ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
NGUYỄN THU HƯƠNG
ẢNH HƯỞNG CỦA PHẬT GIÁO ĐẾN LỐI SỐNG VÀ PHONG TỤC TẬP
QUÁN NGƯỜI VIỆT NAM HIỆN NAY
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Chuyên ngành: Tôn giáo học
Hà Nội – 2013
MỤC LỤC
A. PHẦN MỞ ĐẦU……………………………………………………………6
B. PHẦN NỘI DUNG……………………………………………………… 14
Chương I. Tổng quan về Phật giáo và Tổng quan Phật giáo ở Việt Nam
1.1. Sự ra đời của Phật Giáo……………………………………………… 14
1.2. Tư tưởng cơ bản của Phật Giáo……………………………………….18
1.2.1. Thế giới quan Phật Giáo…………………………………………………… 18
1.2.2. Nhân sinh quan Phật Giáo……………………………………….……… 20
1.3. Tổng quan về Phật giáo ở Việt Nam……………………….….………24
1.3.1. Sự du nhập của Phật giáo vào Việt Nam………………………… ……….24
1.3.2. Các giai đoạn phát triển Phật giáo ở Việt Nam………………… ……….27
1.3.3. Đặc điểm của Phật giáo Việt Nam………………… ……………….…… 41
Chương II. Tìm hiểu ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và một số phong
tục tập quán của người Việt Nam hiện nay.
2.1. Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống của người Việt Nam hiện nay 46
2.1.1. Khái niệm “lối sống”. ……………………………………………… ……46
2.1.2. Lối sống của người Việt Nam truyền thống……………………….… ……50
2.1.3. Lối sống của người Việt Nam do tác động của Phật giáo………….…….56
2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo đến một số những phong tục tập quán của
người của người Việt Nam hiện nay…………………………………… ….62
2.2.1. Khái niệm “phong tục tập quán” và một số phong tục tập quán người của
người Việt Nam………………………………………………………………….… 62
2.2.2. Ảnh hưởng của Phật giáo trong tập tục ăn chay, thờ phật, phóng sinh,
bố thí……………………………………………………………………………………65
2.2.3. Những dấu ấn Phật giáo qua tập tục cúng rằm, mùng một và đi lễ chùa
đầu năm…………………………………………………………………………… ….71
2.2.4. Ảnh hưởng của Phật giáo trong nghi thức ma chay, cưới hỏi, cúng giỗ……… 73
2.2.5 Ảnh hưởng của Phật giáo đến các phong tục tập quán khác…………… 75
Chương III: Một số nhận định chung và giải pháp liên quan đến ảnh hưởng của
sống con người như: ăn chay thờ Phật, lễ hội dân gian, đi lễ chùa đầu năm, lễ cưới
hỏi, tang ma, xem ngày giờ… cũng như nhiều tập tục quen thuộc khác của người
Việt Nam.
Trong thời đại ngày nay, cùng với quá trình hội nhập kinh tế - văn hoá trên
“đấu trường” Quốc tế, cuộc sống ngày càng văn minh, khoa học kỹ thuật ngày
càng phát triển, thì tôn giáo (trong đó có Phật giáo) vẫn đóng một vai trò ngày càng
quan trọng trong đời sống xã hội. Vấn đề tôn giáo và vai trò của tôn giáo trong đời
sống xã hội và trong sự phát triển đất nước đã được các nhà nghiên cứu và các nhà
quản lý xem xét, quan tâm dưới nhiều góc độ khác nhau.
