Cái chết của tác giả của r barthes và một số liên hệ với tình thế văn học việt nam hiện nay - Pdf 30

CÁI CHẾT CỦA TÁC GIẢ CỦA R. BARTHES VÀ MỘT SỐ
LIÊN HỆ VỚI TÌNH THẾ VĂN HỌC VIỆT NAM HIỆN NAY
Phùng Gia Thế
1"Cái chết của tác giả" của R. Barthes được viết năm 1968 là một sự phản
tỉnh mạnh mẽ đối với tình trạng phì đại của phạm trù tác giả trong nghiên cứu, phê
bình văn học phương Tây đương thời. Trong một ý nghĩa khái quát hơn, "cái chết
của chủ thể", "cái chết của tác giả", "sự khủng hoảng cá tính" hay nói rộng ra:
"sự giải nhân cách hóa" là một sự xác định chung về hiện tượng khủng hoảng cá
nhân trong triết học, mĩ học và phê bình văn học của chủ nghĩa cấu trúc, hậu cấu
trúc và hậu hiện đại. Từ việc phân tích ý nghĩa to lớn của công trình "Cái chết của
tác giả" đối với nghiên cứu phê bình văn học phương Tây đương đại, tác giả bài
báo có những liên hệ bước đầu tư tưởng của R. Barthes với đời sống lí luận, phê
bình và thực tiễn sáng tác của văn học Việt Nam hôm nay.

1. Khởi sự của cái chết: sự viết bắt đầu
Cái chết của tác giả được R. Barthes viết năm 1968, năm đánh dấu bước chuyển từ chủ nghĩa
cấu trúc sang hậu cấu trúc luận và giải cấu trúc. Hẳn không phải ngẫu nhiên, sau đấy, năm 1969, M.
Foucault cũng tuyên cáo về "cái chết của chủ thể" trong "Một tác giả là gì?". Về tư tưởng, luận đề
chống tác giả của Barthes xuất phát từ thái độ thù địch công khai của ông với mọi thứ quyền uy được
thiết tạo bởi chủ nghĩa tư bản và xã hội tư sản (trong đó có quyền uy của cá nhân, cá tính tự trị). Điều
này cũng có nghĩa, cho dù không phải là nhà triết học, Barthes cũng đã thể hiện một sự phê phán đối
với một tư tưởng hệ. Trong kiến giải của mình, Barthes khẳng định: "Tác giả" là một nhân vật của thời
kì hiện đại, được sản sinh ra từ cuối Trung cổ, cùng với chủ nghĩa kinh nghiệm Anh, chủ nghĩa duy lí
Pháp và đức tin cá nhân của cải cách tôn giáo, xã hội ấy đã phát hiện ra "uy lực của con người cá thể",
hay, như người ta thường nói, theo một cách cao nhã hơn: của “cá nhân con người”
(1)
. Theo lô-gic đó,
khi đi vào văn học thì "chính tư tưởng thực chứng - bản tổng kết, tinh hoa của ý thức hệ tư sản, đã trao

