Tiếp cận và sử dụng truyền hình của người dân Việt Nam hiện nay - Pdf 31

Tiếp cận và sử dụng truyền hình của người
dân Việt Nam hiện nay
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI
Đưa ra số liệu, những kết quả nghiên cứu: người dân tiếp cận với báo
chí
Xã hội càng phát triển, nhu cầu và quy mô giao tiếp trao đổi thông tin
càng lớn, đòi hỏi phải có sự trợ giúp của các phương tiện kỹ thuật thông tin
mới. Khi đó, các phương tiện thông tin đại chúng trở thành người điều khiển
các quá trình giao tiếp mang tính xã hội rộng rãi. Như vậy, truyền thông đại
chúng là hoạt động giao tiếp xã hội rộng rãi thông qua các phương tiện
thông tin đại chúng, như các thể loại báo in, báo nói, báo điện tử, báo truyền
hình.
Thực chất, truyền thông đại chúng là một phương thức biểu hiện mới của
hoạt động truyền thông trong xã hội với nhiều loại hình phương tiện khác
nhau (sách, báo in, điện ảnh, phát thanh, truyền hình, quảng cáo, internet,
băng đĩa hình và âm thanh).Truyền thông đại chúng ra đời và phát triển gắn
liền với sự phát triển của xã hội loài người và bị chi phối trực tiếp bởi hai
yếu tố là nhu cầu thông tin giao tiếp và kỹ thuật - công nghệ thông tin. Báo
chí là phương tiện truyền thông đại chúng phổ biến và quan trọng nhất.
Chủ tịch Hồ Chí Minh vẫn luôn luôn coi hoạt động báo chí là quan trọng, coi
báo chí là phương tiện chủ yếu để tuyên truyền, vận động và giáo dục quần
chúng, là vũ khí sắc bén đấu tranh.
Trong nhiều thập kỷ qua, từ thực tiễn hoạt động của báo chí, cũng như Chủ
tịch Hồ Chí Minh, Đảng, Nhà nước ta luôn đánh giá cao vai trò và tác dụng


to lớn của báo chí. Trong bài phát biểu tại Đại hội lần thứ VII Hội nhà báo
Việt Nam, đồng chí Tổng Bí thư Đỗ Mười khẳng định:
"Các phương tiện thông tin đại chúng đã đảm bảo định hướng chính trị đúng
đắn và xu hướng lành mạnh trong dư luận xã hội; nhiệt tình ủng hộ các
nước, nêu cao các điển hình tốt, cổ vũ, tìm tòi và sáng tạo, khuyến khích

hình. Trong thời đại bùng nổ thông tin như hiện nay truyền hình có nhiệm vụ
cực kỳ quan trọng và nặng nề đó là phương tiện thông tin xử lý tốt lượng
thông tin trong nước, quốc tế nhằm đáp ứng nhu cầu thông tin đa dạng,
nhiều chiều của xã hội. Đặc biệt trong sự nghiệp đổi mới hiện nay, truyền
hình luôn giữ vai trò người chiến sỹ xung kích trên mặt trận tư tưởng, văn
hóa, thực hiện tốt nhiệm vụ làm cho nhân dân hiểu rõ đường lối, chủ trương
của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước trên mọi lĩnh vực của công
cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội.
Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng chuyển tải
thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh. Trong quá trình của mình, truyền
thông là một trong những yếu tố hàng đầu làm cho con người tự nhiên trở
thành con người xã hội và thúc đẩy xã hội phát triển không ngừng. Kể từ khi
truyền hình xuất hiện vào đầu thế kỉ thứ XX và phát triển với tốc độ như vũ
bão nhờ sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật và công nghệ, tạo ra một kênh
thông tin quan trọng trong đời sống xã hội. Ngày nay, truyền hình là phương
tiện thiết yếu cho mỗi gia đình, mỗi quốc gia, dân tộc. Truyền hình trở thành
công cụ sắc bén trên mặt trận tư tưởng văn hóa cũng như các lĩnh vực kinh
tế - xã hội, an ninh quốc phòng.