Vì vậy, việc đi sâu khai thác và tìm hiểu về Phật giáo và những ảnh hưởng của
Phật giáo đến lối sống và một số phong tục tập quán của người Việt Nam là cần
thiết, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay ở Việt Nam, khi Phật giáo có xu hướng ngày
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 7
càng hưng thịnh là bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của hàng triệu
người Việt Nam. Chính vì lý do đó, tôi chọn đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo đến
lối sống và một số phong tục tập quán người Việt Nam hiện nay” làm đề tài luận
văn thạc sĩ của mình.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu Phật giáo và vai trò của nó trong đời sống xã hội Việt Nam
được tiến hành liên tục trong suốt chiều dài lịch sử dân tộc kể cả giai đoạn Phật
giáo suy vi (từ thế kỷ XV đến thế kỷ XIX).
Việc nghiên cứu và tìm hiểu các tài liệu liên quan đến đề tài thì e xin chia làm
các loại tài liệu như sau:
- Thứ nhất các tư liệu về Phật giáo nói chung và Phật giáo ở Việt Nam nói
riêng. Từ những năm cuối của thế kỷ XX trở đi đã xuất hiện rất nhiều công trình
khoa học nghiên cứu về Phật giáo, về vai trò của Phật giáo trong đời sống xã hội
nói chung, trong lối sống của người Việt Nam nói riêng. Nguyễn Lang với “Việt
giáo trong đạo lý dân gian Việt Nam. Nguyễn Thị Bảy trong “Văn hoá Phật giáo và
lối sống của người Việt ở Hà Nội và châu thổ Bắc Bộ” (Nxb Văn hoá thông tin, Hà
Nội 1997) đã bàn về văn hoá Phật giáo từ góc độ vật chất và tinh thần, bàn đến văn
hoá ứng xử Phật giáo ở châu thổ Bắc Bộ.v.v…
Các trí thức Phật giáo cũng đóng góp nhiều công trình có giá trị trong lĩnh vực
này, như: Thích Đạo Quang với “Đại cương triết học Phật giáo” (Nxb Thuận hoá,
Huế 1996) đã phân tích những giá trị trong các giáo lý cơ bản của Phật giáo và đề
cập một cách khái quát các tông phái cơ bản của đạo Phật. Thích Phụng Sơn trong
“Những nét đẹp văn hoá của đạo Phật” (Viện Nghiên cứu Phật học Việt Nam ấn
hành 1995) đã phân tích những giá trị thẩm mỹ và một số biểu hiện của chúng
trong sinh hoạt tôn giáo và đời sống xã hội. Thích Minh Châu trong “Đạo đức Phật
giáo và hạnh phúc con người” đã đề cập đến những giá trị nhân đạo, nhân bản
trong đạo đức Phật giáo. Theo ông, khi con người được di dưỡng trong nền đạo
đức Phật giáo, họ sẽ được an trú trong niềm hạnh phúc và an lạc. Thích Thanh Từ
với “Phật giáo với dân tộc”(Thành hội Phật giáo TP Hồ Chí Minh 1995) đã bàn về
những nét chính trong luân lý Phật giáo, những giới luật của phật tử tại gia và phật
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 9
tử xuất gia, về đóng góp của Phật giáo cho lịch sử dân tộc trên các phương diện
chính trị, tư tưởng, văn nghệ, về các giá trị đạo đức Phật giáo với tuổi trẻ Việt Nam
hiện đại. Lê Cung với “Phật giáo Việt Nam với cộng đồng dân tộc” (Thành hội
Phật giáo TP Hồ Chí Minh ấn hành 1996) đã đề cập đến đóng góp của Phật giáo
trong suốt chiều dài lịch sử đấu tranh chống giặc ngoại xâm của dân tộc
Việt Nam. Học Viện Phật giáo Việt Nam tại TP Hồ Chí Minh với “Phật giáo
nhập thế và phát triển” (Nxb Tôn giáo 2008) đã tập hợp các bài viết của các nhà
khoa học, các trí thức Phật giáo viết về vai trò của Phật giáo trong các lĩnh vực của
đời sống xã hội Việt Nam hiện nay như: Phật giáo trong thời kỳ hội nhập và phát
triển, Phật giáo với chính trị, xã hội, Phật giáo với sự phát triển bền vững của đất
bằng Bắc Bộ”(Đề tài khoa học cấp bộ của Viện Nghiên cứu Tôn giáo và Tín
ngưỡng- Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội 2007).
