LUẬN văn THẠC sĩ ẢNH HƯỞNG của tư TƯỞNG đạo đức PHẬT GIÁO đến đạo đức của THANH NIÊN QUÂN đội NHÂN dân VIỆT NAM HIỆN NAY - Pdf 40

3
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Trong suốt quá trình hình thành, tồn tại và phát triển hơn hai nghìn năm
qua, Phật giáo đã kế thừa nhiều thành tựu văn hóa của nhân loại và để lại
những giá trị riêng có của nó. Phật giáo có những đóng góp làm nên bản sắc
văn hóa độc đáo của không ít các quốc gia, dân tộc nơi nó du nhập. Ở Việt Nam,
Phật giáo đã đồng hành cùng dân tộc qua bao thăng trầm, biến động của lịch
sử; đã hoà nhập vào nếp sống, suy nghĩ của bao thế hệ người dân. Trong suốt
tiến trình lịch sử ấy, điều không thể phủ nhận được rằng, Phật giáo là một
trong những thành tố quan trọng góp phần làm nên bản sắc văn hóa dân tộc, là
một phần không thể thiếu trong nền văn hóa Việt Nam. Phật giáo đã để lại
dấu ấn trên nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội, nó tác động, ảnh hưởng sâu
sắc tới tâm lý, tình cảm, lối sống, ứng xử, phong tục tập quán… trong đó có
những ảnh hưởng khá đậm nét và góp phần hình thành những giá trị, chuẩn
mực đạo đức của người Việt Nam. Là thành viên trong cộng đồng dân tộc
Việt Nam, được sinh ra, nuôi dưỡng và lớn lên từ nhiều vùng văn hóa khác
nhau, TNQĐ cũng không nằm ngoài quá trình ảnh hưởng đó của tư tưởng
ĐĐPG. Quá trình ảnh hưởng tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ diễn ra trên
hai bình diện, có những tác động tích cực và cả những tác động tiêu cực.
Là một bộ phận ưu tú của thanh niên Việt Nam, TNQĐ có vai trò to
lớn, là lực lượng đang trực tiếp thực hiện nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc Việt Nam
XHCN. Họ là nguồn lực rất quan trọng trong sức mạnh chiến đấu của quân
đội ta. Xây dựng, bồi dưỡng và phát triển đạo đức TNQĐ về thực chất là xây
dựng, bồi dưỡng và phát triển ĐĐCM cho mỗi TNQĐ; chính là trực tiếp giáo
dục và rèn luyện tạo nên một thế hệ TNQĐ có chất lượng ngày càng cao về
chính trị, đạo đức, văn hóa, sức khỏe, lối sống và lý tưởng cao đẹp, sẵn sàng
chiến đấu, hi sinh vì độc lập, tự do của Tổ quốc, vì hạnh phúc của nhân dân.


4

thành những hướng nghiên cứu cơ bản với những công trình nghiên cứu cơ
bản sau đây:
Nghiên cứu Phật giáo như một bộ phận cấu thành lịch sử tư tưởng
Việt Nam: Mấy vấn đề về Phật giáo và lịch sử tư tưởng Việt Nam, gồm nhiều
bài viết của Viện Triết học [54], trình bày về mối quan hệ giữa Phật giáo vào
lịch sử tư tưởng Việt Nam, về tính chất của Phật giáo Việt Nam.
Lịch sử tư tưởng Việt Nam, (tập1) do Nguyễn Tài Thư chủ biên [38]. Trong
công trình nghiên cứu này, các tác giả trình bày lịch sử hình thành của tư
tưởng Việt Nam từ thời nguyên thủy đến thế kỷ XVIII, trong đó có đề cập sâu
đến nhiều vấn đề về Phật giáo và triết học của các thiền sư thời Đinh, Tiền Lê,
Lý, Trần; sự phê phán Phật giáo ở cuối thế kỷ XIV; cũng như đi sâu phân tích
tư tưởng Phật giáo các thế kỷ XVI, XVII, XVIII. Tư tưởng Phật giáo
Việt Nam, của Nguyễn Duy Hinh [17], trình bày Phật giáo đại cương, nghiên
cứu nội dung tư tưởng Phật giáo Việt Nam. Chỉ ra đặc điểm Phật giáo Việt
Nam được hình thành trên cơ sở tín ngưỡng, tâm linh của cư dân bản địa có
tiếp thu tôn giáo ngoại nhập.
Nghiên cứu tìm hiểu Phật giáo trong lịch sử phát triển của nó:
Việt Nam Phật giáo sử luận, (3 tập) của Nguyễn Lang [26], trình bày lịch sử
của Phật giáo Việt Nam qua các thời kì, kiến thức về giáo lí của Đạo Phật
cũng như các vị thiền sư, cư sĩ trong từng giai đoạn lịch sử. Lịch sử Phật giáo
Việt Nam, do Nguyễn Tài Thư chủ biên [37]. Công trình nghiên cứu này, các
tác giả trình bày lịch sử hình thành của Phật giáo Việt Nam, sự phát triển của
Phật giáo Việt Nam qua các thời kỳ và chỉ rõ tư tưởng đạo gắn với đời, đặc
biệt gắn với đời sống văn hóa dân tộc; khẳng định vị trí, vai trò của Phật giáo
đối với đời sống của nhân dân Việt Nam, nhất là đời sống tinh thần.
Đại cương triết học Phật giáo Việt Nam, (2 tập) của Nguyễn Hùng Hậu [16].


