu biểu
trong lịch sử tư tưởng Việt Nam thời phong kiến, chúng ta có thể thấy rằng, tuy chịu
ảnh hưởng sâu sắc của đạo đức Nho giáo Trung Quốc, nhưng, bên cạnh những nét
tương đồng, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam đã có nhiều điểm khác biệt khá căn bản.
Sự khác biệt này thể hiện chủ yếu ở chỗ, những phạm trù đạo đức Nho giáo trong
quan niệm của các nhà nho Việt Nam có phần tiến bộ, nhân văn và bớt hà khắc hơn
so với đạo đức Nho giáo Trung Quốc. Tuy nhiên, xét đến cùng, tính nhân văn và tiến
bộ này không được phát huy triệt để vì nó bị chi phối bởi lập trường của giai cấp
thống trị. Từ trong tiềm thức, các nhà nho Việt Nam hay Trung Quốc đều xây dựng,
phát triển những chuẩn mực đạo đức trên cơ sở ràng buộc trách nhiệm, nghĩa vụ của
con người với chế độ phong kiến vì mục tiêu ổn định trật tự xã hôi phong kiến, bảo
vệ vững chắc ngai vàng của nhà vua. Và do đó, những quan niệm đạo đức của các
nhà nho Việt Nam dù mang đậm tính nhân văn, nhân bản hơn đạo đức Nho giáo
Trung Quốc (đặc biệt là Hán Nho và Tống Nho) nhưng cũng không thoát khỏi những
hạn chế của lịch sử. Mặc dù vậy, chính sự khác biệt này đã góp phần tạo nên những
đặc điểm riêng có của đạo đức Nho giáo ở Việt Nam. Đó là:
Một là, các phạm trù đạo đức Nho giáo Trung Quốc được các nhà nho Việt
Nam kế thừa, cải biến một cách biện chứng cho phù hợp với điều kiện thực tiễn ở
Việt Nam.
Hai là, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam là đạo đức thực hành, chú trọng đến thực
tiễn, đến tính hiệu quả nhiều hơn là học thuật.
Ba là, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam mang nhiều yếu tố nhân văn và bớt khắt
khe hơn đạo đức Nho giáo trên chính quê hương của nó - Trung Quốc.
Bốn là, Nho giáo, đạo đức Nho giáo ở Việt Nam không phải là thuần Nho mà
nó đã có sự pha trộn, dung hợp với các tư tưởng, học thuyết khác.

nhau, luôn tác động và đan xen vào nhau, nằm trong một chỉnh thể thống nhất.
Theo hướng nghiên cứu của mình, luận án muốn tiếp cận với cách phân chia
đời sống tinh thần thành những lĩnh vực khác nhau như: đời sống chính trị, đời sống
pháp luật, đời sống đạo đức, đời sống thẩm mỹ, đời sống tôn giáo, đời sống nghệ
thuật… Từ đó, khi nghiên cứu sự ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đời sống
tinh thần của người Việt Nam hiện nay nói chung, luận án cũng nghiên cứu những
ảnh hưởng này trong từng lĩnh vực của đời sống tinh thần mà cụ thể ở đây là đời sống
chính trị, đời sống pháp luật và đời sống đạo đức.


