Tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La - Pdf 14


1
M U
1. Lý do chn ti
Trờn c s nhn thc ỳng n hn v y hn v ch ngha xó hi v
con ng i lờn ch ngha xó hi Vit Nam. i hi VI ca ng Cng Sn
Vit Nam ( thỏng 12 nm 1986 ) ó ra ng li i mi ton din t nc
nhm thc hin cú hiu qu hn cụng cuc xõy dng ch ngha xó hi. i hi
ó quyt nh chuyn t nn kinh t k hoch húa tp chung ( nn kinh t ó kỡm
hóm s phỏt trin ca xó hi trong mt thi gian khỏ di ) sang nn kinh t th
trng nh hng XHCN. Kinh t th trng nh hng xó hi ch ngha l
mụ hỡnh kinh t tng quỏt m nc ta ó la chn trong thi kỡ i mi. õy l
s vn dng sỏng to nhng kinh nghim trong nc v th gii v phỏt trin
kinh t th trng, l s kt tinh trớ tu ca ton ng trong quỏ trỡnh lónh o
nhõn dõn xõy dng t nc. Mc ớch ca kinh t th trng nh hng xó hi
ch ngha l phỏt trin lc lng sn xut, phỏt trin kinh t, xõy dng c s vt
cht k thut ca ch ngha xó hi, nõng cao i sng ca nhõn dõn. Phỏt trin
lc lng sn xut hin i gn lin vi xõy dng quan h sn xut mi, tiờn
tin.
Sau 18 nm i mi chỳng ta ó t c rt nhiu thnh tu, nn kinh t
nc ta thoỏt khi tỡnh trng trỡ tr, luụn gi tc tng trng mc cao.
Ngày nay với xu h-ớng toàn cầu hóa, kinh tế thị tr-ờng đã phát triển phổ
biến trên phạm vi toàn thế giới. Có thể nói rằng bất cứ một quốc gia nào khi
đứng tr-ớc vòng xoáy kinh tế cũng lựa chọn cho mình một mô hình phát triển
kinh tế thị tr-ờng ngang tầm với các n-ớc trong khu vực và thế giới. Cùng với xu
h-ớng hội nhập quốc tế, Việt Nam cũng không nằm ngoài xu thế đó. Đặc biệt tại
ại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng đã xác định mô hình kinh tế tổng
quát ở n-ớc ta là: Kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa thực chất là s phỏt trin
nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị tr-ờng có sự
quản lí của nhà n-ớc theo định h-ớng xã hội chủ nghĩa. Kinh tế thị tr-ờng đã tác

Tuy nhiờn bờn cnh nhng mt tớch cc ú, kinh t th trng cũn li
nhng tỏc ng tiờu cc, cú nh hng n s phỏt trin kinh t - xó hi ca
thnh ph Sn La nh: s phõn húa giu ngốo, tỏc ng n li sng, vn húa
o c.Chớnh vỡ vy tỏc gi la chn ti Tỏc ng ca kinh t th
trng n s phỏt trin kinh t - xó hi ca thnh ph Sn La nhm vn
dng kin thc ó hc vo thc tin ca thnh ph Sn La. T ú xut nhng
gii phỏp phỏt huy nhng mt tớch cc v hn ch nhng mt tiờu cc ca
kinh t th trng i vi s phỏt trin kinh t - xó hi thnh ph Sn La hin
nay.
2. Tỡnh hỡnh nghiờn cu ca ti
Kinh tế thị tr-ờng có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con ng-ời và tỡnh
hình phát triển kinh tế của đất n-ớc. Kinh tế thị tr-ờng cũng làm cơ sở tạo ra mối
quan hệ của nhiều n-ớc trên thế giới và làm cho con ng-ời trở nên năng động
hơn, nó gắn kết đ-ợc nhiều loại thị tr-ờng với nhau. Nó tác động đến mọi mặt

3
của đời sống xã hội trong đó có tác động đến việc xây dựng và phát triển kinh tế.
Kinh tế thị tr-ờng có vai trò rất to lớn đối với sự phát triển kinh tế ở Vit Nam,
đặc biệt trong thời kì quá độ lên xây dựng chủ nghĩa xã hội. Nó làm tiền đề đem
đến sự thành công nếu biết chăm lo xây dựng ngun lực đủ khả năng để điều
hành, nó sẽ trở thành một động lực quan trọng để phát triển kinh tế đất n-ớc.
Vì vậy có nhiều tác giả, tác phẩm nghiên cứu về kinh tế thị trờng nh:
Quá trình chuyển đổi sang kinh tế thị trờng của các nớc đang phát triển của
tác giả Hoa Hữu Lân.
Một số vấn đề kinh tế xã hội trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam của tác giả Vũ Hồng Tiến.
c trng ca nn kinh t th trng nh hng xó hi ch ngha Vit
Nam ca tỏc gi Mai Hu Thc.
Vai trũ ca nh nc trong nn kinh t th trng nh hng xó hi ch
ngha ca Giỏo S - Tin S Chu Vn Cp.

