Hãy phân tích những vấn đề lý luận về cơ sở hạ tầng công nghệ? Liên hệ với tình hình thực tiễn nước ta hiện nay để thấy rõ thực trạng về cơ sở hạ tầng của đất nước và có các giải pháp hoàn thiện nó nhằm thực hiện thành công chiến lược công nghiệp hóa, hiệ - Pdf 34

Hãy phân tích những vấn đề lý luận về cơ sở hạ
tầng công nghệ? Liên hệ với tình hình thực tiễn
nước ta hiện nay để thấy rõ thực trạng về cơ sở
hạ tầng của đất nước và có các giải pháp hoàn
thiện nó nhằm thực hiện thành công chiến lược
công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh tế mà
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI đặt ra

LỜI MỞ ĐẦU
Cuộc cách mạng khoa học và công nghệ (KH&CN) trên thế giới tiếp tục phát triển có khả năng tạo
ra những thành tựu mang tính đột phá ảnh hưởng to lớn tới mọi mặt của đời sống xã hội. Nhờ
những thành tựu của KH&CN, đặc biệt là công nghệ thông tin truyền thông, công nghệ sinh học,
công nghệ vật liệu mới,..xã hội loài người đang trong quá trình chuyển từ nền văn minh công
nghiệp sang thời đại thông tin, từ nền kinh tế dựa vào các nguồn lực tự nhiên sang nền kinh tế
dựa vào tri thức, mở ra cơ hội mới cho các nước đang phát triển có thể rút ngắn quá trình công
nghiệp hoá (CNH), hiện đại hoá (HDH). KH&CN đang trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp,
hàng đầu. Sức mạnh của mỗi quốc gia tuỳ thuộc phần lớn vào năng lực KH&CN. Lợi thế về nguồn
tài nguyên thiên nhiên, giá lao động rẻ ngày càng trở nên ít quan trọng. Để tồn tại và phát triển
trong môi trường cạnh tranh ngày càng quyết liệt, những yêu cầu về tăng năng suất lao động,
thường xuyên đổi mới và nâng cao chất lượng sản phẩm, đổi mới công nghệ, đổi mới phương thức
tổ chức quản lý, đang đặt ra ngày càng gay gắt hơn. Mặc dù nước ta còn nghèo, nhưng trong thời
gian qua, với sự quan tâm của Đảng và Nhà nước, đặc biệt là sự nỗ lực, cố gắng của đội ngũ cán bộ
KH&CN trong cả nước, cơ sở hạ tầng KH&CN đã được tăng cường, KH&CN đã có những đóng góp
đáng kể vào sự phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Tuy nhiên, trình độ
KH&CN của nước ta hiện nay nhìn chung còn thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực,
năng lực sáng tạo công nghệ mới còn hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH
đất nước. Đối với các nước đang phát triển như nước ta nếu không chủ động chuẩn bị tốt về cơ sở


hạ tầng công nghệ thì nguy cơ tụt hậu ngày càng xa và thua thiệt trong quan hệ trao đổi quốc tế là
điều khó tránh khỏi.

lũy và khai thác sử dụng hiệu quả tri thức KH&CN hiện có đồng thời có các biện pháp củng cố và
tăng cường tri thức đó cho tương lai.
b/Các cơ quan nghiên cứu triển khai (NC&TK):
-Bao gồm các viện nghiên cứu, trung tâm nghiên cứu, trung tâm tư liệu thông tin và các trường
đại học
-Được coi là những nhà máy đặc biệt sản xuất ra sản phẩm đặc biệt là các công nghệ mới. Các
ngành, địa phương hay trung ương đều có các cơ quan này.
-Vai trò: + tạo ra công nghệ mới là động lực thúc đẩy nền kinh tế phát triển
+ giúp giảm khoảng cách về trình độ công nghệ của quốc gia đó với mặt bằng trình độ
công nghệ thế giới.
+ tăng cường tích lũy kinh nghiệm nghiên cứu và kiến thức kỹ năng về KH&CN giúp
nhận thức chính xác những công nghệ thích hợp khi chuyển giao.
c/Nhân lực KH&CN:
-Về nghĩa rộng nhân lực KH&CN gồm: các nhà khoa học, kỹ sư, công nhân kỹ thuật tay nghề cao
-Để phát triển nền kinh tế, KH&CN cần một số lượng lớn các nhân lực KH&CN, vai trò của nhân
lực KH&CN là rất cần thiết và quan trọng.
d/Chính sách KH&CN:
-Khái niệm: là hệ thống các mục tiêu và biện pháp nhằm phát triển tiềm lực KH&CN quốc gia, nó
bao gồm các văn bản luật lệ quy định thể chế từ định hướng chiến lược đến các khía cạnh của mọi
lĩnh vực kinh tế- xã hội ở tầm vĩ mô cũng như vi mô.
-Chính sách KH&CN có liên quan khăng khít tới mọi chính sách của nền kinh tế quốc gia, nó là
phương thức để phân tích kết quả thúc đẩy và kiểm tra hiệu quả các chương trình, chính sách ở
mọi lĩnh vực