14
3.1.2. Đặc trưng của đời sống tinh thần ở Việt Nam hiện nay
Có thể khái quát một số đặc trưng chủ yếu trong đời sống tinh thần của người
Việt Nam hiện nay là:
Một là, nền tảng tư tưởng của đời sống tinh thần xã hội chủ nghĩa Việt Nam
hiện nay là chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.
Hai là, đời sống tinh thần của xã hội Việt Nam hiện nay phát triển dựa trên nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Ba là, đời sống tinh thần ở Việt Nam hiện nay có sự kế thừa và phát huy những
tinh hoa của dân tộc và thời đại, thống nhất giữa giá trị văn hóa nhân loại và bản sắc
dân tộc.
Bốn là, đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay hướng tới chủ nghĩa
nhân đạo, nhân văn cao cả, tất cả từ con người, do con người và vì con người.
Năm là, đời sống tinh thần lành mạnh của xã hội Việt Nam hiện nay không thể
hình thành một cách tự phát mà phải là kết quả của hoạt động tự giác, của công tác
giáo dục của xã hội và sự rèn luyện tự giác của các cá nhân.
3.1.3. Phương thức ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đời sống tinh
thần ở Việt Nam hiện nay
Ngày nay, xung quanh việc bàn về Nho giáo, đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng
đến đời sống tinh thần ở nước ta hay không, phương thức ảnh hưởng là gì và ảnh

Sự ảnh hưởng, tác động của đạo đức đến chính trị là rất lớn, tuy nhiên, trong
phạm vi nghiên cứu của mình, luận án chỉ tập trung làm rõ ảnh hưởng của đạo đức
Nho giáo với tư cách là một nhân tố đạo đức truyền thống đến đời sống chính trị ở
Việt Nam hiện nay theo cả hai hướng tích cực và tiêu cực.
Ảnh hưởng tích cực:
Một là, nếu gạt bỏ yếu tố duy tâm, bảo thủ thì tư tưởng đức trị trong Nho giáo
có ảnh hưởng tích cực đối với việc ổn định trật tự xã hội ở nước ta hiện nay dựa trên
việc điều chỉnh hành vi của con người bằng đạo đức bên cạnh hệ thống pháp luật.
Hai là, đường lối đức trị của Nho giáo với quan niệm lấy con người làm cơ sở
xuất phát cho các chủ trương chính trị đang có những ảnh hưởng tích cực trong việc
xây dựng nền chính trị vì nhân dân ở nước ta hiện nay.
Ba là, luôn nhấn mạnh đến tầm quan trọng của đạo đức và sự tu dưỡng đạo
đức của người cầm quyền, đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng tích cực đối với công tác
đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý ở nước ta hiện nay.
Ảnh hưởng tiêu cực:
Thứ nhất, ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng chuyên quyền, độc đoán, đầu óc gia
trưởng, địa vị, ngôi thứ… trong đạo đức Nho giáo đối với đời sống chính trị ở nước
ta hiện nay.
Thứ hai, ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng coi thường lớp trẻ, trọng xưa hơn
nay theo quan niệm của đạo đức Nho giáo đối với việc quy hoạch, bổ nhiệm và sử
dụng cán bộ trong hệ thống chính trị ở nước ta hiện nay.
Thứ ba, ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng coi trọng giáo dục đạo đức và ít chú ý
đến tri thức thuộc các lĩnh vực khác khi đào tạo lớp người cầm quyền theo quan niệm
của đạo đức Nho giáo.


16
3.2.2. Ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đến đời sống pháp luật
Đời sống pháp luật là một lĩnh vực của đời sống tinh thần bao gồm ý thức
pháp luật, hành vi pháp luật, quan hệ pháp luật về những quyền hạn và nghĩa vụ của

Đời sống đạo đức là một lĩnh vực của đời sống tinh thần bao gồm ý thức đạo
đức, hành vi đạo đức và các quan hệ đạo đức của con người được nảy sinh từ đời