i tng nghiờn cu ca ti
Tỏc ng ca kinh t th trng n s phỏt trin kinh t - xó hi ca thnh
ph Sn La hin nay.
Phạm vi nghiên cứu ca ti
Kho sỏt thc t tỡnh hỡnh kinh t - xó hi ca thnh ph Sn La trong thi
gian t i hi i biu ng b thnh ph Sn La ln th XVII n nay.
5. Phng phỏp nghiờn cu ca ti
- Ph-ơng pháp nghiên cứu ti liu
+ Cụ thể là nghiên cứu lý thuyết về kinh tế thị tr-ờng theo định h-ớng xã
hội chủ nghĩa.
+ Sau khi đã thu thập đ-ợc tài liệu tham khảo tiến hành đọc và phân tích
các nội dung có liên quan đến đề tài và tổng hợp nội dung cụ thể.
- Ph-ơng pháp phõn tớch tng hp
+ Sắp xếp nội dung và tổng hợp.
+ Phân tích các nội dung đã sắp xếp, chỉnh sửa và đ-a vào hệ thống cấu
trúc đề tài.
- Ph-ơng pháp thng kờ
iu tra thc t tỏc ng ca kinh t th trng n tỡnh hỡnh phỏt trin
kinh t - xó hi ca thnh ph Sn La trong nhng nm gn õy. Thụng qua vic
thu thp nhng s liu cú liờn quan.
6. Đóng góp của đề tài
ti l ti liu tham kho cho sinh viờn nghnh kinh t mun nghiờn cu
sõu hn v kinh t th trng v tỏc ng ca nú i vi s phỏt trin kinh t - xó
hi thnh ph Sn La.

5
7. Kết cấu đề tài
Ngoài phần mở đầu và kết luận đề tài gồm 3 ch-ơng:
Ch-ơng 1 : Lý luận chung về kinh tế thị tr-ờng và mô hình kinh tế thị
tr-ờng định h-ớng xã hội chủ nghĩa ở Vit Nam.

tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau. Phân công lao động xã
hội đó là sự phân chia lao động xã hội thành các ngành, các lĩnh vực sản xuất
khác nhau, là sự chuyên môn hoá sản xuất, tức là mỗi người chỉ sản xuất ra loại
sản phẩm tạo ra cơ sở trao đổi hàng hoá, làm cho người sản xuất hàng hoá phụ
thuộc nhau. Sự tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất là sự
tách biệt về sở hữu.
Quyền sở hữu hay tồn tại nhiều hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất là sự
tách rời giữa quyền sử dụng sản phẩm. Đó chính là hình thức kinh tế trong đó
người sản xuất không phải là do nhu cầu trực tiếp của mình mà nhằm để trao
đổi, để bán trên thị trường. Vì vậy số lượng và sự đa dạng của sản phẩm được
thực hiện thông qua quan hệ trao đổi, mua bán trên thị trường. Kinh tế hàng hoá

7
ra đời từ rất sớm và đã từng tồn tại trong nhiều phương thức sản xuất. Hình thức
đầu tiên của nó là kinh tế hàng hoá giản đơn. Đó là kiểu sản xuất do những
người nông dân, thợ thủ công tiến hành dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản
xuất và lực lượng lao động của chính bản thân người sản xuất, họ trực tiếp trao
đổi sản phẩm với nhau trên thị trường.
Quan hệ hàng hoá tiền tệ phát triển mạnh trong thời kỳ tan rã của phương
thức sản xuất phong kiến quá độ sang chủ nghĩa tư bản. Đồng thời đó cũng chính
là điểm xuất phát của quá trình chuyển từ kinh tế hàng hoá giản đơn lên kinh tế
hàng hoá tư bản chủ nghĩa. Kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa là hình thức sản
xuất hàng hoá cao nhất, phổ biến nhất trong lịch sử, dựa trên sự tách rời tư liệu
sản xuất với sức lao động. Hay nói cách khác, đặc điểm của nền sản xuất hàng
hoá tư bản chủ nghĩa là dựa trên chế độ sở hữu tư nhân tư bản chủ nghĩa về tư liệu
sản xuất và bóc lột lao động làm thuê. Kinh tế hàng hoá tư bản chủ nghĩa đã trải
qua giai đoạn: kinh tế thị trường tự do (cổ điển) và kinh tế thị trường hiện đại.
Giai đoạn kinh tế thị trường tự do (cổ điển) là dựa trên cơ sở kỹ thuật cơ
điện gắn liền với nền văn minh công nghiệp; tồn tại hình thức tư hữu nhỏ và tư
hữu lớn về tư liệu sản xuất. Cơ cấu kinh tế nông - công - thương nghiệp tiến tới

