1
TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN VIỆC XÂY DỰNG
LIÊN MINH CÔNG - NÔNG - TRÍ THỨC Ở VIỆT NAM HIỆN NAY.
Liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội
ngũ trí thức là hình thức hợp tác đặc biệt giữa giai cấp công nhân với
giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức trong cuộc đấu tranh nhằm đánh
đổ chủ nghĩa tư bản, xóa bỏ mọi áp bức bóc và xây dựng thành công
chủ nghĩa xã hội. Liên minh giai cấp là nhằm xây dựng một cơ cấu xã
hội - giai cấp phù hợp với thời kỳ quá độ đi lên chủ nghĩa xã hội, đồng
thời tạo ra động lực cách mạng to lớn để đưa cách mạng xã hội chủ
nghĩa đến thắng lợi, tạo điều kiện để các giai cấp, tầng lớp xã hội ngày
càng xích lại gần nhau, từng bước khắc phục sự khác biệt, đi đến xóa
bỏ giai cấp, xây dựng xã hội không còn giai cấp.
Nước ta đi lên chủ nghĩa xã hội vốn là một nước thuộc địa nửa
phong kiến, trải qua ba mươi năm chiến tranh cách mạng, đã đánh bại
những đế quốc to giành độc lập và thống nhất hoàn toàn đất nước, hoàn
thành cách mạng dân tộc dân chủ nhưng nền kinh tế kếm phát triển, lực
lượng sản xuất còn hết sức lạc hậu. Đó là một nền sản xuất qui mô nhỏ,
lao động thủ công còn là phổ biến; nông nghiệp còn chiếm tỷ trọng lớn
trong cơ cấu kinh tế quốc dân; kinh tế hàng hóa còn sơ khai, kinh tế tư
bản tuy đã có nhưng chưa phát triển; cơ sở hạ tầng của nền kinh tế vốn
đã lạc hậu lại còn bị chiến tranh xâm lược phá hoại... Đi lên chủ nghĩa
xã hội vừa là mục tiêu lý tưởng của những người cộng sản và nhân dân
2
Việt Nam, vừa là khát vọng ngàn đời thiêng liêng của cả dân tộc Việt
Nam. Do vậy, phát triển kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận hành
pháp cơ bản cho việc xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân
với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức vững chắc, thực sự là nền tảng
của xã hội, là động lực to lớn cho công cuộc xây dựng và bảo vệ Tổ
quốc xã hội chủ nghĩa trong giai đoạn hiện nay.
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là sự phát triển quá
độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa. Nước ta quá
độ lên chủ nghĩa xã hội từ một nước vốn là thuộc, địa nửa phong kiến,
nền kinh tế nghèo nàn, lạc hậu, kếm phát triển, sản xuất nhỏ là phổ
biến; đất nước lai trải qua hàng mấy chục năm chiến tranh ác liệt tàn
phá, rồi thiên tai bão lụt liên miên. Vì vậy, xây dựng chủ nghĩa xã hội
bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa, tạo ra sự chuyển biến về chất trên tất
cả các lĩnh vực là một sự nghiệp khó khăn, phức tạp và lâu dài. Trong
suốt một thời gian dài chúng ta duy trì kinh tế tập trung, kế hoạch hóa,
bao cấp. Mô hình này đã thu được kết quả hết sức quan trọng, đặc biệt
là trong thời kỳ đất nước có chiến tranh. Sau khi thống nhất đất nước,
mô hình này bộc lộ nhiều hạn chế mà nguyên nhân sâu xa là bệnh giáo
điều, chủ quan, duy ý chí, đơn giản, nóng vội không tôn trọng khách
quan, không phù hợp với thực tiễn Việt Nam. Trên cơ sở đổi mới tư
duy, đổi mới nhận thức, Đại hội VI (12/1986) của Đảng đã đề ra đường
lối đổi mới toàn diện đất nước. Đại hội đã đưa ra những quan niệm mới
4
về con đường, phương pháp xây dựng chủ nghĩa xã hội, đặc biệt về cơ
cấu kinh tế, thừa nhận sự tồn tại khách quan của sản xuất hàng hóa và
thị trường, triệt để xóa bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp, chuyển
sang hoạch toán kinh doanh. Phát triển nền kinh tế nhiều thành phần
với nhiều hình thức kinh doanh, coi trọng việc kết lợi ích cá nhân, tập
thể và xã hội, chăm lo việc phát huy nhân tố con người. Qua quá trình
đương nhiên trong thời kỳ quá độ, như sự phân hóa về thu nhập và mức
sống dẫn đến một bộ phận giàu lên nhanh chóng, trở thành tầng lớp
thượng lưu của xã hội và số đông dân cư nghèo đói thì tất yếu sẽ phân
hóa xã hội thành hai cực đối lập. Sự phân hóa giàu nghèo làm tăng
nhanh sự chênh lệch quá mức về thu nhập và mức sống giữa các giai
cấp, các tầng lớp, các nhóm xã hội và ngay trong mỗi bản thân giai cấp,
tầng lớp xã hội. Sự phân hóa về thu nhập và mức sống sẽ dần dần kéo
theo sự phân hóa về văn hóa, lối sống trong các giai cấp và tầng lớp, từ
đó làm nảy sinh các mâu thuẫn trong xã hội. Chính vì vậy, sự phân hóa
giàu nghèo tăng nhanh sẽ dẫn tới làm lỏng lẻo liên minh giữa giai cấp
công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, ảnh hướng đến
việc củng cố khối đại đoàn kết toàn dân tộc.