-Chính sách KH&CN được xây dựng ở 3 cấp: cấp chiến lược (phạm vi quốc gia), cấp kế hoạch
(phạm vi ngành), cấp thực hiện (phạm vi cơ sở).
e/Nền văn hóa công nghệ quốc gia:
-Khái niệm: là thái độ cộng đồng nhìn nhận vấn đề KH&CN một cách khoa học
-Một đất nước có nền công nghệ quốc gia cao có lợi ích: giúp mọi người tiếp xúc được những

công nghệ thông tin, công nghệ sinh hoc, công nghệ vật liệu mới, tự động hóa, công nghệ cơ khíchế tạo máy, đã góp phần năng cao nặng lực nội sinh trong một số lĩnh vực công nghệ tiên tiến,
nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của nhiều ngành kinh tế. Theo TS. Mai Hà – Vụ
trưởng Vụ Hợp tác Quốc tế, Nguyên Viện trưởng Viện Chiến lược và Chính sách Khoa học và Công
nghệ (KH&CN) – Bộ KH&CN, một số công nghệ như công nghệ thông tin – truyền thông (CNTT
– TT), công nghệ sinh học (CNSH) đang ngày càng được ứng dụng rộng rãi trong các ngành kinh
tế – xã hội của đất nước:
Trong lĩnh vực CNTT – TT, có thể kể đến việc hoàn toàn làm chủ công nghệ, thiết kế chế tạo
thành công và đưa vào ứng dụng hệ thống SPM. Hệ thiết bị này bước đầu đã đưa vào ứng dụng có
kết quả cho hai lĩnh vực KH&CN rất hiện đại là công nghệ nano (chụp topograhy cho các vật liệu
đến cỡ nanomet) và sinh học phân tử (chụp ảnh virus để nghiên cứu). Đặc biệt sự kiện phóng
thành công vệ tinh VINASAT-1 (ngày 19/4/2008) lên quỹ đạo và khai thác, kinh doanh hiệu đã
giúp hoàn thiện và hiện đại hoá mạng viễn thông quốc gia, đưa thông tin liên lạc đến mọi miền tổ
quốc, hiện thực hoá giấc mơ làm chủ vệ tinh viễn thông riêng của Việt Nam.
Trong lĩnh vực CNSH, nhiều thành tựu nghiên cứu gen, tế bào – mô phôi, enzim – protein, vi
sinh đã được sử dụng để phát triển nông nghiệp sinh thái bền vững như: phục vụ tái sinh rừng
(nhân giống quy mô lớn cây thân gỗ bằng nuôi cấy mô), sản xuất thuốc trừ sâu vi sinh, hỗ trợ
canh tác trên đất không thuận lợi (chọn giống kháng hạn, úng, lạnh, phèn, mặn), nhân nhanh các
giống cỏ có nguy cơ tuyệt diệt,… Các nhà CNSH cũng đã thành công trong việc sử dụng công nghệ
và nguyên liệu trong nước để sản xuất ra một số loại vắc-xin, chế phẩm sinh học phục vụ chẩn
đoán bệnh, đạt tiêu chuẩn quốc tế. Chúng ta đã chủ động 9/10 loại vắc-xin cho tiêm chủng mở
rộng. Thêm nữa, chúng ta cũng đã sản xuất thành công thuốc Artemisinin chống bệnh sốt rét và
hàng năm thu được hàng triệu USD nhờ xuất khẩu; nghiên cứu dây chuyền công nghệ chiết xuất
từ hoa Hồi tạo ra các chất có tính năng tương tự để sản xuất thuốc Taminflu chữa bệnh cúm gia
cầm H5N1;…
Thiết bị cơ khí công nghệ cao: Chúng ta cũng đã nghiên cứu, sản xuất thành công chip vi xử lý
RISC 8, 16, 32 bit với công nghệ 0.25um, ứng dụng chip vi xử lý RISC VN8-01 trong các thiết bị
điện tử dân dụng; làm chủ công nghệ chế tạo các loại thiết bị cơ khí siêu trường, siêu trọng có độ