17
sống vật chất, phản ánh đời sống vật chất và bị quy định bởi đời sống vật chất trong
từng giai đoạn lịch sử nhất định.
Những ảnh hưởng của đạo đức Nho giáo đối với đời sống đạo đức của người
Việt Nam hiện nay thể hiện khá rõ nét trên tất cả các bộ phận cấu thành của nó theo
cả hai hướng tích cực và tiêu cực. Những ảnh hưởng này, xét đến chiều tích cực thì
cũng không hề ít mà đề cập đến khía cạnh tiêu cực lại cũng không hề nhỏ, có thể khái
quát cụ thể như sau:
Ảnh hưởng tích cực:
Thứ nhất, đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng tích cực việc giáo dục mỗi cá nhân
ý thức tự tu dưỡng đạo đức của bản thân.
Thứ hai, đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng tích cực trong việc giáo dục con
người ý thức tôn trọng trật tự, kỷ cương, có tinh thần, trách nhiệm đối với các mối
quan hệ của mình từ trong gia đình cho đến ngoài xã hội.
Thứ ba, tính nhân văn trong đạo đức Nho giáo có ảnh hưởng tích cực trong
việc xây dựng đời sống đạo đức của người Việt Nam hiện nay hướng tới chủ nghĩa
nhân văn, nhân đạo cao cả.
Ảnh hưởng tiêu cực:
Một là, ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng gia trưởng, đầu óc địa vị, ngôi thứ,
chuyên quyền độc đoán, thiếu dân chủ - mặt trái của đạo đức Nho giáo trong đời sống
đạo đức của người Việt hiện nay.
Hai là, ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng đề cao đến mức tuyệt đối hóa vai trò
của gia đình, đặt lợi ích của gia đình lên trên, lên trước lợi ích của cộng đồng, của xã
hội theo quan niệm của đạo đức Nho giáo.
Ba là, ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng trọng nam khinh nữ, coi thường vị trí
và vai trò của người phụ nữ trong gia đình và ngoài xã hội.

chối cãi là, chừng nào những nguyên nhân này chưa biến mất thì chừng ấy đạo đức
Nho giáo vẫn tiếp tục tồn tại và có những tác động nhất định.
Chương 4
PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY
ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA
ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG
TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
4.1. PHƯƠNG HƯỚNG PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG TÍCH CỰC, HẠN CHẾ
ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO TRONG VIỆC XÂY
DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY

4.1.1. Quán triệt, vận dụng phương pháp biện chứng duy vật của Hồ Chí
Minh về việc khai thác đạo đức Nho giáo trong xây dựng đời sống tinh thần ở
Việt Nam hiện nay
Với tinh thần độc lập, sáng tạo, với phương pháp biện chứng duy vật, Hồ Chí
Minh đã xuất phát từ những yêu cầu thực tiễn của cách mạng Việt Nam để khai thác,
sử dụng đạo đức Nho giáo một cách hợp lý, có hiệu quả trong việc xây dựng đời sống
tinh thần mới cho người Việt Nam hiện nay. Với phương pháp tiếp cận này, Người


19
kiên quyết đấu tranh, phủ định những mặt tiêu cực, những mặt trái, những quan điểm
bảo thủ, lạc hậu, phản động của đạo đức Nho giáo đang có những ảnh hưởng xấu đối
với sự phát triển xã hội. Tuy nhiên, sự phủ định của Người không phải là phủ định
sạch trơn mà là phủ định biện chứng, nghĩa là trong quá trình phủ định, Người luôn
tìm ra những hạt nhân hợp lý, những yếu tố tiến bộ trong đạo đức Nho giáo, kế thừa
nó, bổ sung nó, phát triển nó cho phù hợp với những chuẩn giá trị mới trong đời sống
tinh thần của người Việt mới.
Cách Người khai thác, sử dụng đạo đức Nho giáo với phương pháp biện chứng
duy vật là một trong những nguyên tắc mà chúng ta cần quán triệt. Bởi lẽ, đạo đức

20
4.2. MỘT SỐ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM PHÁT HUY ẢNH HƯỞNG
TÍCH CỰC, HẠN CHẾ ẢNH HƯỞNG TIÊU CỰC CỦA ĐẠO ĐỨC NHO GIÁO
TRONG VIỆC XÂY DỰNG ĐỜI SỐNG TINH THẦN CỦA NGƯỜI VIỆT NAM
HIỆN NAY