Sự phân tầng, phân hóa không chỉ diễn ra trong các giai tầng
trong xã hội, mà ngay trong một giai cấp cũng diễn ra sự phân hóa sâu
sắc trong nền kinh tế thị trường. Trước hết, xét trong nội bộ giai cấp
công nhân, giai đoạn hiện nay có một bộ phận công nhân do có sở hữu
6
công nghiệp (mua cổ phần của xí nghiệp đã cổ phần hóa) và đặc biệt do
công nghệ thông tin phát triển, nền kinh tế tri thức bắt đầu hình thành
cho ra đời một số công nhân tri thức, có sở hữu trí tuệ làm ra nhiều của
cải. Họ có tư hữu, không những không còn là vô sản, mà còn được
hưởng một phần giá trị thặng dư do công nhân sản xuất. Cùng với một
bộ phận công nhân trên, còn có một bộ phận trong giai cấp công nhân
khác mở xưởng sản xuất, trở thành “ông chủ” có công nhân làm thuê.
Quan hệ mang tính đẳng cấp sẽ xuất hiện trong một bộ phận giai cấp
công nhân, làm cho sự phân hóa tính không đồng nhất trong đội ngũ
này ngày càng gia tăng. Ngoài ra, sự đa dạng, không thuần nhất của
đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; hạt nhân vững chắc
của khối liên minh công nhân – nông dân – trí thức, nền tảng của chế
độ xã hội chủ nghĩa và của khối đại đoàn kết toàn dân - đây là vấn đề
nan giải, khó khăn, phức tạp.
Sự phân hóa, phân tầng xét trong mối quan hệ giữa các giai tầng
trong khối liên minh; cụ thể là giữa giai cấp công nhân và giai cấp nông
dân. Thực tế cho chúng ta thấy, quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa,
hiện đại hóa hiện nay; tuy đã chú trong đến hiện đại hóa nông nghiệp
nông thôn. Song điều này chưa được thực thi trên thực tế, có chăng
cũng chỉ ở một số nơi, còn lại phần lớn là nông thôn, miền núi trình độ
sản xuất còn quá thấp kém. Quá trình sản xuất sức người là chủ yếu,
hiệu quả sản xuất không cao, sản phẩm làm ra không có nơi tiêu thụ, do
8
đường xá đi lại, do chưa có nhà máy chế biến. Do vậy, ngày công lao
động của người dân rất thấp. Trong khi đó, lĩnh vực công nghiệp vừa
được trang bị máy móc, lại thuận lợi cho giao thông do vậy, hiệu quả
lao động lớn hơn, sản phẩm làm ra kết tinh trí tuệ nhiều hơn, giá thành
cao hơn. Như vậy, sự trao đổi sản phẩm trong công nghiệp và nông
nghiệp bất lợi cho giai cấp nông dân, những bất đồng lợi ích đó không
thể là cơ sở cho mối liên minh vững chắc được.
Đảng ta xác định đường lối kinh tế là: Đẩy mạnh công nghiệp
hóa, hiện đại hóa, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, đưa nước ta trở
thành một nước công nghiệp, trong điều kiện khoa học và công nghệ
phát triển mạnh mẽ, sự xuất hiện và phát triển của kinh tế tri thức. Đội
ngũ trí thức được Đảng ta đặc biệt quan tâm. Khuyến khích tự do,
sáng tạo, phát minh cống cống hiến. Phát hiện, bồi dưỡng, sử dụng
đúng và đãi ngộ xứng đáng các tài năng Do vậy, đã phát huy được
Củng cố tăng cường liên minh giữa giai cấp công nhân với giai
cấp nông dân và đội ngũ trí thức ở nước ta trong giai đoạn hiện nay,
cần tập trung giải quyết tốt một số giải pháp cơ bản sau đây:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống chính trị thực sự dân chủ. Hệ thống
chính trị xã hội chủ nghĩa là thành quả cách mạng của toàn thể nhân
dân lao động mà nền tảng của nó là khối liên minh giữa giai cấp công
nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức. Đây là thể chế chính trị
10
và tổ chức chính trị của nhân dân lao động thực hiện việc cải tạo xã hội
cũ, xây dựng xã hội mới phục vụ lợi ích của chính ngay nhân dân lao
động. Đòng thời hệ thống chính trị là cơ sở chính trị bảo đảm cho quá
trình liên minh ngày càng đúng hướng và không ngừng phát triển. Xây
dựng hệ thống chính trị thực sự dân chủ vừa là mục tiêu, vừa là động
lực, là điều kiện thiết yếu để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Chỉ có phát
huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, mới bảo đảm quyền dân chủ về chính trị,
kinh tế, văn hóa, xã hội…của nhân dân thì mới tăng cường được đoàn
kết toàn xã hội. Phát huy dân chủ đúng đắn sẽ phát huy được trí tuệ,
năng lực sáng tạo và nhiệt tình cách mạng của các giai tầng trong xã
hội. Dân chủ còn là biện pháp đấu tranh chống quan liêu, tham nhũng,
tiêu cực xã hội, nguyên nhân của phân hóa giàu nghèo nhanh chóng
trong xã hội. Để xây dựng được hệ thống chính trị thực sự dân chủ, cần
làm tốt một số nội dung cơ bản sau:
-Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với toàn xã hội, đặc biệt
là sự lãnh đạo của các đảng bộ, chi bộ ở những vùng nông thôn, miền
núi.
