Tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội của xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu, tỉnh Sơn La - Pdf 14

MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1. Lý do chọn đề tài 1
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3. Mục đích nghiên cứu của đề tài. 3
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5. Phương pháp nghiên cứu. 4
6. Đóng góp của đề tài. 4
7. Kết cấu của đề tài 4
CHƯƠNG 1. LÍ LUẬN CHUNG VỀ KINH TẾ THỊ TRƯỜNG, VAI TRÒ
QUẢN LÝ CỦA NHÀ NƯỚC TRONG NỀN KINH TẾ THỊ TRƯỜNG 6
1.1. Khái quát chung về kinh tế thị trường. 6
1.1.1. Khái niệm về kinh tế thị trường. 6
1.1.2. Điều kiện hình thành kinh tế thị trường. 8
1.1.3. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 10
1.2. Vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa ở Việt Nam. 12
1.2.1. Cơ sở khách quan quy định vai trò quản lý của nhà nước trong nền kinh tế
thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam. 12
1.2.2. Những đặc trưng cơ bản bản của kinh tế thị ở nước ta. 14
1.2.3. Vai trò kinh tế của nhà nước trong nền kinh tế thị trường định hướng xã
hội chủ nghĩa. 18
1.3. Kết luận. 20
CHƯƠNG 2. BIỂU HIỆN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ - XÃ
HỘI XÃ PHIÊNG KHOÀI, HUYỆN YÊN CHÂU TRONG GIAI ĐOẠN
HIỆN NAY 21
2.1. Khái quát về đặc điểm, điều kiện tự nhiên xã Phiêng khoài, huyện Yên
Châu 21
2.1.1. Vị trí địa lý 21
2.1.2. Những đặc điểm về địa hình khí hậu 23

giai đoạn hiện nay 36
3.2.2. Giải pháp phát triển xã hội ở xã Phiêng Khoài huyên Yên Châu trong giai
đoạn hiện nay 38
3.2.3. Giải pháp trong phát triển quan hệ giao lưu kinh tế xã Phiêng Khoài,
huyện Yên Châu – Lào. 38
KẾT LUẬN 39 1
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài
Toàn cầu hóa kinh tế là một xu thế của lịch sử, là tất yếu khách quan bắt
nguồn từ sự phát triển mạnh mẽ của lực lượng sản xuất, của cách mạng khoa học
công nghệ, của kinh tế thị trường. Điều này cho thấy, không một quốc gia nào
phát triển mà không tham gia vào quá trình toàn cầu hóa kinh tế đó là một tất
yếu quá trình phát triển của lịch sử loài người. Việt Nam đã và đang tích cực
tham gia hội nhập với các nước trong khu vực và thế giới. Bằng đường lối đổi
mới toàn diện đất nước của Đảng được đề ra từ đại hội VI ( 12/1986 ) mà trước
hết là đổi mới sâu sắc và toàn diện trong lĩnh vực kinh tế và đã không những
được hoàn thiện và bổ xung trong các kỳ đại hội tiếp theo. Tại đại hội đại biểu
toàn quốc lần thứ IX (tháng 4 năm 2001) Đảng ta đã xác định mô hình nền kinh
tế tổng quát của nước ta là: Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa,
mà thực chất kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là thực hiện kinh tế
hàng hoá nhiều thành phần vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của
nhà nước, dưới sự lãnh đạo của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Đặc
biệt tại đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI (2011) Đảng ta tiếp tục khẳng định:
‘‘Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ và hiện đại là tiền đề quan trọng
thúc đẩy quá trình cơ cấu lại nền kinh tế, chuyển đổi mô hình tăng trưởng, ổn
định kinh tế vĩ mô’’ [9, 77]*. Trải qua hơn 25 năm đổi mới, nến kinh tế thị
trường đã dần được hình thành và đã tác động đến nhiều mặt của đời sống - xã

kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội xã Phiêng Khoài, huyện Yên
Châu.
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phát triển kinh tế thị trường có vai trò rất quan trọng. Đối với nước ta,
muốn chuyển từ nền kinh tế đang phát triển lên nền kinh tế hiện đại xã hội chủ
nghĩa thì không còn con đường nào khác là phải phát triển kinh tế thị trường.
Kinh tế thị trường khắc phục được những hạn chế và yếu kém của kinh tế tự
nhiên tự cấp, tự túc, đẩy mạnh phân công lao động xã hội, phát triển ngành
nghề, tạo việc làm cho người lao động, khuyến khích ứng dụng công nghệ - kỹ
thuật mới nhằm tăng năng suất lao động, tăng số lượng, chủng loại, chất lượng
hàng hóa, dịch vụ, thúc đẩy tích tụ tập trung sản xuất, mở rộng giao lưu kinh tế
giữa các địa phương, các vùng lãnh thổ, thúc đẩy việc phát huy tính năng động
sáng tạo của mỗi người lao động, mỗi đơn vị kinh tế, đồng thời tạo ra cơ chế
phân bổ và sử dụng các nguồn lực của xã hội hợp lý, tiết kiệm Vì vậy, phát
triển kinh tế thị trường được coi là chiếc đòn xe để xây dựng chủ nghĩa xã hội, là
phương tiện khách quan để xã hội hóa xã hội chủ nghĩa nền sản xuất. Kinh tế thị
trường có tác động mạnh mẽ đến cuộc sống con người và tình hình phát triển
kinh tế đất nước. Kinh tề thị trường cũng là cơ sơ tạo ra mối quan hệ của nhiều
nước trên thế giới và làm cho con người trở nên năng động hơn, gắn kết được
nhiều loại thị trường với nhau. Với ý nghĩa vô cùng to lớn về lý luận và thực tiễn
như vậy trong thực tế đã có không ít công trình nghiên cứu, các bài báo nói về
tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế như:

3
“ Một số vấn đề kinh tế xã hội trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở
Việt Nam” của tác giả Vũ Hồng Tiến. Tác giả đã tập chung làm rõ phát triển nền
kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trên cơ sở đa dạng hoá hình thức
sở hữu và các thành phần kinh tế, thực hiện thành công sự nghiệp cộng nghiệp
hoá, hiện đại hoá, giải quyết tốt mối quan hệ giữa tăng trưởng kinh tế với phát
triển dân số, môi trường, xoá đói giảm nghèo, đảm bảo công bằng và tiến bộ xã

* Phạm vi nghiên cứu: Đề tài chủ yếu nghiên cứu sự tác động của kinh tế
thị trường đến sự phát triển kinh tế xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu.
5. Phương pháp nghiên cứu.
Để thực hiện được nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài tác giả sử dụng phương
pháp cơ bản đó là: Phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử - xem xét
những tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế - xã hội, gắn với
điều kiện thực tế của xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu để giải quyết vấn đề
hiệu quả nhất.
Ngoài ra tác giả còn sử dụng một số phương pháp cụ thê:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp.
Cụ thể là nghiên cứu lý thuyết về kinh tế thị trường theo định nghĩa, phân
tích lý thuyết về khái niệm, vai trò quản lý của nhà nước đối với kinh tế thị
trường.
Sau khi đã thu thập được tương đối số tài liệu tham khảo, tiến hành đọc và
phân tích các nội dung cần thiết có liên quan đến đề tài và tổng hợp theo từng
nội dung cụ thể.
- Phương pháp hệ thống hoá lý thuyết.
+ Sắp xếp các nội dung đã tổng hợp.
+ Phân tích các nội dung đã sắp xếp, chỉnh sửa và đưa vào hệ thống theo
cấu trúc của đề tài.
- Phương pháp điều tra thực tế.
Điều tra thực tế tác động của kinh tế thị trường đến sự phát triển kinh tế của
xã Phiêng Khoài, huyện Yên Châu.
6. Đóng góp của đề tài.
Khoá luận là tài liệu tham khảo cho sinh viên muốn nghiên cứu sâu về kinh
tế thị trường và tác động của nó đến sự phát triển kinh tế ở một địa phương cụ
thể trong giai đoạn hiện nay. Bên cạnh đó đề tài còn là tài liệu tham khảo hữu
ích cho các cấp lãnh đạo của địa phương nghiên cứu và đề ra những giải pháp,
chiến lược phát triển phù hợp với điều kiện của địa phương.
7. Kết cấu của đề tài