6
Tác giả đã khái quát những nét cơ bản về quá trình du nhập, cũng như ảnh

tích thực trạng và dự báo xu hướng ảnh hưởng cũng như yêu cầu khách quan
đòi hỏi khắc phục ảnh hưởng tiêu cực của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống
tinh thần của quân nhân ở đơn vị cơ sở hiện nay. Từ đó, nêu nên một số định
hướng, nguyên tắc và đề xuất những giải pháp khắc phục ảnh hưởng tiêu cực
của tín ngưỡng tôn giáo đến đời sống tinh thần quân nhân ở đơn vị cơ sở
QĐNDVN hiện nay.
Nghiên cứu về đạo đức Phật giáo và sự ảnh hưởng của nó đến đời
sống đạo đức xã hội Việt Nam: công trình nghiên cứu Đạo đức học Phật giáo,
do Hòa thượng Thích Minh Châu giới thiệu [5], gồm những bài tham luận của
nhiều tác giả, đã nêu những cơ sở và nhiều phạm trù ĐĐPG, phân tích và làm
rõ thêm những nội dung của các phạm trù này như: giới, hạnh, nguyện, thiện,
ác… Lý thuyết nhân sinh qua kinh tạng Pàli, của Hòa thượng Thích Chơn Thiện
[35]. Đây là một luận án tiến sĩ được dịch ra tiếng Việt và in thành sách. Nội
dung cơ bản đó là, tác giả lấy thuyết duyên sinh, ngũ uẩn của Phật giáo làm
cơ sở để lý giải nhân tính. Từ nhân tính theo nhãn quan của Phật giáo, tác giả
muốn góp phần phát hiện và xây dựng lối sống, đạo đức cho con người hiện
đại. Luận án tiến sĩ triết học Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong đời
sống đạo đức của xã hội Việt Nam hiện nay, của Tạ Chí Hồng [19]. Tác giả
làm rõ vị trí, vai trò tư tưởng của ĐĐPG, những cơ sở triết lý trực tiếp của
ĐĐPG: Phật giáo đặt trọng tâm vào con người; Phật giáo xây dựng đạo đức
trên nền tảng của thuyết nghiệp; Phật giáo xây dựng đạo đức trên nền tảng
của triết lý vô ngã, để lý giải câu hỏi vì sao con người hay chúng sinh có thể
giải thoát; Phật giáo cũng đề cao tinh thần của từ bi, trí dũng. Trong luận án,
tác giả cũng làm rõ quá trình du nhập, ảnh hưởng của ĐĐPG trong đời sống
đạo đức Việt Nam cả truyền thống và hiện tại. Luận án tiến sĩ triết học Ảnh
hưởng của đạo đức Phật giáo đến đạo đức con người Việt Nam, của tác giả