chính xác cao như hệ thống xi lanh thủy lực trọng tải lớn đến 400 tấn dùng trong các hệ thống

nghèo, thu hẹp khoảng cách giàu nghèo, ổn định chính trị, xã hội để nền kinh tế Việt Nam phát


triển bền vững. Đại hội XI của Đảng tiếp tục khẳng định: Phát triển KH&CN cùng với phát triển
giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực cho CNH, HDH đất nước
Nhờ có sự quan tâm đầu tư của Đảng và Nhà nước, trong nhiều thập kỷ qua, chúng ta đã đào tạo
được trên 1,8 triệu cán bộ có trình độ đại học và cao đẳng trở lên với trên 30000 người có trình độ
trên đại học (trên 14000 tiến sĩ và 16000 thạc sĩ) và khoảng hơn 2 triệu công nhân kỹ thuật;
trong đó, có khoảng 34000 người đang làm việc trực tiếp trong lĩnh vực KH&CN thuộc khu vực
nhà nước. Đây là nguồn nhân lực quan trọng cho hoạt động KH&CN của đất nước. Thực tế cho
thấy, đội ngũ này có khả năng tiếp thu tương đối nhanh và làm chủ được tri thức, công nghệ hiện
đại trong một số ngành và lĩnh vực.
Hiện nay, việc đào tạo nhân lực của nước ta đang trong giai đoạn phát triển mạnh. Số lượng các
trường học tại các cấp học tăng nhanh, đặc biệt là các trường trung cấp, cao đẳng, đại học. Đến
cuối năm 2010, nước ta có 414 trường đại học và cao đẳng (không tính các trường thuộc khối quốc
phòng, an ninh), trong đó có 188 trường đại học (50 trường ngoài công lập), hàng ngàn trường
trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề. Có 77.542 giảng viên cơ hữu trong các trường đại học,
trong đó 12,7% là GS, PGS, TSKH, 38,9% thạc sĩ. Nội dung, chất lượng đào tạo cũng có nhiều đổi
mới, tiến bộ so với trước. Đây là một yếu tố quan trọng để nâng cao nguồn nhân lực. Thời gian
qua, việc đào tạo nhân lực công nghệ cao vẫn theo kênh gửi đi đào tạo ở nước ngoài và đào tạo tại
các cơ sở giáo dục trong nước. Chương trình đào tạo bằng ngân sách Nhà nước (gọi tắt là Chương
trình 322) đã đào tạo được 1.740 cán bộ từ đại học trở lên ở nhiều nước có nền KH&CN tiên tiến.
Thông qua hoạt động của Quỹ Giáo dục Việt Nam – Hoa Kỳ (VEF), Việt Nam đã gửi đào tạo được
hơn 100 tiến sĩ, thạc sĩ, phần lớn ngành đào tạo liên quan đến CNTT-TT, CNSH, tự động hóa và
cơ điện tử, công nghệ nanô.
2.1.4. Các chính sách KH&CN từng bước tạo hiệu quả, cơ chế quản lý được đổi mới
Trong khoảng 10 năm đầu thế kỉ 21, nhà nước đã có rất nhiều chính sách về KH&CN. Khởi đầu là
luật KH&CN được quốc hội thông qua năm 2000 có hiệu lực năm 2001. Trong vòng 10 năm này
đã có 8 đạo luật về KH&CN ra đời: khoa học và công nghệ, sở hữu trí tuệ, tiêu chuẩn và quy chuẩn
kĩ thuật, chuyển giao công nghệ, chất lượng sản phẩm hàng hóa, năng lượng nguyên tử, công

2.1.5. Trình độ nhận thức và ứng dụng khoa học và công nghệ của nhân dân ngày càng được
nâng cao
Nhờ có sự quan tâm của tổ chức Đảng, chính quyền các cấp, hoạt động tích cực của các tổ chức
KH&CN và công tác phổ biến, tuyên truyền rộng rãi về tác động của KH&CN đến sản xuất và đời
sống, nhận thức và khả năng tiếp thu, ứng dụng tri thức KH&CN của người dân trong thời gian
qua đã tăng lên rõ rệt. Hoạt động KH&CN ngày càng được xã hội hoá trên phạm vi cả nước. Mật
độ điện thoại đạt gần 50% (vượt chỉ tiêu 35% do Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ X đề ra), 100% số
xã có điện thoại, số người sử dụng Internet đạt trên 20%, bán kính phục vụ trung bình của một
điểm bưu chính giảm xuống dưới 2,3 km. Hầu hết các cơ quan nhà nước và trên 50% doanh