tập quán cổ truyền, mang tính chất tự cấp, tự túc, trình độ phân công lao động xã
hội còn thấp kém và giản đơn, sản xuất có tính khép kín theo từng vùng, địa
phương và theo lãnh thổ. Nền kinh tế tự nhiên được duy trì và phát triển phổ
biến trong xã hội công xã nguyên thuỷ, chiếm hữu nô lệ, phong kiến.
Kinh tế hàng hoá là kiểu tổ chức kinh tế cao hơn được ra đời từ kinh tế tự
nhiên trên cơ sở của hai điều kiện: Sự phân công lao động xã hội và sự tách biệt
tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất với nhau. Phân công lao động xã
hội đó là sự chuyên môn hoá sản xuất, phân chia lao động xã hội vào các ngành,
các lĩnh vực sản xuất khác nhau, tức là mỗi người sản xuất chỉ sản xuất ra một
hoặc một số loại sản phẩm nhất định. Phân công lao động xã hội, làm cho người
sản xuất hàng hoá phụ thuộc nhau tạo ra cơ sở trao đổi hàng hoá cùng với đó
phân công lao động xã hội còn đánh dấu sự phát triển của lực lượng sản xuất. Sự
tách biệt tương đối về kinh tế giữa những người sản xuất thực chất đó là chế độ
tư hữu về tư liệu sản xuất hay nói cách khác là sự tách biệt về sở hữu.
Quyền sở hữu hay tồn tại nhiều hình thức sở hữu khác nhau về tư liệu sản
xuất là sự tách rời quyền sở hữu và quyền sử dụng sản phẩm. Đó là hình thức
kinh tế trong đó người sản xuất ra không phải là do nhu cầu trực tiếp của mình

7
mà nhằm phục vụ nhu cầu của người khác thông qua trao đổi, buôn bán trên thị
trường. Vì vậy số lượng và sự đa dạng của sản phẩm suy cho cùng là do người
mua quyết định, việc phân phối sản phẩm được thực hiện thông qua quan hệ trao
đổi, mua bán trên thị trường. Kinh tế hàng hoá ra đời từ rất sớm và đã từng tồn
tại trong nhiều phương thức sản xuất. Hình thức đầu tiên của nó là kinh tế hàng
hoá giản đơn. Đó là kiểu sản xuất do những người nông dân, thợ thủ công tiến
hành dựa trên cơ sở tư hữu nhỏ về tư liệu sản xuất và sức lao động của chính
bản thân của người sản xuất, họ trực tiếp trao đổi sản phẩm với nhau trên thị
trường.
Quan hệ hàng hoá - tiền tệ phát triển mạnh trong thời kỳ tan rã của
phương thức sản xuất phong kiến quá độ sang chủ nghĩa tư bản. Đồng thời đó

người lao động làm chủ xã hội về tư liệu sản xuất, thực hiện tổ chức và quản lý
sản xuất thông qua Nhà nước xã hội chủ nghĩa- Nhà nước dân chủ của dân, do
dân, vì dân, nhằm mục đích thoả mãn nhu cầu vật chất, tinh thần của mọi thành
viên trong xã hội. Đó là nền kinh tế thị trường không dựa trên cơ sở chế độ
người bóc lột người vì mục tiêu sản xuất kinh doanh nhằm thực hiện công bằng,
tiến bộ xã hội và văn minh. Như vậy sản xuất hàng hoá không đối lập với chủ
nghĩa xã hội, mà là thành tựu phát triển của văn minh nhân loại, tồn tại khách
quan, cần thiết cho công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hội và cả khi chủ nghĩa xã
hội được xây dựng.
Tóm lại: Kinh tế thị trường là giai đoạn phát triển cao của kinh tế hàng
hoá, nó có sự khác biệt với kinh tế tự nhiên, ở trình độ phát triển cao của lực
lượng sản xuất, trình độ phân công lao động xã hội và cách tổ chức kinh tế xã
hội.
Kinh tế thị trường là một kiểu tổ chức kinh tế - xã hội, trong đó sản xuất và
toàn bộ quá trình tái sản xuất gắn chặt với thị trường. Quan hệ kinh tế giữa
những người sản xuất và tiêu thụ sản phẩm biểu hiện qua thị trường, qua việc
mua bán sản phẩm lao động của nhau. Việc sản xuất ra những hàng hoá gì, cần
có những dịch vụ nào đều phải xuất phát từ nhu cầu thị trường. Mọi sản phẩm đi
vào sản xuất, phân phối, trao đổi, tiêu dùng đều phải thông qua thị trường. Quan
hệ hàng hoá tiền tệ phát triển, mở rộng và phổ biến trong mọi hoạt động sản
xuất, kinh doanh. Lực lượng sản xuất xã hội ngày càng phát triển, trình độ phân
công lao động xã hội ngày càng cao thì thị trường ngày càng mở rộng. Hệ thống
thị trường quốc gia trở nên thống nhất và mở rộng ra thị trường quốc tế.
1.1.2. Điều kiện hình thành kinh tế thị trường.
Để hình thành kinh tế thị trường cần phải có những điều kiện cơ bản sau:
Thứ nhất: Phải tồn tại kinh tế hàng hoá, kinh tế thị trường là giai đoạn
phát triển cao của kinh tế hàng hoá, nên những điều kiện để phát triển kinh tế
hàng hoá chính là điều kiện phát triển kinh tế thị trường. Vì vậy đẩy mạnh quá
trình phân công lao động xã hội tức phân chia những người lao động vào ngành
nghề cụ thể và có sự tách biệt giữa những người lao động với nhau, làm cho