8
Đặng Thị Lan [24]. Tác giả đã bàn về những quan điểm của chủ nghĩa Mác –

quân đội. Tác giả đã đề xuất giải pháp trong tự giác hóa quá trình hình thành,
phát triển đạo đức cộng sản chủ nghĩa trong quân đội ta. Luận án tiến sĩ triết
học Phát triển đạo đức cách mạng ở thanh niên Quân đội nhân dân Việt Nam
trong tình hình hiện nay, của Nguyễn Hùng Oanh [33]. Tác giả trình bày
ĐĐCM ở TNQĐ; vai trò của ĐĐCM đối với TNQĐ hiện nay; những đặc
trưng bản chất và một số vấn đề có tính quy luật trong phát triển ĐĐCM ở
TNQĐ. Tác giả đã phân tích sâu sắc tình hình cũng như nêu nên một số yêu
cầu cơ bản trong phát triển ĐĐCM ở TNQĐ hiện nay. Từ đó, đề xuất một hệ
thống các giải pháp cơ bản để phát triển ĐĐCM ở TNQĐ hiện nay.
Có thể nói, các công trình nghiên cứu đã trình bày trên đã xem xét,
đánh giá Phật giáo trên nhiều phương diện khác nhau, cả những giá trị tích
cực và những mặt tiêu cực. Mỗi công trình nghiên cứu, luận án, bài viết ở các
khía cạnh và mức độ khác nhau đều trực tiếp hoặc gián tiếp bàn về sự ảnh
hưởng của triết học Phật giáo nói chung và tư tưởng ĐĐPG nói riêng đến đời
sống văn hóa tinh thần, đời sống đạo đức của con người Việt Nam; những vấn
đề ĐĐCM… Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu một
cách cơ bản, hệ thống dưới góc độ triết học về ảnh hưởng và đặc điểm ảnh
hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức thanh niên QĐNDVN hiện nay.
3. Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
* Mục đích nghiên cứu của đề tài
Luận chứng làm rõ ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức
TNQĐ. Đề xuất giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực,
hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ
hiện nay.


10
* Nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
- Tiếp cận, chỉ ra nội dung cơ bản của tư tưởng ĐĐPG và đặc điểm ảnh
hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ hiện nay.

khác như: lôgíc và lịch sử; phân tích và tổng hợp; khái quát hóa và trừu tượng
hóa; phương pháp chuyên gia; phương pháp điều xã hội học.
6. Ý nghĩa của đề tài
Góp phần làm rõ những giá trị, hạn chế của tư tưởng ĐĐPG. Chỉ ra
những ảnh hưởng của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ hiện nay. Từ đó,
đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy những ảnh hưởng tích cực,
hạn chế những ảnh hưởng tiêu cực của tư tưởng ĐĐPG đến đạo đức TNQĐ
hiện nay. Ngoài ra, đề tài có thể dùng làm tài liệu tham khảo trong nghiên
cứu, giảng dạy ở các nhà trường quân đội.
7. Kết cấu của đề tài
Ngoài phần mở đầu, danh mục tài liệu tham khảo, phụ lục, kết luận, kết
cấu đề tài gồm 2 chương, 4 tiết.


12
Chương 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ ẢNH HƯỞNG CỦA TƯ TƯỞNG
ĐẠO ĐỨC PHẬT GIÁO ĐẾN ĐẠO ĐỨC THANH NIÊN
QUÂN ĐỘI NHÂN DÂN VIỆT NAM
1.1. Tiếp cận triết học về tư tưởng đạo đức Phật giáo và đánh giá
ảnh hưởng của nó đến đạo đức Việt Nam truyền thống
1.1.1. Tiếp cận triết học về tư tưởng đạo đức Phật giáo
Theo truyền thuyết, người sáng lập Phật giáo là thái tử, tên là Siddhàrta
(Trung Quốc dịch là Tất Đạt Đa), họ là Cồ Đàm, con trai của vua Tịnh Phạn, vua
một nước nhỏ ở bắc Ấn Độ nay thuộc nước NêPan. Được sinh ra trong hoàn cảnh
đặc biệt, hơn nữa lại là con độc nhất, do đó vua và hoàng hậu rất yêu quý Tất Đạt Đa.
Ngay từ nhỏ Tất Đạt Đa đã được sống trong môi trường giàu sang, tuổi trẻ không
được rời hoàng cung, chỉ sử dụng thời gian vào việc giải trí, yến tiệc, học hành, lễ
bái tế tự. Tất Đạt Đa không hề thấy và cũng không hề biết những gì đen tối, cực
nhọc, xấu xa, bất hạnh đang xảy ra xung quanh mình, thậm trí cũng không ngờ rằng