nghiệp đã ứng dụng CNTT. Tỷ lệ cán bộ công chức biết sử dụng thành thạo CNTT và khai thác
Internet ở các cơ quan TW là 70%.
KH&CN phát triển với tốc độ chóng mặt trên thế giới, tín hiệu đáng mừng là ở Việt Nam, người
dân cập nhật công nghệ khá nhanh chóng, thức thời nhờ sự phát triển Internet và sự quan tâm
đối với công nghệ cũng ngày một tăng. Những công nghệ mới nhất, hiện đại nhất hiện nay, người
dân có thể biết và còn có khả năng mua, sử dụng thành thạo, phục vụ cho lợi ích cá nhân hoặc tập
thể.
Chợ công nghệ và thiết bị Techmart tổ chức mỗi năm một lần góp phần thúc đẩy thị thường
KH&CN ở Việt Nam. Techmart là cầu nối thường xuyên cho các doanh nghiệp và các nhà khoa
học trao đổi, giao lưu, tìm hiểu nhu cầu thực tế và tìm kiếm cơ hội hợp tác kinh doanh; hội chợ
còn tôn vinh những thành quả KH&CN có khả năng ứng dụng thực tế, gắn kết và thúc đẩy chuyển
giao công nghệ vào sản xuất, nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; Techmart giúp tìm
ra con đường ngắn nhất hiệu quả nhất để đưa khoa học vào cuộc sống và đến gần hơn với người
dân. Lợi ích của tiến bộ KH&CN dần được nhận thức một cách đầy đủ trong đời sống xã hội.
2.2 Những yếu kém và nguyên nhân chủ yếu
Mặc dù đạt được những thành tựu nhất định tuy nhiên, cơ sở hạ tầng công nghệ của nước ta hiện
nay nhìn chung còn thấp so với các nước trên thế giới và trong khu vực, chưa đáp ứng được yêu
cầu là nền tảng và động lực giúp thực hiện thành công chiến lược CNH, HDH nền kinh tế mà đại
hội Đảng XI đã đề ra.


54537

265159

32446

Con số sản lượng khoa học từ Việt Nam, khi so sánh với các nước trong vùng: chỉ bằng khoảng 1/4
số bài báo từ Thái Lan), 1/7 Singapore, chưa nói đến thấp hơn rất nhiều so với thế giới. Có đến
75% các công trình khoa học từ Việt Nam do đứng tên chung hoặc hợp tác với nước ngoài, các
công trình nội lực có chất lượng thấp hơn các công trình hợp tác. So với các nước trong vùng, chất


lượng nghiên cứu khoa học từ nước ta không thấp (chỉ số đánh giá chất lượng và ảnh hưởng của
nghiên cứu khoa học RCI cao) tuy nhiên lại quá thấp so với trung bình thế giới ( thấp hơn khoảng
40%).
-Trang thiết bị của các viện nghiên cứu, trường đại học nhìn chung còn rất thiếu, không đồng bộ,
lạc hậu so với những cơ sở sản xuất tiên tiến cùng ngành. Lực lượng khoa học khá phân tán, thiếu
sự kết hợp gắn bó giữa viện nghiên cứu, trường đại học và các trung tâm nghiên cứu của doanh
nghiệp. Tổ chức KH&CN còn mang tính chất hành chính, cát cứ, kém hiệu quả.
-Tỷ lệ lao động qua đào tạo còn ít ( 20%), lao động qua đào tạo mất cân đối giữa nông thôn và
thành thị, giữa các vùng miền. Chất lượng đào tạo còn hạn chế chưa đáp ứng được nhu cầu nhân
lực đặc biệt đối với lĩnh vực KH&CN tiên tiến, tình trạng thừa thầy thiếu thợ đang là vấn đề lớn
đặc biệt là thiếu cán bộ KH&CN trẻ kế cận có trình độ cao.
-Chính sách đổi mới quản lý KH&CN đã được đổi mới nhưng còn chậm so với tốc độ phát triển
của kinh tế thị trường, còn mang nặng tính hành chính: Các tổ chức KH&CN chưa có được đầy đủ
quyền tự chủ về kế hoạch, tài chính, nhân lực và hợp tác quốc tế để phát huy tính năng động, sáng
tạo.Việc quản lý cán bộ KH&CN theo chế độ công chức không phù hợp với hoạt động KH&CN,
làm hạn chế khả năng lưu chuyển và đổi mới cán bộ. Thiếu cơ chế đảm bảo để cán bộ KH&CN
được tự do chính kiến, phát huy khả năng sáng tạo, tự chịu trách nhiệm trong khuôn khổ pháp