- Thứ ba là các tài liệu bàn về ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong
tục tập quán của Việt Nam. Ngoài ra còn có nhiều công trình trên các tạp chí cũng
đề cập đến những ảnh hưởng của Phật giáo trên các phương diện khác nhau trong
văn hoá, lối sống của người Việt Nam như: “Phật giáo và sự hình thành nhân cách
con người Việt Nam hiện nay” (Tạp chí Triết học số 2/1994) của GS.TS Nguyễn
Tài Thư; “Tôn giáo và tín ngưỡng trong đời sống văn hoá hiện nay (Tạp chí Cộng
sản số 15/1999) của GS.TS Đỗ Quang Hưng; “ Vài suy nghĩ về Phật giáo dân
gian Việt Nam”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 2/1997) của Hoàng Thị Lan;
“Phật giáo và tâm hồn người Việt”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số 6/1998) của
Vũ Minh Tuyên; “Ảnh hưởng của Phật giáo Theravada trong tang ma của người
Khmer”(Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số 5/2003) của TS. Nguyễn Mạnh Cường;
“Đạo Phật tiểu thừa Khmer ở vùng nông thôn đồng bằng sông Cửu Long: chức
năng xã hội truyền thống và động thái xã hội” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số
5/2003) của Nguyễn Xuân Nghĩa: “Một vài đóng góp của Phật giáo đối với văn
hoá Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, số5/2005) của Lê Đức Hạnh; “Bàn
thêm về ảnh hưởng của Phật giáo trong đời sống xã hội Việt Nam hiện nay”(Tạp
chí Nghiên cứu tôn giáo số 10/2007 của Lê Văn Đính; “Phật giáo Việt Nam trong
sự nghiệp đổi mới, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”(Tạp chí Nghiên cứu Phật học số
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 11
3/2006) của Hoà thượng Thích Thanh Tứ; “Nhận diện để phát huy giá trị di sản
văn hoá Phật giáo Việt Nam” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Đặng
Văn Bài; “Nghiên cứu và ứng dụng các giá trị văn hoá Phật giáo trong xã hội Việt
Nam hiện nay” (Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Nguyễn Hồng
Dương; “Ảnh hưởng của “Tâm” trong Phật giáo đối với văn hoá tinh thần của
người Việt Nam hiện nay”(Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo số 5/2008) của Ngô Thị
lối sống và một phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay.
Để thực hiện được mục đích trên luận văn có những nhiệm vụ sau:
- Phân tích làm rõ ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và một số phong
tục tập quán người Việt Nam hiện nay.
- Đưa ra một số nhận định chung và giải pháp liên quan đến ảnh hưởng của
Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện
nay.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu:
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là những ảnh hưởng của Phật giáo đến lối
sống và một số phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay.
Phạm vi nghiên cứu:
Đề tài “Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và một số phong tục tập quán
của người Việt Nam hiện nay" là một đề tài khá rộng, tuy nhiên luận văn chỉ giới
hạn ở việc tìm hiểu ảnh hưởng cơ bản của Phật giáo đến lối sống và một số phong
tục tập quán của người Việt Nam như: qua tập tục ăn chay, thờ Phật, tục phóng
sanh, bố thí, cúng rằng và mùng một, lễ nghi cúng giỗ, ma chay, cưới hỏi, đi lễ
chùa, xem ngày giờ…
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 13
5. Cơ sở lý luận, phương pháp nghiên cứu
5.1. Cơ sở lý luận
Luận văn dựa vào nền tảng lý luận của chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí
Minh, quan điểm và chính sách của Đảng Cộng sản Việt Nam về tôn giáo.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được đề tài này luận văn đã sử dụng những phương pháp nghiên
cứu sau: phương pháp logic lịch sử, phương pháp so sánh, đối chiếu, phương pháp
bằng màu mỡ - cái nôi của nền văn minh cổ Ấn Độ. Trước khi đổ ra biển, sông An
chia làm năm nhánh và biến lưu vực của mình thành đồng bằng Pungiap. Đối với
người Ấn Độ, sông Hằng là dòng sông linh thiêng của thành phố Varanadi
(Benaret) bên bờ; nơi đây, từ ngàn xưa người Ấn Độ cử hành lễ tắm truyền thống
mang tính tôn giáo… Cư dân Ấn Độ rất đa dạnh và phức tạp với nhiều bộ tộc khác
nhau, nhưng về chủng tộc, có hai loại chính là người Đraviđa cư trú chủ yếu ở
miền Nam và người Arya chủ yếu sống ở miền Bắc.