bởi những lí do trên. "Cái chết của chủ thể", "cái chết của tác giả", "sự khủng hoảng cá tính" hay nói
rộng ra: "sự giải nhân cách hóa", nói như I.P.Ilin, là "một sự xác định chung về hiện tượng khủng hoảng
cá nhân trong triết học, mĩ học và phê bình văn học của chủ nghĩa cấu trúc, hậu cấu trúc và hậu hiện
đại"
(7)
. Trong nhãn quan của các nhà lí thuyết hậu cấu trúc và hậu hiện đại thì ý thức và kinh nghiệm cá
nhân luôn là sự tái tạo và là sản phẩm nhân tạo của các cơ chế bên trên cá nhân: giai cấp, gia đình, văn
hóa và đặc biệt là “ý thức ngôn ngữ”. Họ cho rằng, chính ngôn ngữ quyết định tư duy và mọi hoạt động
của con người, chứ không phải con người điều khiển (làm chủ) ngôn ngữ. Chủ nghĩa hậu hiện đại cũng
xoá sổ niềm tin rằng ngôn ngữ có thể qui chiếu thực tại. Và vì sự hiểu biết của con người về thế giới chỉ
có thể đạt được qua ngôn ngữ, bằng ngôn ngữ nên sự hiểu biết ấy không phải là sản phẩm của thế giới
như nó hiện hữu, mà là kết quả của sự "diễn dịch" các văn bản. Thế giới khi ấy trở thành một văn bản,
trong đó ý thức của chủ thể cũng chỉ là một tổng số của các văn bản mà thôi. Có thể nói, với việc đồng
nhất ý thức con người với văn bản và với cái nhìn liên văn bản, tư duy hậu hiện đại đã phá hủy tận gốc
quan niệm phương Tây hiện đại vẫn xem chủ thể là trung tâm vũ trụ và cá nhân là một tồn tại duy lí,
độc lập với khách thể. Quan điểm xem cá nhân không thể tồn tại độc lập trong quá trình tư duy, mà
luôn bị chi phối một cách vô thức bởi những cấu trúc ngôn ngữ và các diễn ngôn văn hóa thời đại đã
dẫn đến sự phủ định quyền lực của cá tính. Tính chủ thể tự trị, tính độc sáng của cá nhân theo đây chỉ
còn là một ảo tưởng.
Viết, theo Barthes, không phải là hành vi tác động trực tiếp lên thực tại nữa, mà là việc hiện
thực hóa nhiệm vụ "trình tấu lại biểu tượng", và khi ấy, sự đứt gẫy sẽ tất yếu diễn ra, "tiếng nói đánh
mất nguồn gốc, tác giả khởi sự chết và sự viết bắt đầu"
(8)
. Với Barthes, nhà văn chính là kẻ, hẳn là đích
đáng nhất, "chịu để mất cái cấu trúc của bản thân và của thế giới trong cấu trúc của ngôn ngữ”. Và, một
khi nói và viết trong tác phẩm không phải do tác giả, mà do ngôn ngữ thì độc giả sẽ không còn nghe
thấy tiếng nói của tác giả, mà thay vào đó là tiếng nói của văn bản, cái tiếng nói được tổ chức tương
ứng với các mã văn hóa của thời đại mình, của nền văn hóa mình. Tác giả không phải là quá khứ của
cuốn sách, cũng không phải người bú mớm cho nó với những tư duy, đau khổ, trải nghiệm vì nó, mà trở
thành “người viết” (hay "người ghi"). "Người viết", "người ghi" sinh thành cùng lúc với văn bản của

văn bản đều “biến thành một không gian trống rỗng của dự phóng trò chơi liên văn bản”. Liên văn bản,
theo nghĩa nguyên khởi và đích đáng nhất của từ này, theo L.P.Rjanskaya, là "cơ chế vận hành của hiện
thực được văn bản hóa, nằm ngoài ý muốn của tác giả văn bản - do tâm thức của thế kỉ XX sinh ra.
Chính trong thế kỉ này liên văn bản đã trở thành quan niệm trung tâm về một bức tranh thế giới xác
định, cụ thể là quan niệm xem thế giới như một văn bản…”
(12)
.
Khi cái "tôi" đụng độ với văn bản, Barthes viết, thì "tự thân đã là vô số văn bản khác và vô số
mã bất tận, đúng hơn là những mã đã mất… Tính chủ quan thường được đánh giá như là sự toàn vẹn
nhờ đó cái “tôi” làm cho văn bản trở nên đầy đủ thật ra là sự toàn vẹn giả tạo; đó chỉ là dấu vết của tất
cả những mã tạo thành cái "tôi" này. Như vậy, tính chủ quan của tôi rốt cuộc chỉ là sự tầm thường của
những khuôn mẫu” (S/Z). Bản chất của sự viết, theo Barthes, "chỉ là sự phỏng lại một cử chỉ suốt đời có
trước, không bao giờ mới mẻ được"
(13)
. Viết, kể cả trong trường hợp người viết muốn phô bày “nội
giới” của mình chăng nữa, thì cũng chỉ là "quá trình diễn dịch đến vô tận một cuốn từ điển làm sẵn, nơi
mà các từ muốn được hiểu cũng không thể không thông qua các từ khác, cứ thế đến vô tận "
(14)
. Trong
Độ không của lối viết, Barthes cũng từng nhấn mạnh điều này khi ông cho rằng "những lối viết khả dĩ
của một nhà văn nào đó hình thành dưới áp lực của Lịch sử và Truyền thống", "[ ] đúng lúc mà Lịch
sử chung đề xuất - hay áp đặt - một cục diện mới của hành ngôn văn học, thì lối viết vẫn còn đầy ắp
những kí ức về những cách dùng trước đây, vì hành ngôn không bao giờ vô tư: các từ có một trí nhớ thứ
hai còn kéo dài một cách bí ẩn giữa những ý nghĩa mới" [ ], và người viết "không còn có thể phát triển
lối viết tự do [ ] mà không dần bị cầm tù trong những từ của người khác và thậm chí những từ của
chính mình. Một sự tồn dư ngoan cố, lưu lại từ tất cả các lối viết của tôi, át mất giọng nói hiện tại của
các từ tôi đang dùng”
(15)
. Như thế là, bản thân tác giả không phải Thượng Đế hay một sứ thần mang
thông điệp của Thượng Đế. Cái được biểu đạt trong văn bản mất dạng. Văn bản chỉ còn là "một dải