nhất trong phạm vi cả nước. Hệ thống các thị trường sản phẩm, tư liệu sản xuất,
sức lao động, tiền tệ… Được xác lập và hoạt động đồng bộ. Giá trị của đồng tiền
ổn định khối lượng tiền tệ đủ nhu cầu cần thiết cho việc lưu thông hàng hoá, có
hệ thống dịch vụ tiền tệ (ngân hàng thương mại, quỹ tín dụng, thị trường ngoại
tệ, thị trường chứng khoán…) là vô cùng cần thiết để nền kinh tế vận động trôi
chảy. Đồng thời hệ thống lưu thông hàng hoá, phương tiện chuyên chở, kho
tàng, dịch vụ, tư vấn bán hàng, quảng cáo, đại lý, kiểm tra chất lượng… là
không thể thiếu được.

10
Tóm lại: Sự hình thành và phát triển của ba điều kiện này luôn gắn liền
với sự phát triển của nền sản xuất xã hội nói chung và trao đổi hàng hoá nói
riêng. Kinh tế thị trường chỉ có thể được xác lập và phát triển trên cơ sở mở rộng
làm sâu sắc không ngừng những điều kiện đó.
1.1.3. Mô hình kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt
Nam.
* Cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển kinh tế thị trường ở Việt
Nam.
Kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam thực chất là
nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường có sự
quản lý của nhà nước, theo định hướng xã hội chủ nghĩa.
Do vậy, cơ sở khách quan của sự tồn tại và phát triển nền kinh tế thị
trường ở Việt Nam được thể hiện như sau:
Phân công lao động xã hội với tính cách là cơ sở chung của sản xuất hàng
hoá chẳng những không mất đi, mà trái lại còn được phát triển cả về chiều rộng
và chiều sâu. Phân công lao động trong từng khu vực, từng địa phương cũng
càng ngày càng phát triển.
Sự phát triển của phân công lao động được thể hiện ở tính phong phú, đa
dạng và chất lượng ngày càng cao của sản phẩm đưa ra trao đổi trên thị trường.
Trong nền kinh tế nước ta, về tư liệu sản xuất tồn tại nhiều hình thức sở