nó có sự khác biệt với kinh tế tự nhiên ở trình độ phát triển của các lực lượng
sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội và cách tổ chức kinh tế xã hội.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó sản xuất và
toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường. Quan hệ kinh tế giữa
người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị trường, qua việc mua bán
sản phẩm lao động của nhau. Việc sản xuất ra những hàng hoá gì, cần có những
dịch vụ nào đều xuất phát từ nhu cầu của thị trường. Mọi sản phẩm đi vào sản
xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều thông qua thị trường. Quan hệ hàng hoá
tiền tệ phát triển, mở rộng và phổ biến trong mọi hoạt động sản xuất, kinh
doanh. Lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển, trình độ phân công lao
động xã hội ngày càng cao thì thị trường ngày càng mở rộng, Hệ thống thị
trường quốc gia trở nên thống nhất.
1.1.2. Điều kiện hình thành kinh tế thị trường
Để hình thành kinh tế thị trường cần phải có những điều kiện sau:
Thứ nhất: Phải tồn tại kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là giai đoạn phát
triển cao của kinh tế hàng hoá, nên những điều kiện để phát triển kinh tế hàng
hoá chính là điều kiện để phát triển kinh tế thị trường. Vì vậy đẩy mạnh quá
trình phân công lao động xã hội tức đưa người lao động vào từng ngành nghề cụ
thể và có sự tách biệt giữa những người lao động với nhau, làm cho người lao
động phụ thuộc nhau, đẩy mạnh quá trình đa dạng hoá các loại hình sở hữu khác
nhau về tư liệu sản xuất và sản phẩm được coi là điều kiện để phát triển kinh tế
thị trường.
Thứ hai: Phải dựa trên cơ sở tự do kinh tế, tự do sản xuất kinh doanh. Tức
là trong nền kinh tế có nhiều người sản xuất một loại sản phẩm và ngược lại mỗi
đơn vị sản xuất tiêu dùng cũng cần nhiều loại sản phẩm hàng hoá khác nhau.
Nên các chủ thể kinh tế được tự do lựa chọn cho mối quan hệ hàng hoá giữa các
chủ thể kinh tế với nhau, tự do trao đổi, mua bán là điều kiện hết sức cần thiết

9
cho quá trình giải phóng sức sản xuất và điều hoà lợi ích giữa người mua và

Trong lịch sử hình thành và phát triển của KTTT có rất nhiều mô hình phát
triển KTTT khác nhau, từ những mô hình phát triển tuân theo quy luật, cho đến
những mô hình không tuân theo quy luật, hay sự tự do điều tiết của KTTT. Ngày
nay KTTT đang phát triển mạnh mẽ và tác động đến tất cả các quốc gia trên thế
giới. Để điều tiết nền kinh tế tránh khỏi sự khủng hoảng buộc phải có sự quản lí

10
của Nhà nước bằng chính sách kinh tế vĩ mô, vì lẽ đó KTTT có sự quản lí của
Nhà nước ra đời. Do vậy có các mô hình sau:
Các mô hình phát triển KTTT trong lịch sử
Lịch sử hình thành và phát triển KTTT có thể khái quát thành hai kiểu mô
hình phát triển: phát triển "tuần tự" và phát triển " rút ngắn".
Mô hình KTTT phát triển tuần tự:
Mô hình KTTT phát triển tuần tự là mô hình được thực hiện ở các nước
phát triển sớm ở phương Tây, điển hình như ở Anh, Pháp, Đức, Hà Lan,
Mĩ…Mô hình này phát triển qua hai bước, gắn với hai giai đoạn cơ bản: KTTT
tự do và KTTT hiện đại.
Trong giai đoạn phát triển KTTT tự do: nền kinh tế thị trường dân tộc được
hình thành, diễn ra theo tinh thần tự do, tức là giai đoạn này Nhà nước không
can thiệp vào KTTT, yếu tố quyết định việc chuyển kinh tế hàng hoá giản đơn
lên KTTT tự do là phát triển công nghiệp. Đặc biệt giai đoạn này KTTT tự do
kéo dài ở các nước phương Tây từ thế kỷ XVII đến thế kỷ XX.
Trong giai đoạn phát triển KTTT hiện đại diễn ra từ những năm 50 của thế
kỉ XX đến nay, nó ra đời gắn với sự điều tiết kinh tế của Nhà nước vào KTTT,
thị trường thế giới đã hình thành, nền KTTT của mỗi nước đã trở thành một bộ
phận gắn bó hữu cơ với nền KTTT thế giới. Kinh tế dịch vụ phát triển mạnh có
xu hướng độc lập tương đối và ngày càng chiếm ưu thế so với ngành, nền kinh
tế sản xuất vật chất; xã hội hậu công nghiệp gắn với nền văn minh trí tuệ ( hay
văn minh tin học đang phát triển mạnh).
Mô hình KTTT phát triển rút ngắn:

truyền thống của dân tộc…để xây dựng những mô hình kinh tế phù hợp. Chẳng
hạn mô hình KTTT tự do hỗn hợp của Mỹ và nước Bắc Mỹ; mô hình KTTT ở
các nước Bắc Âu mà điển hình là Thụy Điển; mô hình KTTT xã hội của cộng
hoà liên bang Đức; mô hình KTTT cộng đồng nhiều tầng của Nhật; mô hình
KTTT xã hội chủ nghĩa mang màu sắc Trung Quốc…
Các mô hình KTTT nói trên của các nước đã thành công nhất định trong
việc tổ chức nền KTTT có sự quản lí của Nhà nước. Điều đó chứng tỏ: Về
nguyên tắc Nhà nước có thể can thiệp vào thị trường nhưng không có mô hình
KTTT nào chung có thể áp dụng cho tất cả các quốc gia trên toàn thế giới. Căn
cứ vào điều kiện tình hình cụ thể, các nước khác nhau tìm ra cách tiếp cận với
nền KTTT riêng để can thiệp vào thị trường một cách có hiệu quả, định hướng
nền kinh tế đến mục tiêu mong muốn trên cơ sở tôn trọng các quy luật khách
quan của nền kinh tế thị trường.
1.2. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam
1.2.1. Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở
Việt Nam
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa thực chất là nền kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lí của
Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

12
Do vậy cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển nền kinh tế thị trường
ở Việt Nam được thể hiện như sau:
Phân công lao động xã hội với tính chất là cơ sở chung của sản xuất hàng
hoá chẳng những không mất đi, mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng
và chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũng
càng ngày càng phát triển.
Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú, đa
dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường.

lượng sản xuất phát triển, nâng cao năng xuất lao động xã hội.
Kích thích tính năng động, sáng tạo của các chủ thể kinh tế, kích thích việc
nâng cao chất lượng, cải tiến mẫu mã, tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ, làm
cho sản xuất gắn với tiêu dùng. Kinh tế thị trường chịu sự chi phối của quy luật
giá trị, cạnh tranh, cung cầu, buộc mỗi người sản xuất tự chịu trách nhiệm về
hàng hoá mình làm ra. Mỗi người sản xuất đều chịu sức ép buộc phải quan tâm
tới sự tiêu thụ trên thị trường, sao cho sản phẩm của mình được xã hội thừa nhận
và cũng từ đó họ mới có thu nhập.
Thúc đẩy phân công lao động, chuyên môn hoá sản xuất vì thế mà phát huy
được tiềm năng, lợi thế của từng vùng, của đất nước để mở rộng quan hệ kinh tế
đối ngoại.
Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất, tạo điều kiện ra đời nền
sản xuất lớn xã hội hóa cao; đồng thời chọn lọc những nhà sản xuất kinh doanh
giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản lý có trình độ, đội ngũ lao động lành nghề
đáp ứng nhu cầu của đất nước.
Phát triển kinh tế thị trường làm cho lực lượng sản xuất phát triển, sản
phẩm xã hội ngày càng phong phú, đáp ứng nhu cầu đa dạng của con người.
Như vậy, phát triển kinh tế thị trường đối với nước ta là một tất yếu kinh tế,
một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu thành nền kinh tế
hiện đại, hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là con đường đúng
đắn để phát triển lực lượng sản xuất, khai thác có hiệu quả mọi tiềm năng của
đất nước để thực hiện nhiệm vụ công nghiệp hoá, hiện đại hoá.
Thực tiễn những năm đổi mới chỉ ra rằng, việc chuyển đổi sang mô hình
kinh tế thị trường của Đảng là hoàn toàn đúng đắn.
Nước ta đang thực hiện chuyển đổi nền kinh tế từ nền kinh tế kế hoạch hoá
tập trung sang kinh tế hàng hoá. Mô hình kinh tế của Việt Nam được xác định là
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lí của Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Hiện nay nền kinh tế thị trường của nước ta còn ở trình độ kém phát triển
bởi lẽ cơ sở vật chất kĩ thuật còn lạc hậu, thấp kém, nền kinh tế ít nhiều còn

Ba là: Nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị
trường, sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền
kinh tế.
Bốn là: Nền kinh tế thị trường hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô của
Nhà nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch, các chính sách kinh tế…
Mặt khác nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được dẫn dắt
chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có đặc trưng cơ bản sau:
Về mục tiêu phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.