Kinh điển Phật giáo rất đồ sộ, gồm ba bộ phận gọi là Tam tạng (Tripitaka),
gồm: Kinh (Sùtra), được coi là ghi lại lời Phật thuyết pháp. Luật (Vinaya), tức là
giới điều mà giáo đoàn Phật giáo phải tuân theo. Luận (Sàtras), tức là các tác phẩm
luận bàn, chú giải các vấn đề Phật giáo của các học giả, cao tăng về sau này bàn về
Kinh, Luật của Phật. Các giáo lý của Phật giáo được thâu tóm trong học thuyết
“Tứ diệu đế” nghĩa là bốn chân lý tuyệt diệu, thiêng liêng mà mọi người phải nhận
thức được. Chân lý thứ nhất là Khổ đế: Phật giáo đã khái quát toàn bộ cuộc sống
của cả đời người vào bốn chữ “đời là bể khổ” và cái khổ của cuộc đời được thâu
tóm trong “Bát khổ”. Chân lý thứ hai là Nhân đế: Phật giáo chỉ ra nguyên nhân của
mọi sự khổ đau. Có nhiều nguyên nhân dẫn con người tới khổ đau, song tựu trung
lại có ba nguyên nhân cơ bản đó là: “Tham, Sân, Si”. Những nguyên nhân ấy kết
hợp với “duyên khởi” hình thành thuyết “Thập nhị nhân duyên”. Chân lý thứ ba là


14
Diệt đế: Phật giáo khẳng định cái khổ có thể tiêu diệt được, có thể chấm dứt
được luân hồi bằng cách tiêu diệt các nguyên nhân sinh ra sự khổ đau ấy. Chân
lý thứ tư là Đạo đế: Phật giáo đưa ra con đường giải thoát, diệt khổ mà thực chất
là tiêu diệt vô minh. Cách thức ấy cần phải học là: Giới, Định, Tuệ. Có tám giải
pháp chính Phật gọi là “Bát chính đạo” để tiêu diệt khổ đau của con người.
Phật giáo với tư tưởng cơ bản là tiếng nói chống lại chế độ phân biệt đẳng
cấp, tố cáo bất công, đòi tự do và bình đẳng xã hội, nói lên khát vọng giải thoát
con người khỏi những bi kịch của cuộc đời. Đồng thời, Phật giáo cũng nêu cao
thiện tâm, từ bi, bác ái như là những tiêu chuẩn đạo đức cơ bản của đời sống xã
hội. Phật giáo về bản chất không phải là một học thuyết về đạo đức. Bởi lẽ, Phật
giáo không bàn riêng về đạo đức, không có kinh, sách chuyên bàn về đạo đức.
Tuy nhiên, trong giáo lý của mình, Phật giáo nhấn rất mạnh về đạo đức, cho nên
có thể gọi đây là một học thuyết về đạo đức. Xét ở góc độ nhận thức và thực
hành giáo lý theo tinh thần Phật giáo, thì ĐĐPG là cái nền để con người làm
phương tiện cụ thể để thực sự thoát khỏi tất cả những ràng buộc, đạt đến sự giải

được thể hiện trong giáo lý, giáo luật mà ĐĐPG thực hiện chức năng điều chỉnh
hành vi con người phù hợp với thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo. Chính
vì vậy, có thể quan niệm: tư tưởng đạo đức Phật giáo là toàn bộ những quan niệm,
những quy tắc, chuẩn mực đạo đức, được thể hiện trong giáo lý, giáo luật nhằm
điều chỉnh hành vi của con người theo thế giới quan và nhân sinh quan Phật giáo.
Trong toàn bộ giáo lý, giáo luật của Phật giáo, tư tưởng về đạo đức rất
rộng lớn. Với khả năng hạn chế của tác giả và phạm vi của luận văn cũng không cho
phép có thể bàn đến mọi khía cạnh, mọi vấn đề liên quan đến tư tưởng ĐĐPG, mà
chỉ tập trung nghiên cứu một số vấn đề cơ bản được thể hiện sâu sắc và có ảnh hưởng
mạnh mẽ đến đạo đức của con người Việt Nam nói chung và TNQĐ nói riêng.
Đạo đức Phật giáo gắn liền với tư tưởng về “giải thoát”. Mục đích cao
nhất của Phật giáo là chủ trương giải thoát con người. Giải thoát là cơ sở để hình