Xã hội Ấn Ðộ có lẽ là một trong những xã hội có một chế độ xã hội và chính trị
bất công nhất. Dân chúng Ấn Ðộ thời bấy giờ bị phân chia rất nhiều giai cấp khác
nhau, tựu trung có thể liệt vào những giai cấp chính sau đây:
a) Bà-la-môn (Brhmanes) gồm những Giáo sĩ, những người giữ quyền thống trị
tinh thần, phụ trách về lễ nghi, cúng bái. Họ tự nhận mình là hạng cao thượng, sinh
từ lỗ miệng Phạm-Thiên (Brahma) hay Phạm-Thiên cầm cương lãnh đạo tinh thần
dân tộc, nên có quyền ưu tiên được tôn-kính, và an hưởng cuộc đời sung sướng
nhất.
b) Sát-đế-ly (Kastryas) là hàng vua chúa quý phái, tự cho mình sinh từ cánh tay
Phạm Thiên, thay mặt cho Phạm Thiên nắm giữ quyền hành thống trị dân chúng.
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 15
c) Vệ-Xa (Vaisyas) là những hàng thương gia chủ điền, tin mình sinh ra từ bắp
về Phạm-Thiên, có nhiệm vụ đảm đương về kinh tế trong nước (mua bán, trồng
trọt, thu huê lợi cho Quốc gia ).
d) Thu-Ðà-La ( Souđras) là hàng hà tiện, nô lệ tin mình sinh từ gót chân Phạm
Thiên, nên thủ phận làm khổ sai suốt đời cho các giai cấp trên.
Ngoài bốn giai-cấp trên, còn có một hạng người hà tiện nhất là giống Ba-ri-a
(Pariahs) giống dân tộc mọi rợ, bị coi như sống ngoài lề xã hội loài người, bị các
giai cấp trên đối xử như thú vật, vô cùng khổ nhục, tối tăm. Năm giai cấp này mặc
y phục màu sắc khác nhau. Mỗi giai cấp sống theo luật lệ hệ thống cha truyền con
Thái Tử Tất-Ðạt-Ða cho đến lớn. Thái tử Tất-Ðạt-Ða, sau này tức là Ðức Phật
Thích Ca Mâu Ni, vị Giáo chủ từ bi và trí tuệ của Ðạo Phật. Thuở thơ ấu, tư chất
thông minh và tính tình đức độ của Ngài đã biểu lộ một cách rõ rệt. Những Ðạo sĩ
thông thái, những Võ sĩ tài danh điều được Tịnh Phạn vương mời đến dạy cho Thái
tử; và chẳng bao lâu Thái tử đã trở thành một vị văn võ toàn tài, không ai sánh kịp.
Cùng một nhịp với tài năng, đức độ của Ngài cũng được phát triển một cách vô
cùng nhanh chóng và sâu rộng. Tình thương của Ngài lan tràn, bao phủ tất cả mọi
vật mọi người. Và cũng do tư chất thông minh nhìn thấy rõ được tính cách giả dối,
vô thường của sự thế, và lòng thương vô hạn, không thể ngồi yên để nhìn thấy sự
rên siết, khổ đau của cõi đời, nên tâm hồn của Ngài không bao giờ được yên ổn.