15
Trong nhiều đặc tính có thể dùng làm tiêu chí để phân biệt nền kinh tế thị
trường của nước ta so với nền kinh tế thị trường khác phải nó đến mục đích
chính trị, mục tiêu kinh tế - xã hội mà Nhà nước và nhân dân ta lựa chọn làm
định hướng chi phối sự phát triển kinh tế đó là: " Độc lập dân tộc phải gắn liền
với chủ nghĩa xã hội, dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh".
(Theo Đại hội XI)
Mục tiêu hàng đầu của phát triển kinh tế thị trường ở nước ta là giải phóng
lực lượng sản xuất, động viên nguồn lực trong và ngoài nước để thực hiện công
nghiệp hoá, hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ nghĩa xã hội,
nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện từng bước đời sống nhân dân để đi
lên chủ nghĩa xã hội, không để cho nền kinh tế thị trường phát triển tự phát theo
con đường tư bản chủ nghĩa, vì mục đích của kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa
là phục vụ cho lợi ích các nhà tư bản. Ở nước ta thực hiện tư tưởng Hồ Chí
Minh và đường lối đổi mới của Đảng, lấy tăng trưởng kinh tế gắn liền với tiến
bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp gắn liền với xóa đói
giảm ngèo.
Trong nền kinh tế thị trường nước ta tồn tại ba loại hình sở hữu đó là: Sở
hữu toàn dân, sở hữu tập thể, sở hữu tư nhân. Từ đó đã hình thành nhiều thành
phần kinh tế, nhiều tổ chức sản xuất kinh doanh với các thành phần kinh tế là:

của quan hệ sở hữu về tư liệu sản xuất.
Cả hai nền kinh tế tư bản chủ nghĩa và kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa đều có nhiều hình thức phân phối nhưng khác nhau ở chỗ kinh tế thị
trường tư bản chủ nghĩa phân phối chủ yếu theo tư bản, phục vụ lợi ích tối đa
của các nhà tư bản. Tiền lương của công nhân dưới chủ nghĩa tư bản là giá cả
sức lao động, người lao động làm thuê bị bóc lột. Còn ở nước ta phù hợp với
trình độ phát triển của lực lượng sản xuất trong thời kì quá độ lên chủ nghĩa xã
hội, nhiều chế độ sở hữu cùng tồn tại: sở hữu toàn tập thể, sở hữu tư nhân và các
hình thức sở hữu do kết quả của sự xâm nhập giữa chúng. Mỗi chế độ sở hữu có
nguyên tắc phân phối tương ứng với nó vì thế trong thời kì quá độ tồn tại cơ cấu
đa dạng về hình thức phân phối thu nhập. Trong nền kinh tế thị trường ở nước ta
tồn tại các hình thức phân phối thu nhập sau: phân phối theo lao động, phân phối
theo tài sản đóng góp, phân phối theo giá trị sức lao động phân phối thông qua
các quỹ phúc lợi tập thể và xã hội.
Nước ta xây dựng và phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ
nghĩa chứ không phải là kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa. Chúng ta lấy phát
triển kinh tế là phương tiện để đạt được mục tiêu cơ bản xây dựng xã hội chủ
nghĩa thực hiện dân giàu, nước mạnh, xã hội dân chủ công bằng, văn minh, con
người được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột, có cuộc sống tự do, ấm no, hạnh
phúc, có điều kiện phát triển toàn diện. Vì vậy mỗi bước tăng trưởng kinh tế ở
nước ta phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng
xã hội. Việc phân phối thông qua các quỹ phúc lợi và tập thể có ý nghĩa quan
trọng để thực hiện mục tiêu đó. Nhưng trong điều kiện hiện nay muốn phát triển
kinh tế phải huy động được vốn, phát huy được mọi tiềm năng của tầng lớp dân
cư. Vì vậy thực hiện phân phối theo vốn, theo tài sản là nhằm thu hút mọi nguồn