16
thành nên những nguyên tắc, chuẩn mực đạo đức. Ý thức, hành vi và những quan
hệ của con người được coi là có đạo đức khi nó phục vụ giải thoát. Mức độ phục
vụ cho giải thoát là những thang bậc để xác định những giá trị đạo đức, xác định
những cái gì liên quan đến hạnh phúc, lương tâm và danh dự…của con người.
Xuất phát điểm của tư tưởng giải thoát trong triết lý Phật giáo là bắt nguồn từ nỗi
khổ của con người. Nhiệm vụ, mục đích tối cao của sự giải thoát trong triết lý Phật
giáo là tu học, trau rồi trí tuệ, xóa bỏ vô minh, mê ngộ của con người, đạt tới sự
giác ngộ, với cái tâm sáng tỏ, nhận ra chân bản tính của mình và thực tướng của
vạn vật, từ đó dập tắt được ngọn lửa ái dục, thoát khỏi mọi khổ não của cuộc đời.
Tư tưởng giải thoát được trình bày trong “Tứ diệu đế”, Phật giáo cho rằng
đời người là bể khổ và nguyên nhân hàng đầu của khổ là do vô minh. Do vô
minh nên con người bị ngũ dục (năm thứ ham muốn: danh vọng, tiền tài, sắc đẹp,
ăn uống, ngủ nghỉ) che lấp mất phật tính, bị nô lệ hóa. Để giải thoát, Phật giáo
khuyên con người hãy sống theo phật tính, phát huy phật tính vốn có. Phật giáo
đã tạo cho con người niềm tin, động viên con người hãy tận dụng thời gian trong

hoàn toàn trái ngược với Nho giáo, trong xã hội phong kiến người phụ nữ bị
trói buộc bởi lễ giáo phong kiến hà khắc. Đạo Hồi ra đời sau Phật giáo rất lâu
mà tư tưởng bình đẳng nam nữ là một vấn đề mà họ không chấp nhận.
Bình đẳng của tất cả mọi người về mặt nghiệp báo, luân hồi. Không phân
biệt giàu nghèo, địa vị cao thấp, tuổi tác, mọi người đều căn cứ vào nghiệp báo
của bản thân để quyết định sinh tử luân hồi. Điều này được thể hiện rõ trong
thuyết nhân quả, nghiệp báo, luân hồi. Thuyết nhân quả là một chân lý mà Đức
Phật đã giác ngộ được và dạy cho chúng sinh: muốn biến cái nhân đời trước của
mình thế nào thì hãy xem kết quả của cuộc đời ngày hôm nay, muốn biết kết quả
ngày mai của mình thế nào thì phải xem xét việc làm của mình ngày hôm nay.
Theo thuyết nhân quả, có hai loại nhân, làm lành gọi là thiện nghiệp, làm ác gọi
là ác nghiệp. Người làm thiện thì hưởng quả báo thiện, người làm ác thì chịu


18
quả báo ác, cho nên “con người vừa là chủ nhân của nghiệp, vừa là kẻ thừa tự
của nghiệp”. Với thuyết nhân quả, Phật giáo khẳng định: không có lực lượng
siêu nhiên nào phán xét, ban thưởng hay trừng phạt các hành động tốt, xấu của
con người, mà chính con người tự quyết định số phận, cuộc sống của mình
thông qua việc cố gắng trau dồi những tư tưởng, lời nói và hành động tốt đẹp.
Đề cao tinh thần bình đẳng giữa con người với con người là một điểm tiến
bộ của Phật giáo so với các tôn giáo khác. Khi nói về sự bình đẳng của đạo Cơ Đốc,
Ph.Ăng ghen đã nhận xét rất sắc sảo, ông viết: “Đạo Cơ Đốc chỉ biết một sự bình
đẳng đối với tất cả mọi người, đó là sự bình đẳng về tội tổ tông, một sự bình
đẳng hoàn toàn phù hợp với tính chất của nó là tôn giáo của những người nô lệ
và những người bị áp bức. Bên cạnh sự bình đẳng ấy, nhiều lắm thì đạo Cơ Đốc
cũng chỉ thừa nhận giữa những người được Chúa chọn, nhưng sự bình đẳng ấy
chỉ được người ta nêu ra vào thời kỳ đầu của đạo Cơ Đốc mà thôi” [1, tr. 150].
Như vậy là, công nhận có một đấng sáng tạo ban phát cho con người quyền bình
đẳng, chính đấy đã là sự bất bình đẳng. Nho giáo không những chính thức công