trong cạnh tranh. Quá trình đó thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển, nâng cao
năng xuất lao động xã hội.
Trong nền kinh tế hàng hoá, người sản xuất phải căn cứ vào nhu cầu của
người tiêu dùng, của thị trường để quyết định sản xuất sản phẩm gì, với khối
lượng bao nhiêu, chất lượng như thế nào. Do đó kinh tế hàng hoá kích thích tính
năng động, sáng tạo của chủ thể kinh tế, kích thích việc nâng cao chất lượng, cải
tiến mẫu mã, cũng như tăng khối lượng hàng hoá và dịch vụ.
Phân công lao động xã hội là điều kiện ra đời và tồn tại của sản xuất hàng
hoá, đến lượt nó sẽ phát triển kinh tế hàng hoá sẽ thúc đẩy phân công lao động
xã hội và chuyên môn hoá sản xuất. Vì thế phát huy được khả năng của từng
thành phần kinh tế cũng như tiềm năng, lợi thế của từng vùng, lợi thế của đất
nước có tác dụng mở rộng quan hệ kinh tế với nước ngoài.
Sự phát triển kinh tế thị trường sẽ thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung
sản xuất, do đó tạo điều kiện ra đời của sản xuất lớn có xã hội hoá cao, đồng thời
lựa chọn được người sản xuất kinh doanh giỏi, hình thành đội ngũ cán bộ quản
lý có trình độ, lao động lành nghề đáp ứng nhu cầu phát triển của đất nước.
Như vậy phát triển kinh tế thị trường là một tất yếu kinh tế đối với nước
ta, một nhiệm vụ kinh tế cấp bách để chuyển nền kinh tế lạc hậu của nước ta
thành nền kinh tế hiện đại hội nhập vào sự phân công lao động quốc tế. Đó là
con đường đúng đắn để phát triển lực lượng sản xuất khai thác có hiệu quả tiềm

12
năng của đất nước vào sự phát triển công nghiệp hoá - hiện đại hoá đại hoá đất
nước.
Thực tiễn trong những năm đổi mới đã chứng minh rằng, việc chuyển
sang nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần là hoàn toàn đúng đắn. Nhờ phát
triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần chúng ta bước đầu khai thác được
tiềm năng trong nước và thu hút được vốn, kỹ thuật công nghệ của nước ngoài,
giải phóng được năng lực sản xuất, góp phần quyết định vào đảm bảo tăng
trưởng kinh tế với nhịp độ tương đối cao trong thời gian qua.

vẫn giữ được bản sắc chính trị - xã hội của dân tộc trong thời kỳ hội nhập toàn
cầu. Phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa là một trong
những vấn đề căn bản của triết lý phát triển ở Việt Nam hiện nay. Không phải
đến khi khủng hoảng tiền tệ xuất phát từ Mỹ năm 2008 gây ảnh hưởng lan tỏa ra
hầu khắp thế giới như hiện nay, cùng những giải pháp cơ bản mà các nước đang
sử dụng với hy vọng ngăn ngừa những kết cục bi thảm về mặt kinh tế - xã hội do
khủng hoảng đó gây ra, chúng ta mới thấy tính phi lý của cái gọi là “thị trường
tự do”, “bàn tay vô hình”. Từ rất sớm, chúng ta đã khẳng định, nền kinh tế mà
chúng ta đang xây dựng phải có sự quản lý của Nhà nước. Kiên trì tư tưởng đó,
tại Đại hội X, Đảng ta nhấn mạnh sự cần thiết phải “bảo đảm vai trò quản lý,
điều tiết nền kinh tế của Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa”
Vai trò của Nhà nước đối với kinh tế không chỉ xuất phát từ yêu cầu phổ
biến của quá trình phát triển kinh tế thị trường, mà còn xuất phát từ tính đặc thù
của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.
Kinh tế thị trường là một kiểu quan hệ giữa người với người trong sản xuất,
trao đổi và tiêu dùng, nên mang đậm dấu ấn của quan hệ xã hội, của thể chế
chính trị mà nền kinh tế đó tồn tại. Với mức độ đáng kể, sự phát triển kinh tế thị
trường ở Việt Nam hiện nay bị chi phối và nhằm phục vụ cho định hướng xã hội
chủ nghĩa. Đương nhiên, nhân tố sâu xa bảo đảm định hướng chính trị đối với
kinh tế là đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng Cộng sản cầm
quyền. Song để đường lối, quan điểm, tư tưởng chỉ đạo của Đảng biến thành
hiện thực vận động của nền kinh tế, chúng phải được thể chế hóa thành hệ thống
pháp luật, chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội và được triển khai
bằng Nhà nước, thông qua Nhà nước, dưới sự quản lý của Nhà nước do Đảng
lãnh đạo. Xét từ giác độ đó, Nhà nước có tác động trực tiếp nhất tới việc định
hướng sự vận động của kinh tế thị trường. Pháp luật, chương trình, kế hoạch
phát triển kinh tế - xã hội của Nhà nước chỉ đúng, khi chúng phản ánh chính xác
yêu cầu phát triển khách quan của thị trường, lấy quy luật thị trường làm cơ sở.
Xét ở mặt này, chúng mang tính khách quan. Nhà nước có cơ chế, chính sách để
bảo đảm sự ưu tiên đó, thể hiện ở cả ba lĩnh vực kinh tế cơ bản sau:

hội, văn kiện Đại hội Đảng lần thứ VI, VII, VIII và IX nói đến kinh tế thị trường
định hướng xã hội chủ nghĩa có nghĩa là nền kinh tế của chúng ta không phải là
nền kinh tế bao cấp, quản lý theo kiểu tập trung quan liêu nhưng đó cũng không
phải là nền kinh tế thị trường tự do kiểu tư bản chủ nghĩa và cũng chưa hoàn
toàn là kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa. Bởi vì hiện nay trong thời kỳ quá độ
lên chủ nghĩa xã hội nước ta còn có sự đan xen, đấu tranh giữa cái cũ và cái mới,
vừa có lại vừa chưa có đầy đủ các yếu tố của chủ nghĩa xã hội. Kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam là một kiểu tổ chức kinh tế vừa
dựa trên nguyên tắc, quy luật của kinh tế thị trường đó là: Các chủ thể kinh tế có
tính độc lập, có quyền tự chủ trong sản xuất kinh doanh; Giá cả do thị trường
quyết định hệ thống thị trường được phát triển đầy đủ và nó có tác dụng làm cơ
sở cho việc phân phối các nguồn lực kinh tế vào trong các ngành, các lĩnh vực
của nền kinh tế; Nền kinh tế vận động theo những quy luật vốn có của kinh tế thị

15
trường sự tác động của các quy luật đó hình thành cơ chế tự điều tiết của nền
kinh tế; Nền kinh tế thị trường hiện đại thì còn có sự điều tiết vĩ mô của Nhà
nước thông qua pháp luật kinh tế, kế hoạch, các chính sách vĩ mô…
Mặt khác nền kinh tế thị trường ở Việt Nam dựa trên cơ sở và được dẫn
dắt chi phối bởi nguyên tắc và bản chất của chủ nghĩa xã hội. Do đó kinh tế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam có đặc trưng cơ bản sau:
Mục tiêu hàng đầu của phát triển nền kinh tế thị trường ở nước ta là giải
phóng lực lượng sản xuất, động viên mọi nguồn lực trong và ngoài nước để thực
hiện công nghiệp hoá - hiện đại hoá, xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật của chủ
nghĩa xã hội, nâng cao hiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện từng bước đời sống
nhân dân để đi lên chủ nghĩa xã hội, không để cho nền kinh tế thị trường phát
triển tự phát theo con đường tư bản chủ nghĩa. Mục đích của thị trường tư bản
chủ nghĩa là phục vụ lợi ích các nhà tư bản. Ở nước ta thực hiện tư tưởng Hồ
Chí Minh và đường lối đổi mới của Đảng, lấy tăng trưởng kinh tế gắn liền với
tiến bộ và công bằng xã hội, khuyến khích làm giàu hợp pháp gắn liền với xoá

chỗ kinh tế thị trường tư bản chủ nghĩa phân phối chủ yếu theo tư bản, phục vụ
tối đa lợi ích của các nhà tư bản. Tiền lương của công nhân dưới chủ nghĩa tư
bản là giá cả của sức lao động, người lao động làm thuê bị bóc lột. Còn trong
nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta tồn tại các hình
thức phân phối thu nhập là: Phân phối theo lao động, phân phối theo tài sản
đóng góp, phân phối theo giá trị sức lao động, phân phối thông qua các quỹ phúc
lợi tập thể và xã hội. Trong đó phân phối theo lao động là chủ yếu, vì xây dựng
và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta lấy
phát triển kinh tế là phương tiện để đạt được mục tiêu cơ bản xây dựng xã hội
chủ nghĩa, thực hiên dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,
con người được giải phóng khỏi ách áp bức bóc lột, có cuộc sống ấm no, tự do,
hạnh phúc có điều kiện phát triển toàn diện. Nên mỗi bước tăng trưởng kinh tế ở
nước ta phải gắn liền với cải thiện đời sống nhân dân, với tiến bộ và công bằng
xã hội. Việc phân phối thông qua các quỹ phúc lợi tập thể có ý nghĩa quan trọng
để thực hiện mục tiêu đó.
Cơ chế vận hành nền kinh tế là cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa. Nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa cũng
vận động theo yêu cầu của những quy luật vốn có của kinh tế thị trường theo
quy luật giá trị, quy luật cung - cầu, quy luật cạnh tranh… giá cả do thị trường
quyết định. Thị trường có vai trò quyết định đối với việc phân phối các nguồn
lực kinh tế vào các ngành, các lĩnh vực then chốt của nền kinh tế.
Hiện nay hầu như tất cả các nền kinh tế của các nước trên thế giới đều có
sự quản lý của Nhà nước. Song nhà nước xã hội chủ nghĩa - Nhà nước của dân,
do dân, vì dân đặt dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản. Nên sự quản lý của Nhà
nước xã hội chủ nghĩa nhằm sửa chữa những thất bại của thị trường, thực hiện
các mục tiêu nhân đạo mà bản thân cơ chế thị trường không thể làm được. Vai
trò quản lý của Nhà nước xã hội chủ nghĩa là hết sức quan trọng, nó đảm bảo
cho nền kinh tế tăng trưởng ổn định, đạt hiệu quả cao, đặc biệt là đảm bảo công