17
lực của xã hội vào phục vụ sản xuất, kinh doanh, khuyến khích làm giàu chính
đáng. Bên cạnh đó, Nhà nước cần quan tâm giúp đỡ một bộ phận dân cư còn
nghèo, các gia đình thuộc diện chính sách, neo đơn…bằng các chính sách điều

quá trình phát triển. Công bằng xã hội được thể hiện cả ở khâu phân phối hợp lí
tư liệu sản xuất lẫn ở khâu phân phối kết quả sản xuất, ở việc tạo điều kiện cho
mọi người đều có cơ hội phát triển và phát huy tốt năng lực của mình, khuyến
khích làm giàu hợp pháp đi đôi với tích cực xoá đói giảm nghèo. Các vấn đề

18
chính sách xã hội đều được giải quyết theo tinh thần xã hội hoá, phát huy truyền
thống tốt đẹp của dân tộc.
Nhà nước quản lí nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo
nguyên tắc kết hợp kế hoạch với thị trường. Thị trường là một bộ phận cấu thành
của nền kinh tế, nó tồn tại khách quan, tự vận động theo những quy luật vốn có
của nó. Còn kế hoạch hoá là hình thức thực hiện của tính kế hoạch, nó là sản
phẩm chủ quan của chủ thể quản lí. Kế hoạch và cơ chế thị trường là hai phương
tiện khác nhau để phát triển điều tiết nền kinh tế. Kế hoạch là sự điều chỉnh có ý
thức của chủ thể quản lí đối với nền kinh tế, còn cơ chế thị trường là sự tự điều
tiết của bản thân nền kinh tế.
Sự kết hợp kế hoạch với thị trường được thực hiện ở cả tầm vi mô lẫn vĩ
mô. Ở tầm vi mô, thị trường là căn cứ xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh.
Thông qua sự biến động của quan hệ cung - cầu và giá cả thị trường các doanh
nghiệp lựa chọn phương án sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai. Cũng nhờ đó
mà các doanh nghiệp lựa chọn được cơ cấu sản xuất, cơ cấu đầu tư cho mình.
Thoát li yêu cầu của thị trường, các mục tiêu của kế hoạch sản xuất kinh doanh
của doanh nghiệp sẽ không thực hiện được. Ở tầm vĩ mô, mặc dù thị trường
không phải là căn cứ duy nhất có tính quyết định, song kế hoạch Nhà nước cũng
không thể thoát li khỏi tình trạng biến động của thị trường. Thoát li thị trường,
kế hoạch hoá vĩ mô trở thành duy ý chí. Kế hoạch hoá vĩ mô nhằm đảm bảo cân
đối lớn, tổng thể của nền kinh tế như tổng cung, tổng cầu, sản xuất - tiêu dùng,
hàng hoá - tiền tệ. Kế hoạch hoá vĩ mô có thể tác động đến cung, cầu, giá cả để
uốn nắn những lệch lạc của sự phát triển do sự tác động tự phát của thị trường
gây ra thông qua đó mà hướng hoạt động của thị trường theo hướng của kế hoạch.

tư nước ngoài. 20
CHƯƠNG 2
TÁC ĐỘNG CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN
KINH TẾ - XÃ HỘI CỦA THÀNH PHỐ SƠN LA HIỆN NAY
2.1. Đặc điểm chung về sự phát triển kinh tế - xã hội ở thành phố Sơn
La hiện nay
2.1.1. Thuận lợi
Thành phố Sơn La nằm ở tọa độ 21°15’ – 21°31’ Bắc và 103°45’ –
104°00’ Đông, cách Hà Nội khoảng 302km về phía Tây Bắc. Phía Tây và phía
Bắc giáp huyện Thuận Châu, phía Đông giáp huyện Mường La, phía nam giáp
huyện Mai Sơn. Quốc lộ 6 đi qua thành phố, nối thành phố với thành phố Điện
Biên Phủ và thành phố Hòa Bình.
Thành phố Sơn La rộng 324,93 km vuông. Dân số là 107.282 người ( năm
2008 ). Thành phố có 7 phường là Quyết Tâm, Quyết Thắng, Tô Hiệu, Chiềng
Lề, Chiềng Sinh, Chiềng An, Chiềng Cơi và 5 xã gồm Chiềng Cọ, Chiềng Đen,
Chiềng Ngần, Chiềng Xôm, Hua La.
Thành phố Sơn La có một di tích lịch sử đáng chú ý, đó là bia văn của
hoàng đế Lê Thái Tông tại cửa Động La. Tháng 5 năm 1440, trên đường trở về
sau khi dẫn quân chinh phạt vùng Tây Bắc thắng lợi, Lê Thái Tông đã nghỉ tại
Động La và sáng tác bài thơ “ Quế Lâm Ngự Chế ’’ gồm 140 chữ Hán. Di tích
này được phát hiện vào năm 1965; năm 1992 được công nhận là di tích văn hóa
lịch sử quốc gia. Cách hang khoảng 200 mét là đền Quế Lâm tự thờ vua Lê Thái
Tông mới được xây dựng vào năm 2001. Ngoài ra cũng phải kể đến di tích lịch
sử cách mạng nhà ngục Sơn La.
Thành phố Sơn La là trung tâm hành chính, kinh tế, văn hóa,giáo dục, y tế
của cả tỉnh, có hệ thống giao thông đường bộ khá thuận lợi tạo điều kiện cho
thành phố trong việc giao lưu thông thương hàng hóa, trao đổi thông tin kỹ