Rà soát và hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật, các cơ chế, chính sách nhằm tạo môi
trường thuận lợi hỗ trợ ứng dụng và phát triển KH&CN đáp ứng các yêu cầu về hội nhập toàn diện
kinh tế quốc tế, đảm bảo chủ quyền an ninh quốc gia; tăng cường và phát huy nội lực, thúc đẩy
hợp tác và cạnh tranh lành mạnh giữa các doanh nghiệp; tạo điều kiện để mọi thành phần kinh tế
có cơ hội bình đẳng tham gia thị trường; hoàn thiện các thể chế kinh tế thị trường định hướng
XHCN và bắt kịp cu hướng hội tụ công nghệ
3.2 Tăng cường tổ chức bộ máy quản lý Nhà nước
– Tăng cường bộ máy quản lý Nhà nước về KH&CN theo mô hình quản lý đa ngành, đa lĩnh vực
phù hợp với xu thế hội tụ công nghệ đặc biệt là CNTT-TT
– Tổ chức hợp lý bộ máy quản lý Nhà nước trên cơ sở phân biệt rõ các tổ chức có chức năng xây
dựng chính sách, luật pháp với các tổ chức có chức năng thực thi pháp luật; đảm bảo hình thành
hệ thống quản lý Nhà nước mạnh theo nguyên tắc “Năng lực quản lý đón đầu yêu cầu phát triển”;


– Đổi mới tổ chức và cơ chế hoạt động của bộ máy quản lý nhà nước về KH&CN phải theo hướng
phù hợp với tiến trình cải cách hành chính, phân định rõ việc thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà
nước với việc thực hiện các nhiệm vụ KH&CN; phân công, phân cấp rõ ràng nhiệm vụ, quyền hạn
và trách nhiệm giữa các sở, ngành, UBND các quận, huyện để tránh sự chồng chéo, tăng cường
vai trò của các ngành trong quản lý hoạt động KH&CN của ngành mình.
3.3 Thu hút đầu tư và huy động nguồn vốn:
– Hình thành môi trường nuôi dưỡng, phát triển và đón đầu cuộc cách mạng KH&CN, sẵn sàng
về cơ sở hạ tầng, vật chất, hậu cần, nguồn nhân lực để thu hút các tập đoàn Công nghệ lớn trên thế
giới đầu tư.
– Huy động vốn đầu tư từ các nguồn vốn trong nước và quốc tế, ưu tiên nguồn vốn tín dụng ngân
hàng, cổ phần hóa, thị trường chứng khoán, tích lũy, ODA,…cho xây dựng cơ sở hạ tầng công
nghệ một cách hoàn thiện.
3.4 Phát triển mạnh nguồn nhân lực:
– Hoàn thiện hệ thống chương trình đào tạo, dạy nghề thống nhất và chuyên nghiệp về KH&CN ở
tất cả các bậc học, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên, cơ sở vật chất và hợp tác quốc tế trong
đào tạo đảm bảo cung cấp nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao.

sức vững chắc. Các nước đang phát triển như Việt Nam đã nhận thức được đầy đủ những mặt yếu
kém liên quan đến môi trường công nghệ ở quốc gia mình. Không một quốc gia nào muốn phát
triển công nghệ lại không xây dựng cho mình một cơ sở hạ tầng công nghệ vững chắc. Đến nay đã
là gần 26 năm đổi mới, nước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng gây dựng được một nền
tảng cơ sở hạ tầng công nghệ tương đối toàn diện tuy nhiên vẫn yếu về chiều sâu. Nguy cơ tụt hậu
là rất cao nếu như chúng ta không tiến hành những biện pháp thiết thực, những giải pháp đồng
bộ triệt để ngay từ bây giờ để hoàn thiện hơn cả về lượng và chất cho các yếu tố của cơ sở hạ tầng
công nghệ. Muốn vậy, Đảng, Nhà nước, các ngành các cấp, cùng nhân dân và toàn xã hội phải
chung tay chung sức quyết tâm đưa Việt Nam phát triển tiến tới tự chủ về công nghệ.




Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status