tạo thành mà thôi, theo quy luật có ngày nó sẽ bị tan rã, suy yếu, già rồi chết. Do
vậy, con người không nên mê muội theo đuổi danh lợi, không cần thiết phải tranh
giành mà cần phải độ lượng, khoan dung với mọi người. Đó cũng chính là cách
con người hoàn thiện bản thân để tiến tới giải thoát. Với thuyết vô thường, vô ngã,
Phật giáo đem lại cho con người một triết lý sống vị tha, nhân bản. Khi đã thấu
suốt được chân lý này, con người sẽ vươn lên khỏi cuộc sống vị kỷ mà sống theo
tinh thần từ, bi, hỷ, xả, vô ngã, vị tha. Như vậy, Phật giáo là một tôn giáo giàu tình
thương và yêu chuộng hòa bình. Với lý tưởng nhân văn, bác ái, Phật giáo dễ gắn
bó với quần chúng, gần gũi với quan niệm nhân đạo cộng sản chủ nghĩa.
Đạo đức Phật giáo là hướng thiện, chống cái ác và cảm hóa con
người. Trong giáo lý của Phật giáo, dù ở bất kỳ tập Kinh, tập Luận hay tập Luật
nào, dù ít hay nhiều cũng ngầm chứa những tư tưởng về cái thiện, mà tiêu chí


20
đầu tiên là “bất sát”, dù có biện luận như thế nào thì cũng phải công nhận đạo
Phật là một đạo thiện. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng nhận xét về ĐĐPG như
sau: “cái sống trong đạo đức Phật giáo là từ bi và cứu khổ, cứu nạn. Nó vượt qua
thời gian, không gian vì nó nhằm bảo vệ, phát huy, duy trì nhân bản “làm điều
lành”, “hướng về điều lành”, hoặc ít nhất “đừng làm cái ác”, “đừng hướng về cái
ác”.
Thuyết Nghiệp báo, Nhân quả, Luân hồi với mục đích thiết thực của Phật
giáo mong muốn ai cũng làm điều thiện, tránh điều ác. Nó có giá trị trong việc
giáo dục và thực hành đạo đức, đó là: con người gieo nhân nào thì sẽ được quả ấy.
Chính vì vậy, đã góp phần nâng cao trách nhiệm của mỗi cá nhân trong quá trình
sống trong môi trường xã hội. Nó có tác dụng điều chỉnh không chỉ ý thức đạo
đức mà cả hành vi đạo đức của con người. Khuyên con người sống nhân ái, vị tha,
làm điều thiện, tránh điều ác. Phạm vi ảnh hưởng của nó không chỉ với Phật tử và
còn cả xã hội. Trách nhiệm của cá nhân theo luật nhân quả là trách nhiệm cao nhất
đối với đạo đức của chính mình, con người cố gắng làm điều thiện, tu nhân tích

Đạo đức Phật giáo đã để lại dấu ấn đậm nét trong lịch sử tư tưởng Ấn Độ
cũng như lịch sử tư tưởng nhân loại. Với tính nhân văn sâu sắc đã đáp ứng được
khát vọng của nhiều tầng lớp nhân dân. Mặc dù vậy, trong nội dung ĐĐPG bên
cạnh những giá trị đã được trình bày ở trên, còn bộc lộ những hạn chế như:
Đạo đức Phật giáo kêu gọi lòng từ bi, bác ái, nhưng đó là lòng từ bi bác
ái chung cho mọi xã hội có áp bức, có bóc lột giai cấp là một điều không
tưởng. Phật giáo khuyên con người sống nhân ái, vị tha, xóa bỏ hận thù. Song,
Phật giáo lảng tránh sự đấu tranh giai cấp, lảng tránh thực tại là sự đối lập về
điều kiện sống của những người bị áp bức và những kẻ áp bức. Về nỗi khổ
của con người, do quá nhấn mạnh vào nguyên nhân từ chính con người như
tham, sân, si, sinh, lão, bệnh, tử… mà Phật giáo quên đi các nguyên nhân
khác như áp bức bóc lột, bất công xã hội gây nên. Chính vì vậy, Phật giáo tìm