Ở thập kỉ 50 của thế kỉ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công cụ
giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần đến thế kỉ này truyền hình đã
trực tiếp tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định
hướng dư luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa quảng cáo
và các dịch vụ khác.
Thực tế hiện nay có rất nhiều người xem truyền hình. Tại Việt Nam đang có
tổng số 20 triệu thuê bao truyền hình, có 3,7 triệu thuê bao trả tiền, chiếm
13,5%. Riêng truyền hình trả tiền Việt Nam chỉ có 79.000 thuê vào năm
2003 thì đến nay đã có hơn 3,7 triệu, mang lại doanh thu khoảng 53.000 tỷ
đồng. Mức tăng trưởng sẽ lên 20-25% vào 2015. Có thể thấy tiềm năng tăng

với dân chúng. Ở Anh vào đầu những năm 50 của thể kỷ trước người ta bắt
đầu nghiên cứu khán giả truyền hình. ITV- hang truyền hình thương mai của
Anh đã đo lường khán giả truyền hình bằng thiết bị đo lường gắn với tivi của
2000 hộ. Vào những năm 60, tại Pháp đã có nhiều nghiên cứu về số lượng
khán giả truyền hình và sự yêu thích của họ đối với các truyền hình. Sau
những năm 60 các phương pháp nghiên cứu về khán giả truyền hình ngày
càng được hoàn thiện, nhiều đề tài nghiên cứu về công chúng của truyền
thông đại chung theo các phương pháp định tính và cả định lượng. Người ta
đã sản xuất được thiết bị hiện đại gắn vào các tivi để đo lường hành vi của
người sử dụng chuyển về trung tâm xử lý và thông báo kết quả này hàng
ngày cho các đài truyền hình.
Còn có thể kể đến một khuynh hướng khác trong nghiên cứu công
chúng truyền hình của truyền hình Mỹ là “Khảo sát về sử dụng và thỏa


mãn” (Users and Gratifications Research) . Khuynh hướng này đi sâu
vào phân tích việc sử dụng truyền hình của công chúng và xem xét họ sử
dụng truyền hình ra sao. Mục đích cuối cùng là tìm xem với cùng một nội
dung được phát đi trên truyền hình thì gây ra phản ứng của công chúng
đến đâu, có những thỏa mãn khác nhau đối với từng loại công chúng.
Nghiên cứu về sự độc quyền truyền thông xã hội (Social Media
Monopol ) và thay thế của chúng - New INC Research Network ( Đơn vị
chuyên nghiên cứu về văn hoá mạng ). Social Media (truyền thông xã hội) là
khái niệm chỉ một phương thức truyền thông đại chúng (xã hội) trên nền
tảng các dịch vụ trực tuyến – tức là những trang web trên Internet. Nghiên
cứu này đề cập đến sự bùng nổ của truyền thông xã hội trong đời sống hiện
nay và khả năng đổ vỡ của đế chế mạng xã hội chứa đựng trong nó.
“ Mối quan hệ giữa truyền thông đại chúng, dư luận xã hội
và chính sách đối ngoại” , nghiên cứu của Matthew A. Baum and Philip
B.K. Potter ( Mỹ) đã chỉ ra rằng thông qua các phương tiện truyền thông,

hợp một số chuyên luận của Nguyễn Đình Lương, Nguyễn Văn Dững,
Dương Xuân Sơn, Phạm Chiến Khu... vừa nêu rõ vai trò của điều tra dư luận
xã hội, dư luận thính giả, vừa đề cập một số vấn đề về công chúng, lý luận
về phương pháp và ngôn ngữ điều tra thính giả.