4.2.1. Phát triển kinh tế, văn hóa đồng thời đẩy mạnh cải tạo phong tục,
tập quán lạc hậu, giữ gìn, phát huy thuần phong, mỹ tục tạo cơ sở cho việc phát
huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo
trong xây dựng đời sống tinh thần của người Việt hiện nay
Đạo đức Nho giáo ở Việt Nam được nảy sinh, tồn tại và củng cố trên cơ sở nền
kinh tế của xã hội phong kiến với đặc trưng là nền nông nghiệp lạc hậu, sản xuất nhỏ
và quan hệ kinh tế cơ bản là sự chiếm hữu phong kiến về tư liệu sản xuất. Do đó,
muốn xóa bỏ cơ sở tồn tại của nó cũng như chấm dứt những ảnh hưởng tiêu cực mà
nó gây ra trong đời sống tinh thần của người Việt Nam hiện nay thì không có cách
nào khác ngoài cách tạo ra những điều kiện vật chất kinh tế nhất định của một xã hội
mới, làm nền tảng cho việc xây dựng đời sống tinh thần mới. Cụ thể, về đường lối
phát triển kinh tế mà Đảng và Nhà nước ta xác định trong thời kỳ quá độ lên chủ
nghĩa xã hội ở nước ta hiện nay là: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phát
triển và hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đây là
tiền đề đảm bảo cải thiện đời sống vật chất của người dân, từ đó tạo điều kiện làm
nảy sinh những hệ giá trị mới, tiến bộ trong đời sống tinh thần của họ.
Tuy nhiên, đạo đức Nho giáo với những tàn dư của nó không chỉ tồn tại dựa
vào cơ sở kinh tế xã hội mà còn có cơ sở ngay trong truyền thống văn hóa, trong
phong tục, tập quán, trong những thói quen, trong cách ứng xử giữa người với
người... Do đó, bên cạnh việc hoàn thiện thể chế kinh tế xã hội thì phát triển văn
hóa, cải tạo những phong tục, tập quán lạc hậu, duy trì, phát huy những thuần phong
mỹ tục, truyền thống văn hóa tốt đẹp của cha ông cũng là một trong những giải
pháp quan trọng cho việc phát huy ảnh hưởng tích cực, hạn chế ảnh hưởng tiêu cực
của đạo đức Nho giáo.

chủ trong xã hội có mối quan hệ gắn bó, mật thiết với nhau. Nếu những ảnh hưởng
tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong đời sống tinh thần của người Việt hiện nay là
một trong những nguyên nhân gây nên sự mất dân chủ trong đời sống xã hội thì
ngược lại, chính tình trạng mất dân chủ sẽ trở thành nơi để tàn dư của lễ giáo đạo
Nho trú ngụ. Do đó, dân chủ hóa đời sống xã hội là một trong những giải pháp căn
bản để khắc phục một số ảnh hưởng tiêu cực mà đạo đức Nho giáo gây ra trong đời
sống tinh thần của người Việt hiện nay. Cụ thể:
Thứ nhất, với việc thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội, tạo mọi điều kiện
cho nhân dân khẳng định quyền làm chủ của mình đối với đất nước trên mọi lĩnh vực
đã khắc phục căn bản tình trạng “mất dân chủ” nghiêm trọng trong xã hội phong kiến
theo hệ tư tưởng Nho giáo.
Thứ hai, thực hiện dân chủ hóa đời sống xã hội để nhân dân thực thi quyền làm
chủ của mình cũng là cơ sở để ta triệt tiêu tận gốc những biểu hiện tiêu cực ở đội ngũ
cán bộ nhất là tư tưởng gia trưởng, địa vị, ngôi thứ, quan liêu, đầu óc cục bộ, địa
phương, bệnh gia đình chủ nghĩa… vốn là những căn bệnh có căn nguyên từ ảnh
hưởng mặt trái của đạo đức Nho giáo trong đời sống tinh thần của người Việt hiện nay.
Thứ ba, dân chủ hóa đời sống xã hội còn tạo điều kiện cho người dân phát huy
tính năng động, sáng tạo của mỗi cá nhân giúp họ có điều kiện để tham gia tích cực
vào quá trình xây dựng và phát triển đất nước.