17

quyết định, xong kế hoạch Nhà nước cũng không thể thoát ly khỏi tình trạng
biến động của thị trường. Thoát ly thị trường, kế hoạch hoá vĩ mô trở thành duy
ý chí. Kế hoạch hoá vĩ mô nhằm đảm bảo cân đối lớn, tổng thể của nền kinh tế
như tổng cung - tổng cầu, sản xuất - tiêu dùng, hàng hoá - tiền tệ. Kế hoạch hoá
vĩ mô có thể tác động đến cung, cầu, giá cả để uốn nắn những lệch lạc của sự
phát triển do tác động tự phát của thị trường gây ra thông qua đó mà hướng hoạt
động của thị trường theo hướng của kế hoạch.

18
Nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa cũng là nền kinh
tế mở, hội nhập.
Đặc điểm này phản ánh sự khác biệt giữa nền kinh tế thị trường định
hướng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta đang xây dựng với nền kinh tế đóng, khép
kín trước đổi mới đồng thời phản ánh xu hướng hội nhập của nền kinh tế nước ta
trong điều kiện toàn cầu hoá nền kinh tế.
Do sự tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ đang diễn ra
quá trình quốc tế hoá đời sống kinh tế, sự phát triển của mỗi quốc gia trong sự
phụ thuộc lẫn nhau. Vì vậy, mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thế
giới là tất yếu đối với nước ta. Chỉ có như vậy mới thu hút được vốn, kỹ thuật
công nghệ hiện đại, kinh nghiệm quản lý tiên tiến của các nước để khai thác
tiềm năng thế mạnh của nước ta, thực hiện phát huy nội lực, tranh thủ ngoại lực
để xây dựng và phát triển kinh tế thị trường hiện đại theo kiểu rút ngắn.
Xây dựng nền kinh tế độc lập tự chủ đi đôi với chủ động hội nhập quốc tế.
Việt Nam sẵn sàng là bạn, là đối tác tin cây của các nước trong cộng đồng quốc
tế, phấn đấu hoà bình độc lập và phát triển.
Như vậy, kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở nước ta được
xây trên cơ sở cơ cấu kinh tế mở, thực hiện mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại
theo hướng đa dạng hoá và đa phương hoá các hình thức đối ngoại, gắn thị
trường trong nước và thị trường khu vực vào thị trường thế giới, thực hiện
những thông lệ trong quan hệ kinh tế quốc tế, nhưng vẫn giữ được độc lập chủ