Ngày đêm, Ngài luôn luôn nghĩ đến phương pháp cứu khổ cho chúng sinh.
Năm Ngài mười chín tuổi (có chỗ nói 29 tuối) sau khi đã để lại cho Tịnh Phạn
vương một người cháu nội là La-Hầu-La(Lahula).Thái Tử quyết định rời bỏ Hoàng
gia, từ bỏ cuộc đời vinh hoa phú quý, trốn ra khỏi Hoàng thành, cắt tóc vào rừng
sâu mong được yên tĩnh để tìm nghĩ phương pháp cứu độ chúng sinh thoát khỏi
vòng khổ ải và đưa họ lên bờ giác ngộ vĩnh viễn yên vui. Ban đầu Ngài phải đi tìm
học hỏi với những đạo sĩ danh tiếng nhất Ấn Ðộ thời bấy giờ, nhưng rồi Ngài nhận
thấy chân lý và lối tu hành của họ cũng không có gì là siêu thoát. Từ đó, Ngài đi
vào ẩn trong dãy núi Tuyết Sơn, phải tự mình tu luyện để tìm ra cái đạo giải thoát
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 17
như ý Ngài mong muốn. Trong sáu năm trời tu khổ hạnh, Ngài cũng chưa thu thập
được kết quả gì khả quan. Bấy giờ, Ngài mới đi đến núi Tượng-Ðầu (Gajasirsa)
bên bờ sông Ni-Liên-thuyền. Sau khi tắm rửa xong Ngài thọ bát cháo sữa của mấy
nàng mục nữ cúng. Rồi Ngài đi đến dưới gốc cây Tất-bát-la (Pippale, sau này
người đời gọi là cây Bồ đề nghĩa là cây giác ngộ, để kỷ niệm sự giác ngộ cuả Ðức
Phật dưới gốc cây ấy). Ngài ngồi thiền định dưới gốc cây Tất-bát-la, cho đến ngày
thứ bốn mươi chín, lúc sao mai vừa mọc, thì Ngài hốt nhiên đại ngộ, thấy được
đức truyền thống của các dân tộc Châu Á. Kinh điển của phật giáo rất đồ sộ gồm
ba bộ phận gọi là “Tam tạng kinh” bao gồm Tạng kinh, Tạng luật và Tạng luận.
Tạng kinh: Chép lời Phật dậy, trong thời kỳ đầu tạng kinh gồm nhiều tập dưới
dạng các tiền đề, mỗi tập được gọi là một Ahàm
Tạng luật: Gồm toàn bộ những giới luật của Phật giáo
Tạng luận: Gồm những bài bình chú, giải thích về giáo pháp của Phật giáo, thể
hiện một cách toàn diện các quan điểm giáo pháp của Phật giáo.
Tư tưởng cơ bản của Phật giáo thể hiện trên hai phương diện thế giới quan và
nhân sinh quan,cả hai phương diện này đều chứa đựng những tư tưởng duy vật và
biện chứng chất phác.
1.2.1. Thế giới quan Phật giáo
Quan điểm về thế giới quan của Phật giáo thể hiện tập trung ở nội dung của
3 phạm trù: vô ngã, vô thường và duyên.
Vô ngã (không có cái tôi chân thật): Trái với quan điểm của kinh Vêđa, đạo
Bàlamôn và đa số các môn phái triết học tôn giáo đương thời thừa nhận sự tồn tại
của một thực thể siêu nhiên tối cao, sáng tạo và chi phối vũ trụ, Phật giáo cho rằng
thế giới xung quanh ta và cả con người không phải do một vị thần nào sáng tạo ra
mà được cấu thành bởi sự kết hợp của 2 yếu tố là “Sắc” và “Danh”. Trong đó, Sắc
là yếu tố vật chất, là cái có thể cảm nhận được, nó bao gồm đất, nước, lửa và không
khí; Danh là yếu tố tinh thần, không có hình chất mà chỉ có tên gọi. Nó bao gồm:
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 19
thụ (cảm thụ), tưởng (suy nghĩ), hành (ý muốn để hành động) và thức (sự nhận
thức).