thế giới hoàn toàn mới mẻ, biệt lập. Hai là, khi người đọc ứng xử với tác phẩm như với một văn bản, thì
cũng khi ấy, tác giả đã chết trong những cách diễn giải của người đọc. Anh ta (tác giả) không còn là kẻ
thống nhất ý nghĩa văn bản, cũng không thể trói buộc nghĩa của văn bản hay bắt người ta phải hiểu văn
bản theo chủ ý của mình. Tuy nhiên, không thể phớt lờ hoàn toàn vị thế của tác giả, chính Barthes vẫn
phải nhắc đến "một hình thù bé xíu ở tít đầu kia của sân khấu văn học", "sự ẩn mình trên mọi cấp độ"
của tác giả, thậm chí ông còn thừa nhận "quyền năng" của tác giả, cho dù theo ông đó chỉ là quyền năng
của kẻ "có thể pha trộn nhiều lối viết khác nhau, đem một số chọi lại một số khác, để không bao giờ
dừng chân ở một lối viết duy nhất"
(20)
. Tuyên cáo "tác giả đã chết" thực ra là cách "lạ hóa" tư tưởng mà
Barthes dùng chủ yếu để phản tỉnh. Trên thực tế, tác giả "chết" như thế nào, "chết" ở mặt nào, mức nào,
hay nó có chịu "chết" không, lại là một vấn đề không đơn giản. Vả lại, Barthes nói về cái chết của tác
giả dựa trên bối cảnh khủng hoảng của cá tính, cá nhân tự trị trong văn hóa, văn học phương Tây dưới
sự cắt nghĩa của các học thuyết khoa học mới và là lời tố cáo của ông với sự phì đại của vị trí tác giả
trong nghiên cứu, phê bình văn học đương thời. Vậy nên, chúng ta chỉ nên nói đến "cái chết" hay "cái
cần chết" (mượn chữ dùng của Nguyễn Ngọc Tuấn) của tác giả trong văn học Việt Nam ở những trạng
huống cụ thể.
Loại trừ vai trò của tác giả, văn bản và người đọc trở thành tiêu chuẩn của sự diễn giải. Theo
Barthes, văn bản là một kiểu cấu trúc ngôn ngữ không tự thân khép kín, mà đa chiều, lỏng lẻo, nhiều
tầng bậc. Vì vậy, “đối diện với sự viết đa nguyên như thế, phê bình phải đi phân tách từng điều, chứ
không đi giải mã một điều gì cả; cần lần theo cấu trúc được bện như sợi len đan tất vào từng giao điểm
và từng tầng bậc, nhưng bên dưới nó không có cơ sở nào hết; cần du hành khắp không gian của sự viết
chứ không phải xuyên qua nó; sự viết không ngừng kiến tạo các nghĩa để rồi lại luôn luôn phân giải nó,
nhờ đó thực hiện một sự triệt tiêu nghĩa theo hệ thống”
(21)
. Đọc và phê bình như thế chẳng qua là mượn
các mã của văn bản để từ đó phân giải và mở rộng nghĩa cho nó. Văn bản văn học ở dạng này, sẽ không
còn là cái "để đọc" đơn thuần, mà là cái "để viết", như ông nói: "sự viết diễn ra chính là ở nơi sự đọc".
Sự đọc mà Barthes nói đến trong đây chủ yếu là sự đọc của nhà phê bình, một sự đọc sáng tạo, tự giác
và hẳn rất cô đơn. Loại người đọc thụ động, "tiêu thụ" tác phẩm một cách tình cờ, theo kiểu "không cần