22
cách giải thoát con người không phải trong hoạt động cải tạo tự nhiên và xã
hội mà bằng việc hoàn thiện đạo đức. Đây chính là điểm mạnh về mặt lý
tưởng hóa, song lại là điểm yếu về phương diện hiện thực hóa của ĐĐPG. Tư
tưởng từ bi, hỉ xả, bình đẳng của Phật giáo rất đáng trân trọng, song mục đích
cuối cùng nhằm đạt tới cõi Niết bàn bên ngoài hiện thực. Do vậy, tư tưởng
giải thoát đau khổ cho con người của Phật giáo không kém phần hoang tưởng,
có chăng chỉ giải phóng cho người ta về mặt tinh thần mà thôi.
Phật giáo không hướng lý tưởng, mục đích của con người vào hiện thực
để xây dựng một nền đạo đức và con người hiện thực mà xây dựng một con
người không có tham vọng, không có ý chí phản khảng lại những áp bức của
đời sống hiện thực, tạo tâm lý bằng lòng với thực tại, khiến cho con người
cam chịu, nhẫn nhục trước những khó khăn, thách thức của cuộc sống. Với
triết lý nhân quả, duyên, nghiệp, vô ngã…không đem đến cho con người niềm
tin nơi trần thế mà là niềm tin của sự thoát tục, niềm tin vào sự giải thoát. Con
người phải gánh chịu những hậu quả của hành động của mình từ kiếp trước.

Những hạn chế trên đây, xuất phát từ điều kiện kinh tế xã hội của Ấn Độ
trong thời điểm lịch sử Phật giáo xuất hiện, một xã hội với cơ sở kinh tế còn
nghèo nàn, đơn giản, sự phân chia đẳng cấp ngặt nghèo, thì tư duy con người
phản ánh những cơ sở kinh tế đó còn hạn chế là điều không thể tránh khỏi. Mặt
khác, ĐĐPG là đạo đức tôn giáo cho nên nó bị chi phối bởi đặc trưng cơ bản của
tôn giáo là tính chất hư ảo, duy tâm nên có những hạn chế là điều tất yếu.
* Bản chất của tư tưởng đạo đức Phật giáo
Đạo đức Phật giáo là đạo đức phi giai cấp, phi lịch sử, phi hành động,
phi hiện thực. Bởi vì, nếu tôn giáo là sự phản ảnh hư ảo, xuyên tạc hiện thực
khách quan với chức năng đề bù hư ảo, thì tưởng ĐĐPG cũng là sự phản ảnh
hư ảo ấy. Mặc dù, xét trên những nội dung cụ thể nó có những “hạt nhân hợp
lý” cần kế thừa. Phật giáo coi xã hội chỉ là một tập hợp những cá nhân khác


24
nhau về đạo đức, nhưng không loại trừ nhau về giai cấp, đẳng cấp. Phật giáo
không quan niệm con người với tư cách là thành viên của một quan hệ sản
xuất, quan hệ kinh tế hay chính trị.v.v.. mà chỉ đơn thuần là thực thể của quan
hệ đạo đức thiện – ác. Do đó, ĐĐPG không hướng vào cải tạo điều kiện sống
mà chỉ cố san bằng hố ngăn cách xã hội bằng đạo đức. Đạo đức Phật giáo
phát triển, nhưng chỉ là đạo đức cá nhân chứ chưa đạt đến đạo đức xã hội.
Đạo đức Phật giáo là đạo đức hướng về nội tâm con người. Thông qua
những quan niệm, chuẩn mực, quy tắc được thể hiện trong giáo lý, giáo luật mà
ĐĐPG thực hiện chức năng điều chỉnh hành vi con người phù hợp với thế giới
quan và nhân sinh quan Phật giáo, nhằm mục đích giải thoát con người khỏi khổ
đau. Cái mạnh của ĐĐPG chính là ngoài những điều phù hợp với tình cảm đạo
đức của con người, nó lại được thực hiện thông qua tình cảm, tín ngưỡng, lòng
tin mang tính chất tôn giáo. Do đó, ĐĐPG được con người tiếp thu tạo thành đức
tin thiêng liêng bên trong chi phối hành vi, ứng xử của họ trong các quan hệ xã
hội. Chính vì ĐĐPG thiên về nội tâm, phản tỉnh hơn là xử lý các quan hệ bề