Danh và sắc kết hợp lại tạo thành 5 yếu tố gọi là “Ngũ uẩn”. Ngũ uẩn bao gồm
sắc (vật chất), thụ (cảm giác), tưởng (ấn tượng), hành (suy lý) và thức (ý thức),
chúng tác động qua lại với nhau tạo nên vạn vật và con người. Nhưng sự tồn tại
của sự vật chỉ là tạm thời, thoáng qua, không có sự vật riêng biệt nào tồn tại mãi
các yếu tố vật chất và tinh thần. Các sự vật hiện tượng thế giới nằm trong quá trình
liên hệ, vận động, biến đồi không ngừng. Nguyên nhân của sự vận động , biến đồi
nằm trong các sự vật. Đó là quan điểm biện chứng về thế giới tuy còn mộc mạc
chất phác nhưng rất đáng trân trọng.
1.2.2. Nhân sinh quan Phật giáo
Nội dung triết lý nhân sinh của Phật giáo được thể hiện tập trung trong thuyết
“Tứ Diệu Đế” (Tứ thánh đế – Catvary Arya Satya) tức là 4 chân lý tuyệt diệu đòi
hỏi mọi người phải nhận thức được . Tứ diệu đế là:
Khổ đế: Chân lí về sự khổ, cho rằng mọi dạng tồn tại đều mang tính chất khổ
não, không trọn vẹn, cuộc đời con người là một bể khổ. Phật xác nhận đặc tướng
của cuộc đời là vô thường, vô ngã và vì vậy mà con người phải chịu khổ. Có 8 nỗi
khổ là : sinh khổ, lão khổ, bệnh khổ, tử khổ, thụ biệt khổ (yêu thương nhau phải xa
nhau), oán tăng hội (ghét nhau phải gần nhau), sở cầu bất đắc (mong muốn mà
không đạt được) và ngũ thụ uẩn (do 5 yếu tố tạo nên con người).
Như vây, cái khổ về mặt hiện tượng là cảm giác khổ về thân, sự bức xúc của
hoàn cảnh, sự không toại nguyện của tâm lý về bản chất. Về phương triết học, khổ
đau là một thực tại như thực đối với con người. khổ đế là một chân lý khách quan
hiện thực. khổ hay hình thái bất an là kết quả hàng lọat nhân duyên được tạo tác từ
tâm thức. Như vậy tri nhân thực tại là một cách trực tiếp đi vào soi sáng mọi hình
thái khổ đau của con người. Để thấu hiểu triệt để cái căn nguyên của khổ đau, con
người không thể dừng lại ở sự thật của đau khổ, hay quay mặt chạy trốn, mà phải
đi vào soi sáng cái bản chất nội tại của nó.
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 21
Đạo Phật cho rằng đời là bể khổ, nỗi đau khổ là vô tận, là tuyệt đối. Do đó,
con người ở đâu, làm gì cũng khổ. Cuộc đời là đau khổ không còn tồn tại nào khác.
Ngay cả cái chết cũng không chấm dứt sự khổ mà là tiếp tục sự khổ mới. Phật ví sự
khổ của con người bằng hình ảnh: “Nước mắt của chúng sinh nhiều hơn nước
10. Duyên hữu: cố để dành, tồn tại để tận hưởng cái đã chiếm đoạt được.
11. Duyên sinh: sự ra đời, sinh thành do phải tồn tại.
12. Duyên lão tử: khi đã sinh thì xác thân phải tiêu hoại mỏi mòn, trẻ rồi già,
ốm đau rồi chết.