22
4.2.4. Coi trọng việc kế thừa các giá trị và đẩy mạnh khắc phục những
ảnh hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong giáo dục gia đình, thực hiện
bình đẳng giới
4.2.4.1. Coi trọng việc kế thừa các giá trị, đẩy mạnh khắc phục những ảnh
hưởng tiêu cực của đạo đức Nho giáo trong giáo dục gia đình
Gia đình có vai trò hết sức quan trọng trong việc giáo dục, đặc biệt là giáo dục
đạo đức cho mỗi con người. Giáo dục gia đình giúp lưu giữ, phát huy những truyền
thống đạo đức tốt đẹp của dân tộc mà đa phần trong số chúng có cội nguồn từ đạo

tính tới chính là đẩy mạnh việc thực hiện công tác bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay.


23
KẾT LUẬN
Nho giáo là hệ thống tư tưởng đề cập đến nhiều lĩnh vực, nhiều mặt hiện thực
của đời sống xã hội và con người. Trong hệ thống Nho giáo bao gồm nhiều tư tưởng,
nhiều nội dung: triết học, chính trị - xã hội, đạo đức, giáo dục… Trong đó, có thể coi
đạo đức là nội dung cơ bản của Nho giáo. Việc nhấn mạnh đạo đức, đề cao vai trò và
sức mạnh của đạo đức với con người và xã hội đã trở thành nét đặc trưng của Nho
giáo. Rõ ràng, trong bất cứ xã hội nào, ở thời đại nào thì đạo đức luôn giữ vị trí quan
trọng, nó là cái để điều chỉnh hành vi của con người trong các mối quan hệ xã hội và
nhiều khi nó còn có sức mạnh hơn cả những quy phạm pháp luật. Đạo đức là cơ sở
vững chắc để ổn định trật tự, giữ gìn kỷ cương của xã hội. Tuy nhiên, việc quá đề cao
đạo đức và cho rằng đạo đức là nhân tố duy nhất quyết định sự hưng vong, thịnh suy
của đất nước, của triều đại cũng là hạn chế chính của học thuyết Nho giáo. Xét cho
đến cùng, đạo đức cũng chỉ là một trong những hình thái ý thức xã hội và giống như
các hình thái ý thức xã hội khác, nó cũng chịu sự quy định của tồn tại xã hội. Do đó,
lấy đạo đức làm cơ sở quyết định cho tồn tại xã hội là tư tưởng duy tâm, không tưởng
của Nho giáo.
Những nội dung chính trong quan niệm của Nho giáo về đạo đức phải kể đến
là những tư tưởng Tam cương, Ngũ thường, Chính danh… Những tư tưởng này
chứa đựng trong nó cả những giá trị và hạn chế thể hiện ở chỗ: ưu điểm của đạo đức
Nho giáo là đã xem xét, đánh giá con người thông qua các mối quan hệ xã hội, từ đó
đặt ra những yêu cầu đạo đức tương đối cụ thể, chỉ rõ trách nhiệm đạo đức cá nhân
đối với gia đình, với mọi người và với bản thân. Đặc biệt, Nho giáo còn đề cao đạo
tu thân và coi đây là một yêu cầu quan trọng bậc nhất trong việc tu dưỡng đạo đức
của mọi người từ bậc thiên tử xuống đến thứ dân… Những tư tưởng này đã khiến
đạo đức Nho giáo có nội dung tiến bộ hơn hẳn so với những học thuyết chính trị đạo
đức đương thời. Mặc dù chứa đựng nhiều nhân tố hợp lý, nhưng bản thân đạo đức


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status