khó khăn, song đó là sự cổ vũ tinh thần cho con người trong việc vươn đến
những giá trị cao đẹp, các quan hệ tốt đẹp giữa con người với con người. Tuy
nhiên, ĐĐPG không đề cập đến sức mạnh xã hội để khắc phục hiện thực mà
chỉ khuyên con người quay về tự hoàn thiện mình, tách khỏi các mối quan hệ
xã hội, vì vậy nó mang tính tiêu cực, thụ động.
Như vậy, từ những khía cạnh bản chất của tư tưởng ĐĐPG đã trình bày
trên cho thấy, mặc dù có những “hạt nhân hợp lý” và giá trị không thể phủ
nhận, nhưng tư tưởng ĐĐPG vẫn bị ngự trị bởi thế giới quan duy tâm tôn giáo
và có ảnh hưởng tiêu cực lâu dài tới đời sống tinh thần của con người. Do đó,
phải có thái độ khoa học trong xem xét ảnh hưởng của nó, cần biết phát hiện
ra những “hạt nhân hợp lý”, những giá trị phù hợp với đạo đức mới để kế
thừa, phát huy, nâng nó lên một chất lượng mới, đáp ứng yêu cầu xây dựng và


26
bảo vệ Tổ quốc hiện nay. Đồng thời, cũng thấy được những ảnh hưởng tiêu
cực để có biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, khắc phục.
1.1.2. Đánh giá ảnh hưởng của tư tưởng đạo đức Phật giáo đến đạo
đức Việt Nam truyền thống
Phật giáo du nhập vào Việt Nam từ khoảng thế kỷ thứ II tr CN và tồn
tại trên đất nước ta cho đến nay đã hơn hai nghìn năm. Về con đường du nhập
của Phật giáo vào nước ta có nhiều quan điểm khác nhau, tuy nhiên quan
điểm của Giáo sư Trần Quốc Vượng trong “Cơ sở văn hóa Việt Nam” nhận
được nhiều sự đồng tình của các nhà nghiên cứu đó là: “Đạo Phật tại Giao
Châu chắc chắn do từ Ấn Độ truyền sang trực tiếp, mãi về sau này mới lại do
từ Trung Quốc tiếp tục truyền xuống” [56, tr. 105]. Xuất phát từ hoàn cảnh lịch
sử khác nhau, nên mỗi thời kỳ Phật giáo mang những sắc thái khác nhau, có
vị trí, vai trò khác nhau trong đời sống, xã hội của con người Việt Nam. Theo
suốt chiều dài lịch sử, Phật giáo luôn có mặt, gắn bó mật thiết với dân tộc và
hầu như đã thấm sâu vào máu thịt rất nhiều người Việt. Bởi vậy, dù trực tiếp

trong suốt chiều dài lịch sử của quá trình dựng nước và giữ nước của dân tộc ta.
Ảnh hưởng của đạo đức Phật giáo trong quan hệ ứng xử, giao tiếp:
nhiều phạm trù ĐĐPG tham gia vào nền đạo đức của dân tộc, đã trở thành
phương tiện diễn đạt quan niệm đạo đức truyền thống của người Việt Nam.
Các phạm trù như “từ bi, hỷ xả”, “vô ngã, vị tha”, “cứu nhân độ thế”, “tu nhân
tích đức”, “sống nhân từ để phúc cho đời sau”… đã không còn là những thuật
ngữ nguyên nghĩa của riêng Phật giáo, mà đã trở thành một phần trong lẽ sống
của người Việt, trở thành ngôn ngữ của đạo đức thực tiễn. Cách thức giao tiếp,
ứng xử của người Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rất lớn bởi các quan niệm
Phật giáo. Nét phổ biến trong quan hệ ứng xử và giao tiếp của Phật giáo là cái
thật, cái thiện ở cả thân, khẩu, ý. Trong bát chính đạo của Phật giáo, có chính
ngữ (giữ cho lời nói được đúng mực), đó chính là một trong các điều kiện để



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status