Thập nhị nhân duyên có nhiều cách giải thích khác nhau nhưng nhìn chung
đều cho rằng chúng có quan hệ mật thiết với nhau, cái này là nhân, làm duyên cho
cái kia, cái này là quả của cái trước, đồng thời là nhân cho cái sau. Cũng có lời giải
thích là mười hai yếu tố tích luỹ đưa đến cái khổ sinh tử hiện tại mà yếu tố căn đế
là ái và thủ, nghĩa là tham lam, ích kỷ, còn gọi là ngã chấp. Mười hai nguyên nhân
và kết quả nối tiếp nhau tạo ra cái vòng lẩn quẩn của nổi khổ đau nhân loại.
Nguyên nhân sâu hơn và căn bản hơn chính là vô minh, tức là si mê không
thấy rõ bản chất của sự vật hiện tượng đều nương vào nhau mà sinh khởi, đều vô
thường và chuyển biến, không có cái chủ thể, cái bền vững độc lập ở trong chúng.
Chúng ta có thể nhận thấy một cách rõ ràng, khổ hay không là do lòng mình. Hay
nói cách khác, tùy theo cách nhìn của mỗi người đối với cuộc đời mà có khổ hay
không. Nếu không bị sự chấp ngã và dục vọng, vị kỹ hay phiền não khuấy động,
chi phối, ngự trị trong tâm thì cuộc đời đầy an lạc hạnh phúc.
Diệt đế: Là chân lý về diệt khổ. Phật giáo cho rằng mọi nỗi khổ điều có thể
tiêu diệt được để đạt tới trạng thái “niết bàn”. Một khi gốc của mọi tham ái được
tận diệt thì sự khổ cũng được tận diệt. Muốn diệt khổ phải đi ngược lại mười hai
nhân duyên, bắt đầu từ diệt trừ vô minh. Vô minh bị diệt, trí tuệ được bừng sáng,
hiểu rõ được bản chất tồn tại, thực tướng của vũ trụ là con người, không còn tham
dục và kéo theo những hành động tạo nghiệp nữa, tức là thoát khỏi vòng luân hồi
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 23
sinh tử. Nói cách khác diệt trừ được vô minh, tham dục thì hoạt động ngũ uẩn dừng
lại, tu đến niết bàn, tịch diệt khi ấy mới hết luân hồi sinh tử.
Phật Giáo cho rằng, một khi người ta đã làm lắng dịu lòng tham ái, chấp
7. Chính niệm: tâm niệm luôn tin tưởng vững chắc vào sự giải thoát, luôn tỉnh
giác trên ba phương diện Thân, Khẩu, Ý.
8. Chính định: kiên định, tập trung tư tưởng cao độ suy nghĩ về tứ điệu đế, vô
ngã, vô thường, tâm ý đạt bốn định xuất thế gian .
Theo con đường bát chính đạo nói trên, con người có thể diệt trừ vô minh,
đạt tới sự giải thoát, nhập vào niết bàn là trạng thái hoàn toàn yên tĩnh, sáng suốt,
chấm dứt sinh tử luân hồi.
Phật giáo còn có các tư tưởng từ bi hỉ xả, thương yêu con người, giải thoát
con người khỏi những đau khổ của cuộc sống trần gian (thuyết luân hồi) ngoài ra
Phật giáo còn đưa ra năm đều nhằm răn đe đem lại lợi ích cho con người và xã hội.
Chúng bao gồm: bất sát (không sát sinh), bất dâm (không dâm dục), bất vọng ngữ
(không nói năng thô tục, bậy bạ), bất âm tửu (không rượu trà) và bất đạo (không
trộm cướp).