Năm 2004, Khoa xã hội học Học Viện Báo chí và Tuyên truyền đã
tiến hành nghiên cứu đề tài “Thực trạng và nhu cầu tiếp cận truyền thông
đại chúng của sinh viên Hà Nội” tại 5 trường Đại học ở Hà Nội với 200
sinh viên. Đây là một đề tài nghiên cứu với quy mô nhỏ kết hợp định tính và
định lượng để tìm hiểu hành vi của sinh viên với các ấn phẩm và các chương
trình trên phương tiện truyền thông đại chúng. Đề tài đã tổ hợp được mong
muốn của sinh viên xem các kênh truyền hình, nội dung và chương trình cụ
thể. Số liệu của đề tài để phục vụ lớp bồi dưỡng của hội nhà báo cho các
phóng viên viết về thanh niên.
Luận án Thạc sĩ Xã hội học của tác giả Phạm Hương Trà năm 2005
với tên đề tài “Nhu cầu xem truyền hình của Thanh niên Hà Nội”. Đề tài
tìm hiểu nhu cầu của Thanh niên khi xem truyền hình. Tìm hiểu mức độ yêu
thích và thời gian mà đối tượng đó dành cho kênh truyền hình (VTV1,
VTV2, VTV3, Hà Nội) xem thanh niên có mối quan tâm ra sao và nhu cầu
của họ như thế nào. Từ đó định hướng giải quyết nhất định giúp đài truyền
hình có các cách thức tiến hành phục vụ thiết thực hơn cho đối tượng này.
"Vai trò báo chí trong định hướng dư luận xã hội” của tác giả Đỗ Chí
Nghĩa, HV Báo Chí & Tuyên Truyền năm 2009. Trong đề tài này, tác giả đã
nhắc tới mối quan hệ của báo chí với dư luận xã hội. Báo chí có các chức năng:
thông tin, văn hoá - giáo dục - giải trí, giám sát - quản lý xã hội, kinh doanh dịch vụ, chức năng tư tưởng. DLXH có các chức năng: điều tiết các mối quan hệ,
giáo dục, giám sát, tư vấn, mệnh lệnh, chỉ thị. Báo chí và DLXH có mối quan hệ:
báo chí là chủ thể khơi nguồn DLXH, DLXH là đối tượng phản ánh của báo chí,
báo chí định hướng DLXH nhưng sự phản ánh ấy không thụ động mà có ý thức rõ


nhiều lực lượng xã hội, nên tác giả đã xâu chuỗi, nhóm hợp những vấn đề
“nóng” trong quá trình phát triển của truyền hình Việt Nam. Đồng thời với
việc nêu “hiện tượng”, đưa ra những bức xúc với những vấn đề bất cập, luận
án cũng hướng tới việc chỉ ra cách thức giải quyết, đối tượng có trách nhiệm
phải giải quyết vấn đề.

Kết luận: Điểm lại các công trình nghiên cứu trước đó, ta thấy đề tài “ Tiếp
cận và sử dụng truyền hình của người dân Việt Nam hiện nay” là một đề tài
còn rất mới. Nghiên cứu sẽ tập trung tìm hiểu những vấn đề sơ bộ để bước
đầu làm rõ vấn đề này.
3. Khách thể, đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
3.1 Khách thể: Nhu cầu tiếp cận và sử dụng truyền hình của người
dân Việt Nam
3.2Đối tượng nghiên cứu: nhu cầu tiếp nhận sử dụng Những người
dân Việt Nam độ tuổi từ 13-70.
3.3Phạm vi nghiên cứu:
-Không gian: Nghiên cứu trên toàn lãnh thổ Việt Nam, được chia theo 6 khu
vực với các tỉnh/thành đại diện sau đây
- Đại diện khu vực trung du miền núi phía bắc: Phú Thọ
- Đại diện khu vực duyên hải miền trung: Đà Nẵng
- Đại diện khu vực tây nguyên: Lâm Đồng
- Đại diện khu vực đông nam bộ: tpHCM
- Đại diện khu vực tây nam bộ: An Giang
Tại mỗi tỉnh thành nghiên cứu định lượng lựa chọn một thành phố 1thị xã 1
huyện thuộc khu vực nông thôn


-Thời gian nghiên cứu: 4/3/2013—26/4/2013
Sử dụng bộ số liệu của TS Nhạc Phan Linh từ năm 2012
4. Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