động ngoại ứng xuất hiện khi một quyết định sản xuất hoặc tiêu dùng của cá
nhân ảnh hưởng trực tiếp đến việc sản xuất và tiêu dùng của người khác mà
không thông qua giá cả thị trường (không phải trả phí cho những hành động đó).
Chẳng hạn, một xí nghiệp sản xuất đồ da thải chất độc ra ngoài một dòng sông
mà không phải chịu một chi phí nào,mặc dù đã gây ra những chất tổn thất cho sự
tồn tại của các sinh vật dưới sông và những hộ tiêu dùng nước sông…Các ngoaị
ứng dẫn đến sự chênh lệch về lợi ích không phản ánh đúng chi phí sản xuất của
cá nhân và xã hội… trong giá cả cạnh tranh cuả thị trường. Do đó Nhà nước
phải sử dụng những luật lệ để ngăn chặn những tác động tiêu cực từ bên ngoài
như ô nhiễm nước, không khí, khai thác cạn kiệt tài nguyên…để bảo vệ môi
trường và duy trì cạnh tranh lành mạnh.
Thứ ba: Nhà nước phải đảm nhiệm sản xuất những hàng hoá công cộng.
hàng hoá công cộng là loại hàng hoá mà ngay cả khi một người đã dùng thì
ngưoời khác vẫn có thể dùng được, nó không loại trừ bất cứ ai.
Những hàng hoá công cộng những lợi ích giới hạn thường thấp nên tư nhân
không hăng hái đầu tư, mặt khác có nhiều hàng hoá công cộng cộng có ý nghĩa
quan trọng cho quốc gia như: Quốc phòng an ninh, sân bay, hải cảng…
Thứ tư: Nhà nước đảm bảo cơ cấu hạ tầng vật chất và cơ cấu hạ tầng xã hội
để phục vụ sản xuất, đời sống đồng thời chi phối việc phân phối tài nguyên để
đảm bảo cho nền kinh tế có thể phát triển bền vững.
* Đảm bảo công bằng xã hội

20
Mục đích của chức năng này là vừa đảm bảo ổn định bình đẳng xã hội, vừa
không làm triệt tiêu tính tích cực của sản xuất, kinh doanh của các thành viên
trong xã hội.
Nhà nước một mặt phải tạo ra những cơ sở về tổ chức để mọi người có cơ
hội ngang nhau và được hưởng tương xứng với kết quả lao động và phần đóng
góp của mình, mặt khác phải khắc phục phân hoá giầu nghèo, bất bình đẳng nảy
sinh từ nền kinh tế thị trường.

BIỂU HIỆN CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG VÀ TÁC ĐỘNG
CỦA KINH TẾ THỊ TRƯỜNG TỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ
- XÃ HỘI XÃ PHIÊNG KHOÀI, HUYỆN YÊN CHÂU TRONG
GIAI ĐOẠN HIỆN NAY

2.1. Khái quát về đặc điểm, điều kiện tự nhiên xã Phiêng Khoài, huyện
Yên Châu
2.1.1. Vị trí địa lý
* Đặc điểm chung của Huyện:
Huyện Yên Châu nằm về phía đông nam của tỉnh Sơn La. Trung tâm
huyện lỵ cách thị xã Sơn La 64 km về hướng đông, cách Thủ đô Hà Nội 240 km
theo hướng Tây Bắc, có toạ độ địa lý như sau:
- 1040 10’ - 1040 40’ kinh độ đông.
- 210 07’ - 210 14’ vĩ độ bắc.
- Phía đông giáp huyện Mộc Châu.
- Phía tây giáp huyện Mai Sơn.
- Phía bắc giáp huyện Bắc Yên.
- Phía nam giáp nước CHDCND Lào với 47 km đường Biên giới.
Huyện Yên Châu nằm dọc trục quốc lộ, Tổng diện tích tự nhiên 857,75
km2. có 47 km đường biên giới với nước CHDCND Lào. Huyện bao gồm có 14
xã và một thị trấn, trong đó có 5 xã biên giới.
Huyện Yên Châu có một vị trí quan trọng nằm trong vùng động lực kinh tế
của tỉnh, nằm đệm giữa 2 khu công nghiệp trọng điểm của tỉnh Sơn La là:
Huyện Mai Sơn và Mộc Châu, có nhiều thuận lợi cho phát triển sản xuất nông
sản phẩm hàng hoá nguyên liệu phục vụ công nghiệp chế biến của tỉnh. Đồng
bào các dân tộc Yên Châu có truyền thống cách mạng trong kháng chiến chống
Pháp và chống Mỹ; có truyền thống cần cù, sáng tạo, đoàn kết thống nhất cao
trong xây dựng và phát triển quê hương. Bản sắc văn hoá đồng bào các dân tộc
phong phú và đa dạng, đang được giữ vững và phát triển.
Huyện Yên Châu nhìn có địa hình khá phức tạp, bị chia cắt bởi các dãy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status