1.3. Tổng quan về Phật giáo Việt Nam
1.3.1. Sự du nhập Phật giáo vào Việt Nam
Việt Nam nằm trong bán đảo Đông Dương, là cái gạch nối địa lý giữa hai
nước lớn, hai nền văn minh cổ xưa nhất của Châu Á và có thể là của cả loài người
là Ấn Độ và Trung Quốc. Với một địa thế, nằm giữa hai nước lớn như vậy, Việt
Nam tất nhiên chịu ảnh hưởng từ cả hai phía, phía Ấn Độ và phía Trung Quốc.
Ngày nay, căn cứ các tài liệu và các lập luận khoa học của nhiều học giả, giới
nghiên cứu hầu hết đều đồng ý rằng Đạo Phật đã được truyền vào Việt Nam rất
sớm, qua hai con đường Hồ Tiêu và Đồng Cỏ. Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 25
Phật giáo du nhập qua con đường biển
Xuất phát từ các hải cảng vùng Nam Ấn rồi qua ngã Srilanka, Indonesia,
Đường bộ còn gọi là con đường tơ lụa con đường này nối liền Đông Tây,
phát xuất từ vùng Đông Bắc Ấn Độ, Assam hoặc phía Trung Á, một nhánh của
đường tơ lụa đi từ Châu Âu qua các vùng thảo nguyên và vùng sa mạc ở Trung Á
tới Lạc Dương bằng phương tiện lạc đà.Các con đường bộ không thiếu nhưng vất
vả và khó nhọc hơn. Trước hết là có những con đường vừa thủy vừa bộ khá tiện
lợi. Thay vì đi vòng xuống eo biển Malacca, xa về phía Nam, thương nhân Ấn Độ
có thể chuyển hàng hóa qua eo biển Kra và bán đảo Mã Lai, theo những tuyến
đường bộ tiện lợi, có thể vượt vài giờ, nối liền biển nọ đến biển kia.
Cũng có thể các thương nhân và tăng sĩ qua vùng Tây Tạng và các triền sông
Mekong, sông Hồng, sông Đà mà vào Việt Nam có nói rõ: “Các thương nhân xuất
phát từ Trung Ấn có thể dùng tuyến đường bộ ngang qua đèo Ba Chùa và theo
sông Kanburi mà xuống Châu Thổ Mênam, bằng tuyến đường hiện nay vẫn nối
liền cảng Moulmein với thành phố Raheng, nằm trên một nhánh của con sông
Mênam (…) chính tuyến đường này dẫn tới vùng Bassak ở trung lưu sông Mekong,
địa bàn của vương quốc Kambijan. Vương quốc này có thể là do những di dân Ấn
Độ thành lập trước công nguyên. Rất có thể các tăng sĩ Ấn Độ vào đầu công
nguyên đã theo con đường này mà đến đất Lào, rồi từ đây vượt Trường Sơn sang
Thanh Hóa hay Nghệ An”.(“Lịch sử Phật giáo Việt Nam” - NXB Hà Nội, 1988)
Xa về phía bắc, thì con đường nối Ấn Độ với Nam Trung Quốc ngang qua Assam,
thượng Miến Điện, và Vân Nam. Tuyến đường này hình như đã được sử dụng từ
thế kỷ II và thậm chí trước đó nữa. Những dữ kiện về con đường Hồ Tiêu và con
đường Đồng Cỏ có liên quan đến sự giao lưu của Việt Nam tuy chưa nhiều chứng
minh có những chứng tích mà lịch sử còn để lại, dù lịch sử truyền miệng hay thành
văn, theo lịch sử Phật giáo Việt Nam thì vào thế kỷ thứ II trước Tây lịch, vua Ấn
Độ Asoka sau cuộc đại hội kết tập kinh điển lần thứ ba, vua và trưởng lão Tissa
Moggaliputta đã gởi nhiều phái đoàn Như Lai sứ giả lên đường truyền bá chánh
Ảnh hưởng của Phật giáo đến lối sống và phong tục tập quán của người Việt Nam hiện nay
Nguyễn Thu Hương – K16 Lớp Chuyên ngành Tôn giáo học 27