5.1.Khung lý thuyết

Xu hướng phát triển của các loại hình báo chí

Đặc điểm nhân khẩu
học của công chúng
- Giới tính
- Độ tuổi

Thực
trạng, nhu

Phương thức tiếp
cận báo chí

cầu tiếp

nhận các
- Địa bàn cứ trú
sản phẩm
Hoạt động phục
- Trình độ học
vụ công chúng
báo chí
Nội dung tiếp cận
vấn
của các cơ quan
báo chí
của công
báo

với 1.052 ấn phẩm báo chí, 184 báo, 564 tạp chí, 25 báo ngày. có
gần 17 nghìn nhà báo, đang hoạt động trên khắp mọi vùng miền của
tổ quốc và ở nước ngoài
- 62 báo điện tử, 1024 trang tin điện tử tổng hợp chung (trong đó có
300 trang của các cơ quan báo chí); tổng số trang mạng xã hội 191
trang; tổng số Blog trên 2 triệu;
Biến can thiệp:
 Xu hướng phát triển của các loại hình báo chí
 Quan điểm, chính sách của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực báo
chí:


Biến phụ thuộc:
Thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng Việt Nam
và các yếu tố ảnh hưởng.
- Thực trạng tiếp nhận các sản phẩm báo chí của công chúng
+ Phương thức tiếp cận báo chí:
• Mức độ, tấn suất tiếp cận
• Thời gian tiếp cận
• Không gian tiếp cận
• Mức độ tương tác với báo chí
+ Nội dung tiếp cận sản phẩm báo chí:
• Đánh giá về chất lượng nội dung các sản phẩm
• Đánh giá về hình thức truyền tải
• Những chủ đề công chúng ưa thích
• Những chủ đề công chúng ít ưa thích
- Các yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp nhận các loại hình báo chí của
công chúng Việt Nam
+ Ảnh hưởng từ các yếu tố nhân khẩu học
+ Ảnh hưởng từ sự phát triển công nghệ truyền thông

Mục đích là nhằm khái quát những vấn đề liên quan đến nội dung
nghiên cứu, nắm bắt tổng quan thực trạng và nhu cầu tiếp cận và sử dụng
truyền hình của người dân hiện nay. Đồng thời phát hiện những vấn đề, khía
cạnh mới chưa được nghiên cứu sâu
6.2.2. Phỏng vấn sâu và thảo luận nhóm
Do đề tài nghiên cứu hướng tới việc tìm hiểu thực trạng, nhu cầu của
người dân Việt Nam bao gồm các nhóm công chúng khác nhau đối với việc
xem truyền hình, nên cần thảo luận nhóm và phỏng vấn sâu để thấy rõ được
các yếu tố như nhóm tuổi, giới tính, trình độ học vấn… của các nhóm khác
nhau sẽ có nhu cầu và cách tiếp nhận truyền hình khác nhau. Phương pháp
này cũng tìm hiểu được những đánh giá, cảm nhận của công chúng về vấn
đề nội dung truyên truyền hình
6.2.3. Phương pháp thu thập thông tin định lượng:
Mục đích nắm bắt số liệu thực trạng, nhu cầuVì nghiên cứu trên phạm
vị rộng là cả nước Việt Nam, nên nghiên cứu đã sử dụng phương pháp thu
thập thông tin bằng bảng hỏi anket tổng hợp, thống kê, xử lý thông tin được
dễ dàng, thuận lợi.
Nghiên cứu trên số lượng mẫu lớn, phù hợp nhất để lấy thông tin là sử
dụng bảng hỏi, đặc biệt tìm hiểu về thực trạng nhu cầu sử dụng và tiếp cận
truyền hình nên cần đến số lượng, thống kê đầy đủ mà khi sử dụng các
phương pháp khác không thể có được.


