PHÒNG GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO ĐAM RÔNG
TRƯỜNG TH LƯƠNG THẾ VINH
Giải pháp hữu ích
Người viết : Đậu Thị Vân
Đơn vị: Trường TH Lương Thế Vinh
Tháng 11 năm 2012
MỤC LỤC
I.ĐẶT VẤN ĐỀ.
II.THỰC TRẠNG.
III.NGUYÊN NHÂN.
IV.GIẢI PHÁP
V.DẠY THỰC NGHIỆM.
VI.KẾT QUẢ.
VII.KẾT LUẬN.
UI/ ĐẶT VẤN ĐỀ :
Tập làm văn là một phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt, nó giúp
học sinh có năng lực sử dụng tiếng Việt để học tập, giao tiếp. Trau dồi những
Tập làm văn là một phân môn quan trọng của môn Tiếng Việt, nó giúp
học sinh có năng lực sử dụng tiếng Việt để học tập, giao tiếp. Trau dồi những
ứng xử có văn hoá, tinh thần trách nhiệm trong công việc, bồi dưỡng những
tình cảm lành mạnh, tốt đẹp qua nội dung bài dạy. Đặc biệt là phân môn Tập
làm văn là phân môn tổng hợp toàn bộ kiến thức đã học ở các phân môn:
Tập đọc, Tập viết, Chính tả, Kể chuyện, Luyện từ và câu. Với mục tiêu rèn
học sinh bốn kỹ năng nghe, đọc, nói, viết trong đó kỹ năng viết “ một đoạn
văn ngắn” là yêu cầu cơ bản khá trọng tâm ở phân môn tập làm văn lớp 2.
Để làm được một bài tập làm văn, học sinh cần phải huy động các
kiến thức về tập đọc, từ và câu, về những kiến thức đã học, về môi trường
xung quanh, về vốn hiểu biết, … nói chung môn tập làm văn đòi hỏi là tổng
hợp các kiến thức mà học sinh đã học được ở các phân môn tiếng việt khác.
Bởi vậy, tập làm văn mang tính thực hành toàn diện, tổng hợp.
Tập làm văn còn mang tính hiện thực sáng tạo vì một bài tập làm văn
thể hiện sự suy nghĩ, tư duy của cá nhân, là tác phẩm không trùng lặp của
mỗi học sinh.
Khi dạy một bài tập làm văn, giáo viên hay gặp khó khăn là học sinh
thụ động, ít phát biểu, có chăng cũng chỉ là những học sinh khá giỏi là hoạt
động hoặc các em chỉ trả lời câu hỏi mà không có sự liên kết thành đoạn,
diễn đạt lủng củng, ý tưởng nghèo nàn… Nói đã khó, viết càng khó hơn. Do
đó, sau một thời gian giảng dạy, tôi suy nghĩ nên làm cách nào để giúp các
em hứng thú khi học môn này.
Bởi vậy hiệu quả giờ dạy học sinh viết đoạn văn ngắn còn rất hạn chế.
Một phần người dạy còn chưa tìm ra quy trình và phương pháp dạy thích
hợp. Hơn nữa đây là loại bài hoàn toàn mới đối với học sinh lớp 2. Vì các
em từ lớp 1 lên và đến bây giờ các em mới làm quen với thể loại này. Với
đối tượng này vốn từ, kỹ năng diễn đạt còn hạn chế. Học sinh chưa hiểu sâu
về nghĩa các từ ngữ và bản chất của câu nên khi viết một đoạn văn các em
thường bộc lộ các yếu điểm về diễn đạt như : từ lặp lại nhiều, câu không rõ
nghĩa, các câu trong đoạn văn còn lộn xộn, viết đoạn văn mang tính chất trả
các tiết học .
-Trong quá trình dạy chưa kịp thời quan tâm và sửa sai cho học sinh
khi nói và viết văn.
* Về phía học sinh :
-Do đặc điểm tâm sinh lí của học sinh lớp 2 lứa tuổi mau nhớ nhưng
cũng mau quên,mức độ tập trung thực hiện các yêu cầu của bài học chưa
cao.
-Sang lớp 2 các em phải làm quen với phân môn rất mới như luyện từ
và câu, tập làm văn.Đòi hỏi các em biết dùng từ đặt câu, nói thành câu, thành
đoạn, nói liền mạch để ứng dụng thành đoạn văn ngắn kể hay tả.
-Kiến thức thực tế cuộc sống của học sinh còn hạn chế , ảnh hưởng
đến việc tiếp thu bài học .Vốn từ vựng của học sinh còn hạn chế cũng hạn
chế đến việc thực hành luyện tập .Cụ thể là các em viết câu trả lời rời rạc,
chưa liên kết, tính sáng tạo trong thực hành viết chưa cao.
Chất lượng khảo sát môn Tập làm văn tháng 9
TSHS TTB
DTB
TS
%
TS
%
32
16
50%
16
50%
Từ kết quả khảo sát trên tôi đã tìm tòi, học hỏi, nghiên cứu thực tế từ
đối tượng học sinh để đề ra một số biện pháp phù hợp vói các em.
b/ Đáp lời chào, đáp lời cảm ơn, xin lỗi, từ chối, chia vui …
Tất cả những lời đáp trên rất hay gặp trong đời sống nhưng các em lại
rất ít nói, có em chẳng hề nói nên các em thấy hơi xa lạ. Thế nên, giáo viên
không chỉ dạy thực hành trong tiết học mà còn phải giáo dục các em mọi lúc
mọi nơi với một thời gian dài.