chủ nghĩa xã hội.
Kết quả sự đổi mới trong những năm qua đã tạo được tiền đề cơ bản cho sự
phát triển kinh tế - xã hội; cơ sở vật chất kĩ thuật được nâng lên rõ rệt; cơ cấu
kinh tế đã có sự chuyển dịch đáng kể.
Chính phủ sẽ tiếp tục có các cơ chế, chính sách ưu tiên cho việc đầu tư phát
triển kinh tế - xã hội vùng nông nghiệp, nông thôn; hỗ trợ các hộ ngèo, bản
nghèo, xã nghèo… tạo điều kiện thuận lợi cho công tác xóa đói, giảm nghèo, cải
thiện đời sống nhân dân.
Việt Nam gia nhập WTO đã tạo ra nhiều cơ hội cho nền kinh tế nói chung
và cho thành phố Sơn La nói riêng: mở rộng thị trường, tăng cường thu hút đầu
tư, tiếp cận thông tin, công nghệ, phương thức quản lý hiện đại, tiếp cận nguồn
nguyên liệu đầu vào rẻ hơn và mức độ cạnh tranh cao hơn, giao lưu mở rộng ra
các thị trường trong nước để tiêu thụ hàng hóa. Trong những năm gần đây hệ
thống pháp luật, thể chế kinh tế thị trường ngày càng được hoàn thiện. Nguồn
đầu tư từ các nước vào Việt Nam rất lớn, kết hợp với việc chủ động đổi mới, cải
cách thủ tục hành chính, tập trung đầu tư hạ tầng các khu, cụm công nghiệp,

22
điện, nước, phát triển nguồn nhân lực…, sẽ gia tăng nguồn thu mạnh mẽ đầu tư
của thành phố trong thời gian tới.
Hạ tầng trong và ngoài các khu dân cư và đô thị đã và đang được tập trung
đầu tư, tạo điều kiện thu hút trực tiếp các doanh nghiệp trong và ngoài nước đầu
tư vào phát triển kinh tế - xã hội của thành phố Sơn La.
Một số mô hình chuyển đổi cơ cấu kinh tế năng động, hiệu quả được nhân
rộng sẽ góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Nhiều cơ chế chính sách mới được ban hành và đang đi vào cuộc sống, tạo
môi trường và động lực phát triển cho các thành phần kinh tế, có chính sách ưu
tiên mở rộng thị trường, mở rộng khu vực sản xuất hàng hóa. Đặc biệt là triển
khai các luật quan trọng như: luật đầu tư, luật doanh nghiệp…và các chính sách
đặc thù của Trung ương đối với các tỉnh đặc biệt khó khăn đó là: ưu tiên đầu tư