Cách thức thực hiện: nghiên cứu này sử dụng bộ nghiên cứu định
lượng của TS Nhạc Phan Linh
Mô tả về mẫu nghiên cứu định lượng: Nhằm xây dựng căn cứ khoa
học vững chắc cho việc mô tả thực trạng tiếp cận và sử dụng các phương
tiện TTĐC của công chúng, quy mô điều tra xã hội học thông qua phỏng vấn
bằng bảng hỏi được xác định là phạm vi cả nước, với cỡ mẫu phỏng vấn
1800 người, chia đều theo 03 vùng địa lý Bắc – Trung – Nam (600 mẫu/


PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài
1.1. Thao tác hóa khái niệm
1.1.1 khái niệm truyền hình:
Truyền hình là một loại hình phương tiện truyền thông đại chúng
chuyển tải thông tin bằng hình ảnh động và âm thanh đi xa bằng vô tuyến
điện. Ở thập kỷ 50 của thế kỷ XX, truyền hình chỉ được sử dụng như là công
cụ giải trí, rồi thêm chức năng thông tin. Dần dần truyền hình đã trực tiếp
tham gia vào quá trình quản lý và giám sát xã hội, tạo lập và định hương dư
luận, giáo dục và phổ biến kiến thức, phát triển văn hóa, quảng cáo và các
dịch vụ khác.
Năm 1920, hai nhà khoa học Mỹ Charles Francis Jenkins và nhà khoa học
Anh John Logie Baird đã tạo ra vật mẫu thành công đầu tiên của chiếc TV.
* Năm 1927, một người Mỹ trẻ tuổi là Philo Taylor Farnsworth đã phát triển
thành công phiên bản thương mại ống tia cực âm nhằm phát tín hiệu truyền
hình điện tử và đây là bước đột phá trong nghệ truyền hình của nhân loại.
* Năm 1930, một vài tiêu chuẩn của công nghệ TV cùng xuất hiện và cạnh
tranh để thống trị thị trường non trẻ này. Một trong những sản phẩm chiếm
ưu thế là chiếc EMI-Marconi. Năm 1950 có thể chạy 25 khung hình trên một
giây và khá phổ biến tại Anh. Một tiêu chuẩn TV khác có thể chạy 30 khung
hình trên giây và chủ yếu phát triển tại Mỹ.
Theo từ bách khoa từ điển điện tử thì báo truyền hình: Thông tin được
chuyển tải bằng hình ảnh và âm thanh qua thiết bị đầu cuối là máy phát hình
(đài truyền hình) và máy thu hình (television). Ưu điểm: thông tin nhanh;
khuyết điểm: khả năng tương tác hai chiều chưa cao.


1.1.2 Khái niệm tiếp cận : là một cụm từ chung dùng để miêu tả mức độ
một sản phẩm, thiết bị, dịch vụ, hoặc môi trường có thể được sử dụng bởi

hội, đấu tranh với các hành vi trái pháp luật. Nhà nước giao cho báo
chí những quyền không hạn chế về đối tượng và phạm vi để phản ánh
các hành vi trái pháp luật, trái các quy phạm đạo đức, các nội quy, quy
chế của các tổ chức.
Tuyên truyền, phổ biến góp phần bảo vệ đường lối, chủ trương, chính
sách của Đảng, pháp luật của nhà nước, thành tựu của đất nước và thế
giới; góp phần ổn định chính trị, nâng cao dân trí, đáp ứng nhu cầu văn
hoá lành mạnh của nhân dân, bảo vệ truyền thống tốt đẹp của dân tộc,
xây dựng và phát huy dân chủ XHCN, tăng cường khối đoàn kết toàn
dân, xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc.

- Nghị định của Chính phủ Số 51/2002/NĐ-CP ngày 26/4/2002, quy định
chi tiết thi hành Luật Báo chí, Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Báo
chí; bảo đảm quyền tự do báo chí, quyền tự do ngôn luận trên báo chí của
công dân, bảo hộ và tạo điều kiện cho cơ quan báo chí, nhà báo thực hiện
quyền hoạt động báo chí theoquy định của pháp luật. Nhằm tăng cường công
tác quản lý nhà nước về hoạt động báo chí;
Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng đưa ra quan điểm: “Quyết tâm làm cho nền
báo chí ngày càng trong sạch hơn, vững mạnh hơn; thì mỗi cán bộ, nhà báo


ngày càng phải tiến bộ hơn; nội bộ đoàn kết hơn; nhiệm vụ hoàn thành xuất
sắc hơn”; tạp chí Cộng sản số 834, 4/2012.