phán quyết thời thế, việc thiết tạo thế giới hình tượng nghịch dị có thể xem là những hình thức cụ thể
của cái chết của chủ thể và cái chết của hiện thực theo quan điểm truyền thống. Trong Khải huyền
muộn, tính hàm hồ của không gian, thời gian, sự hỗn độn, đa tạp của các diễn ngôn, lối kết cấu theo mô
hình tiểu thuyết trong tiểu thuyết và sự mổ xẻ nhân vật nhà văn và quá trình sáng tạo của anh ta càng
làm gia tăng tính không hoàn kết, tính gợi mở và sự bất ổn định về nghĩa cho văn bản Đọc tiểu thuyết
của Tạ Duy Anh, người ta hay bắt gặp những lời lẽ mở đề lấp lửng, kiểu tổ chức trần thuật đa chủ thể,
đa điểm nhìn và việc thiết tạo những thế giới huyền thoại (Đi tìm nhân vật, Giã biệt bóng tối). Một lối
viết ở "độ không", "vô cảm", "vô sắc" xuất hiện ở nhiều đoạn trong Tướng về hưu của Nguyễn Huy
Thiệp, Thiên sứ, Kiêm ái của Phạm Thị Hoài, Thoạt kì thủy, Trí nhớ suy tàn của Nguyễn Bình Phương.
Thái độ công nhiên và ý thức tự giác trong việc sử dụng dày đặc các chuyện xưa tích cũ, các mẫu gốc,
các huyền thoại phương Tây và phương Đông trong sáng tác của Nguyễn Huy Thiệp, Phạm Thị Hoài,
Nguyễn Bình Phương, Tạ Duy Anh cũng là một bằng chứng cụ thể. Lại có thể tìm thấy sự dày đặc
các mảnh trích dẫn, dán ghép công nhiên trong Ma net, Ma nhòa của Đặng Thân, Blogger của Phong
Điệp Rồi tính chất phần mảnh của tâm trạng, các đoạn văn báo chí, sự chìm lấp của chủ thể trong
ngôn từ trong Chinatown, T. mất tích của Thuận; các trích dẫn và bản tin trên báo chí, các "bình luận"
("comment") dày đặc của các "mặt nạ" nhân vật và kiểu kết cấu mảnh đoạn trong Blogger của Phong
Điệp; việc hoán đổi, đánh tráo chủ thể trần thuật trong Nháp của Nguyễn Đình Tú, Song song của Vũ
Đình Giang
Thứ hai, sau "cái chết của tác giả", hoàn cảnh của lí luận, phê bình cũng có nhiều đổi khác. Một
tình thế nan giải hơn, nhưng cũng mở ra nhiều cánh cửa hơn để lựa chọn, dấn bước. Chắc chắn không ai
cả tin cho rằng lí luận, phê bình truyền thống sẽ chết sau những tuyên cáo kiểu như Barthes. Tuy nhiên,
có một thực tế là, trong hoàn cảnh mới của văn hóa và văn học, nhiều khái niệm lí luận văn học của
chúng ta, trên giảng đường, trong từ điển, trên các diễn đàn văn học…, nếu không thay đổi gốc rễ thì
cũng không còn có thể "đứng yên" được nữa. Người ta không thể yên tâm nói về “hiện thực”, “văn học
qui chiếu hiện thực” một cách giản đơn trong khi hiện thực ngày nay đã được bóp nặn, thế vì bởi bao
thứ vật giả và hình ảnh ngụy tạo. Trong tâm thức hậu hiện đại, dưới cái nhìn và cách đọc liên văn bản,
người ta cũng không thể nói “cá tính sáng tạo”, “phong cách cá nhân”, “tính độc sáng” của nhà văn dễ
dàng như trước. Nói khác đi, trong nghiên cứu, lí luận văn học, người ta không thể dùng những khái
niệm lí luận truyền thống mà không có những giải thích, đính chính, những tệp đính kèm cần thiết cho
nó. Việc bổ ô các vấn đề văn học bằng các nhát cắt dứt khoát kiểu chia lô và phép đối lập nhị nguyên

CHÚ THÍCH
(1)

(2)

(3)

(4) (5)
Roland Barthes, "Cái chết của tác giả" (Phan Luân dịch), Nghiên cứu Văn học, số 2 - 2008,
tr. 94.
(6)
Antoine Compagnon, Bản mệnh của lí thuyết (Lê Hồng Sâm, Đặng Anh Đào dịch), Nxb. ĐHSP Hà
Nội, 2007, tr. 66, 69, 81.
(7)
I. P. Ilin, Chủ nghĩa hậu hiện đại - Một số khái niệm và thuật ngữ (Đào Tuấn Ảnh dịch), trong sách:
Văn học hậu hiện đại thế giới - Những vấn đề lí thuyết (Đào Tuấn Ảnh, Lại Nguyên Ân, Nguyễn Thị
Hoài Thanh sưu tầm và biên soạn), Nxb. Hội nhà văn, Trung tâm ngôn ngữ văn hóa Đông Tây, 2003, tr.
15.
(8)

(9)

(10)
Roland Barthes, Bài trên, tr. 93, 97.
(11)
Dẫn theo Phương Lựu, "Bước đầu tìm hiểu thi pháp hậu hiện đại",

(12)
L.P. Rjanskaya, "Liên văn bản - Sự xuất hiện của khái niệm. Về lịch sử và lí thuyết của vấn đề"
(Ngân Xuyên dịch), Nghiên cứu Văn học, số 11 - 2007, tr. 196.

literature. In a more general sense, "the death of the subject", "death of the author", "crisis of
personality" or, by extension the "depersonalization" is a common definition on personal crisis
phenomenon in philosophy, aesthetics and literary criticism of structuralism, poststructuralism and
postmodernism. From the analysis of significance of the work The Death of the Author for study
western contemporary literature, the author of the article contact initially thoughts of R. Barthes to the
life of theory, criticism and creative practice in Vietnamese literary today.


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status