nguồn lực tăng trưởng kinh tế còn hạn chế và chưa được khai thác có hiệu
quả, chất lượng nguồn nhân lực còn thấp.
Khí hậu thành phố chịu ảnh hưởng của khí hậu nhiệt đới gió mùa, mùa
hè nóng ẩm, mưa nhiều; mùa đông khô lạnh, ít mưa. Mùa mưa từ tháng 4
đến tháng 9. Lượng mưa tập trung nhiều nhất vào tháng 7,8,9. Do địa hình
nghiêng dốc, nên vào các tháng này thường có lũ lụt, đất bị rửa trôi mạnh,
bạc màu nhanh. Mùa khô từ tháng 10 đến tháng 3 năm sau cộng với gió Tây
khô nóng gây thiếu nước nghiêm trọng, ảnh hưởng lớn đến quá trình phát
triển kinh tế đặc biệt sản xuất nông nghiệp – lâm nghiệp gặp rất nhiều khó
khăn.
Một số lĩnh vực văn hóa, xã hội chưa bắt nhịp phát triển theo xu thế
chung của nền kinh tế nên còn nhiều yếu kém, đời sống vật chất của một bộ
phận dân cư còn gặp nhiều khó khăn, nhiều nét văn hóa mới được tiếp thu
chưa đúng mức làm nảy sinh nhiều tệ nạn xã hội phức tạp, suy thoái đạo
đức, lối sống của một bộ phận cán bộ và nhân dân trong thành phố, đặc biệt
là giới trẻ.
Tình hình tiêu thụ nông sản hàng hóa vẫn còn khó khăn, giá cả không ổn
định nên hạn chế khả năng đầu tư chuyển đổi cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo qui
hoạch định hướng chung của nhà nước. Chi phí sản xuất nông nghiệp còn cao,
dẫn đến hiệu quả sản xuất cũng như thu nhập của nông dân đạt thấp.
Các doanh nghiệp của thành phố nhìn chung chưa có chiến lược phát triển
bền vững. Thiết bị công nghệ của doanh nghiệp ngành công nghiệp quá lạc hậu,
chưa đáp ứng yêu cầu tiến trình hội nhập nền kinh tế khu vực và thế giới, cũng
như yêu cầu đòi hỏi của quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Vốn sản xuất
kinh doanh của doanh nghiệp nhà nước và doanh nghiệp ngoài quốc doanh còn
thấp; số lượng doanh nghiệp ngoài quốc doanh phát triển rất nhanh, nhưng thiếu
quy hoạch định hướng về ngành nghề, quy mô vốn, lao động, hiệu quả sản xuất
kinh doanh và sức cạnh tranh còn hạn chế.
Công tác quy hoạch, quản lý quy hoạch và quản lý xây dựng chưa đáp ứng
yêu cầu phát triển; đặc biệt là quản lý quy hoạch đô thị thực hiện chưa tốt, đầu

ngân hàng tiếp tục tăng trưởng, có đóng góp quan trọng thực hiện các giải pháp
điều hành kinh tế vĩ mô; nghành dịch vụ bảo hiểm, tư vấn đầu tư, tư vấn nhà đất,
dịch vụ khám chữa bệnh tiếp tục nâng cao chất lượng phục vụ. Hoạt động vận
tải tiếp tục ổn định và phát triển. Vận chuyển hành khách ước đạt 767,837 nghìn
lượt khách, tăng 25,44% so với năm 2011; khối lượng hàng hóa vận chuyển ước
đạt 261,1 nghìn tấn. Doanh thu vận tải và các hoạt động dịch vụ vận tải ước đạt
111,9 tỷ đồng, tăng 29% so với năm 2011.

25
Công nghiệp và xây dựng: Sản xuất công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp cơ
bản được duy trì. Giá trị sản xuất công nghiệp – tiểu thủ công nghiệp tính chung
trên toàn địa bàn theo giá so sánh 1994 ước đạt 1.129 tỷ đồng, bằng 86,5% kế
hoạch, tăng 6,7% so với năm 2011. Thành phố Sơn La dặc biệt quan tâm đến thu
hút đầu tư chế biến các sản phẩm nông sản, đã hoàn thành thu hút đầu tư và khởi
công dự án Nhà máy chế biến cà phê công suất 100 tấn quả tươi/ngày tại xã
Chiềng Cọ; hoàn thành kế hoạch phát triển CN – TTCN gắn với phát triển làng
nghề giai đoạn 2012 – 2015.
Nông, lâm nghiệp, thủy sản vẫn duy trì ổn định sản xuất và giữ tốc độ phát
triển. Giá trị sản xuất nghành nông, lâm, thủy sản năm 2012 theo giá so sánh
1994 ước đạt 124,3 tỷ đồng, bằng 115,7% kế hoạch, tăng 2,98% so với năm
2011.
Trồng trọt được quan tâm làm tốt từ khâu chuẩn bị đất, giống, phân bón
đến gieo trồng, chăm sóc và phòng trừ sâu bệnh. Diện tích cây trồng hàng năm
phát triển tốt, tổng diện tích gieo trồng cây hằng năm ước đạt 7664,9 ha, trong
đó diện tích cây lương thực có hạt ước đạt 3.128,9 ha ( tăng 16,9 ha so với năm
2011 ), tổng sản lượng cây lương thực có hạt ước đạt 17.738,7 tấn. Diện tích cây
cà phê phát triển ổn định, đã trồng mới được 296 ha cây cà phê, vượt 48% kế
hoạch.
Chăn nuôi phát triển cơ bản ổn định, các trang trại cà các hộ gia đình tiếp
tục tăng cường áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật trong chăn nuôi, duy trì quy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status