3.1 Xu hướng phát triển của báo truyền hình

Truyền hình là một thể loại sử dụng hình ảnh và âm thanh để tạo nên
thông tin cung cấp cho khán giả. Từ khi ra đời và phát triển đến nay, truyền
hình vẫn luôn tận dụng được những lợi thế của mình để cung cấp hình ảnh
của thế giới cho công chúng. Các đài truyền hình trên thế giới vẫn đang nỗ

xem truyền hình kĩ thuật số trên TV thông thường (set-top box) hoặc bộ giải
mã cho TV.
• TV độ nét cao: TV với độ nét cao hay HDTV (High-definition
television) là định dạng mới cho phép người xem có được những hình ảnh
sắc nét, rõ ràng, màu sắc trung thực, độ tương phản cao và chất lượng âm
thanh cũng tốt hơn nhiều nhờ có thêm nhiều điểm ảnh hơn trên từng cm.
Những chiếc TV được coi là HDTV nếu màn hình có đủ điểm ảnh (pixel) để
thể hiện được những hình ảnh sắc nét với độ phân giải 720p (1280x720
pixel) hoặc 1080i (1920x1080 pixel). Bạn cần phải có một chiếc HDTV và
bộ chuyển đổi HD hoặc bộ giải mã để xem được truyền hình kĩ thuật số.
• Máy ghi hình cá nhân PVR: Với PVR (Personal video recorder),
người xem có thể ghi lại nội dung truyền hình trực tiếp vào PC để xem lại
sau đó. Trong quá trình ghi lại các chương trình, chúng ta cũng có thể tạm


dừng (pause), xem lại (replay), tua hình (fast forward)… Hầu hết PVR đều
được kết hợp với các dịch vụ TV kĩ thuật số như: Sky, Freeview
• Xem video theo yêu cầu (on demand): “On demand” có nghĩa là
người xem có thể xem danh sách các chương trình để lựa chọn chương trình
muốn xem và không bị bó buộc về thời gian xem. Với dịch vụ theo yêu cầu,
đài truyền hình sẽ gửi tới khách hàng những show diễn hay những bộ phim
được yêu thích thông qua việc kết nối băng thông rộng nhờ bộ chuyển đổi
cho TV.
• Sự kết hợp giữa TV và máy tính: Gìờ đây, việc kết nối TV với máy
tính (PC) hay một thiết bị có thể đảm nhận cả 2 chức năng này không còn là
điều khó tưởng tượng. Nó sẽ mở ra một thư viện khổng lồ các đoạn video từ
mạng internet và có thể xem trực tiếp chúng trên TV. Điều này cũng gần
giống như việc sử dụng bộ nhớ PC như một chiếc PVR. Người tiên phong
trong lĩnh vực này là Microsoft với Media Centre. Bên cạnh đó, chiếc iTV
của Apple cũng mang đến những tiện nghi tương tự. Còn phải kể tới Xbox


-

Nhu cầu về an toàn (safety needs)

-

Nhu cầu về xã hội (social needs)

-

Nhu cầu về được quý trọng (esteem needs)

-

Nhu cầu được thể hiện mình (self-actualizing needs)

Các nhu cầu xuất hiện không theo thứ bậc như Maslow đã đề nghị mà
tùy thuộc nhiều vào cá nhân và hoàn cảnh. Các nghiên cứu đã chỉ ra rằng
nhu cầu con người tùy thuộc nhiều vào giai đoạn nghề nghiệp, quy mô của
tổ chức và vị trí địa lý. Nhu cầu an toàn được xếp hạng cao hơn nhu cầu tự


Trích đoạn Đánh giá về chất lượng nội dung các sản phẩm truyền hình Những chủ đề công chúng ưa thích Khác (ghi rõ) Khác (ghi rõ) 0,
Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status