- Không ngừng nâng cao hiệu lực quản lý của Nhà nước xã hội
chủ nghĩa, xây dựng Nhà nước thực sự của dân, do dân và vì dân.
xây dựng nông thôn mới.
12
Điều này vừa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa,
hiện đại hóa vừa là phương hướng quan trọng để xây dựng một cơ cấu
kinh tế hợp lý để phát triển công nghiệp, nhằm xóa bỏ sự khác biệt giữa
thành thị và nông thôn, giữa giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và
đội ngũ trí thức. Đây cũng là những điều kiện quan trọng để đội ngũ trí
thức quan hệ chặt chẽ với giai cấp nông dân, phục vụ giai cấp nông
dân, giải quyết tốt mối quan hệ giữa “bốn nhà” trong quá trình phát
triển kinh tế. Cần tập trung làm tốt một số nội dung sau:
- Từng bước xây dựng quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông
thôn phù hợp. Thực hiện có hiệu quả các hình thức kinh tế.
- Từng bước đưa nông dân vào con đường hợp tác hóa, thực hiện
nguyên tắc dân chủ, tự nguyện, cùng có lợi.
- Chú trọng xây dựng chi bộ, chính quyền ở nông thôn vững
mạnh, giải quyết tốt mối quan hệ giữa nhà nước và nông dân, bảo đảm
lợi ích chính đáng cho người nông dân trong suốt thời kỳ quá độ.
Thứ tư, thực hiện chính sách giai cấp, chính sách xã hội đúng
đắn, được thực thi trên thực tế.
Chính sách giai cấp thực chất là nhằm xây dựng cơ cấu xã hội –
giai cấp theo ý muốn chủ quan của Đảng cầm quyền. Xây dựng cơ cấu
xã hội – giai cấp bao gồm công nhân, nông dân và trí thức thì phải có
chính sách đúng, phù hợp động viên khuyến khích được các giai tầng
đó phát triển, đủ sức vươn lên làm chủ xã hội, thực sự là nền tảng vững
chắc của xã hội.
nắm bắt khoa học, công nghệ, nâng cao trình độ mọi mặt, làm chủ bản
thân, làm chủ xã hội, tạo ra các cơ hội như nhau đối với mọi thành viên.
Thứ sáu, tăng cường công tác đấu tranh chống quan liêu, tham
nhũng, đặc quyền, đặc lợi.
Tham nhũng là một trong những nguyên nhân chủ yếu dẫn đến
sự phân hóa giàu nghèo quá mức, song vấn đề quan trọng hơn là nó
làm giảm lòng tin của quần chúng vào cơ quan lãnh đạo, quản lý. Tham
nhũng là bệnh của những người có quyền, lợi dụng quyền lực và lòng
tham. Tham nhũng được hình thành trên ba yếu tố: lạm dụng quyền
lực, lòng tham vị kỷ và lợi dụng kẻ hở của cơ chế, chính sách. Nền kinh
tế thị trường sơ khai với nhiều kẻ hở cho bọn cơ hội luồn lách, vì động
cơ xấu lợi dụng kẻ hở của cơ chế, chính sách lạm dụng quyền lực để
mưu cầu riêng. Đồng thời với việc tôn trọng và khuyến khích làm giàu
chính đáng, cũng từ đó đồng tiền trở thành thần tượng, hưởng thụ vật
chất trở thành khát vọng của nhiều người. Nên không ít người lao vào
làm giàu (kể cả làm giàu không chính đáng), lợi dụng cá nhân để phát
triển thành chủ nghĩa cá nhân của một bộ phận cán bộ, đảng viên, từ đó
nảy sinh tiêu cực vì tiền tài, danh vọng, địa vị. Để làm tốt công tác đấu
tranh chống tham nhũng làm tốt các nội dung sau:
- Xây dựng hoàn chỉnh bộ luật chống tham nhũng, cơ chế giám
sát, đánh giá, lựa chọn cân nhắc cán bộ.
- Xây dựng, phát huy và mở rộng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa,
để quần chúng thực hiện quyền dân chủ trực tiếp của mình.
15
- Coi trọng đấu tranh tự phê bình và phê bình thẳng thắn.
Xây dựng khối liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp
nông dân và đọi ngũ trí thức là nhằm xây dựng một cơ cấu xã hội – giai