Đối với lời đáp này các em thường ngại ngần không muốn nói nên
giáo viên cần cho các em sắm vai. Quan trọng hơn nữa là giáo viên cần cho
các em nắm rõ tình huống vì khi viết các em hay lầm lẫn giữa lời đáp và lời
nói.
Ví dụ: Em nói thế nào khi bạn xin lỗi em vì đã làm dơ áo em. Các em
có thể bị lầm và nói là : - Xin lỗi bạn vì tớ lỡ làm bẩn áo bạn. Nguyên
nhân là do các em chưa đọc kỹ đề, sự suy xét của các em còn non nớt. Bởi
vậy, giáo viên cần tập cho các em đọc kỹ đề bài. Đặt mình vào tình huống
của đề bài, cùng sắm vai theo tình huống đó. Có vậy, các em mới không bị
lầm lẫn.
Ngoài ra giáo viên cũng cần lưu ý các em về thái độ lời nói với từng
đối tượng tương tự phần a .
c/ Nói và đáp lời khẳng định, phủ định:
Có lẽ dạng này đối với các em tương đối dễ, các em chỉ cần nói có
hoặc không. Tuy nhiên, giáo viên cần giải thích cho các em thuật ngữ khẳng
định, phủ định. Vì nếu không giải thích, các em chỉ làm theo mẫu trong sách
giáo khoa mà không thể phát huy tính tích cực chủ động của học sinh. Còn
nếu ta giải thích thì khi vừa gặp dạng bài này các em sẽ tự giác hiểu và làm
bài tốt.
Riêng về đáp lời khẳng định, phủ định thì trong đời sống hàng ngày
các em ít khi nói. Bởi vậy giáo viên cần cho các em thực hành và sắm vai.
Ngoài ra, cần lưu ý tình cảm thể hiện qua thái độ.
Ví dụ: Khi đáp lời khẳng định thì thể hiện sự vui mừng, đáp lời phủ định
với học sinh. Do đó, các em nói rất dễ dàng. Tuy nhiên khi viết các em gặp
nhiều trở ngại vì các em chưa nắm được khi nào là bản thân mình nói, khi
nào là người đầu dây bên kia nói. Bởi vậy, khi các em viết ra sẽ nhầm lẫn và
sai sót. Nên giáo viên phải giúp các em xác định nhân vật . Có thể giúp các
em hứng thú hơn bằng cách các em chuẩn bị những chiến điện thoại, cho các
em sắm vai, đọc kỹ đề và tưởng tượng mình là nhân vật. Có thế khi các em
viết mới không bị nhầm lẫn.
3/ Viết đoạn văn
Đây là dạng bài nòng cốt trong môn tập làm văn. Nó đòi hỏi ở người
học sinh vốn sống hàng ngày, vốn từ phong phú, đôi mắt quan sát tinh tường,
óc tưởng tượng sáng tạo nghệ thuật. Bởi vậy, khi dạy dạng bài này giáo viên
cần nắm rõ tâm lý tuổi học sinh. Ở lứa tuổi này học sinh nhìn nhận sự vật thế
nào? Tính tình của từng học sinh ra sao? Có em rất tỉ mỉ quan sát, có em rất
hời hợt qua loa. Nên phải nhấn mạnh khi con muốn tả bất cứ cái gì thì các
con phải hiểu rõ về cái đó. Con phải tìm hiểu thông tin về cái đó. Có thể hỏi
bạn bè, gia đình, thầy cô hay quan sát thực tế qua môn tự nhiên xã hội, qua
đọc sách, đọc báo, … Giáo viên cần phối hợp nhiều phương pháp và hình
thức dạy sao cho bảo đảm với mục tiêu.
Giáo viên yêu cầu học sinh có thói quen quan sát những sự vật hiện
tượng xung quanh để ghi nhận lại và sử dụng khi thật cần thiết. Vì qua thực
tếm đôi khi tôi cho các em một bài tập tả một con vịt, có em bảo là con chưa
bao giờ nhìn thấy con vịt thật. Quả đúng như vậy, vì các em được sinh ra và
lớn lên ở thành phố nên các em không nhìn thấy con vịt là cũng đáng. Bởi
thế giáo viên cũng cần sưu tầm những phim ảnh để có thể trình chiếu cho
các em, cho các em quan sát vật thật, tham quan dã ngoại … hoặc vào dịp
tết các em hay được ba mẹ cho đi tham quan tắm biển, nhân đó, giáo viên có
thể yêu cầu học sinh quan sát kỹ để có ý tưởng cho tập làm văn tả cảnh biển.
Để các em có thể làm được một bài văn tốt, các em phải có vốn từ ngữ
Chú gà ở nhà em
Gáy to
Mào đỏ
Con gà
Lông nhiều màu
Ăn thóc
Em yêu mến chú gà
Từ đó các em đã nắm được đặc điểm của con vật cần tả mà phát triển
thành một đoạn văn. Hoặc ta có thể cho em hình thành một đoạn văn qua trò
chơi “tiếp sức”.
Từ sơ đồ mạng đã thành lập ở trên, giáo viên yêu cầu học sinh tạo
thành câu, cứ thể nối tiếp nhau thành lập thành đoạn văn. Trong lúc đó, giáo
viên có thể ghi lại trên bảng, thế là đã có bốn đoạn văn mẫu. Có thể câu văn
lúc ấy còn lủng củng nhưng ta có thể sửa chữa.
Trong phần giới thiệu, ta có thể gặp trường hợp sau :
Ví dụ : học sinh thành lập câu “Nhà em có nuôi một con gà”. Ta có
thể lưu ý rằng câu của con đúng nhưng chưa hay và có thể bị trùng lắp
với các bạn khác. Vậy con hãy thành lập một câu khác sao cho vừa
giới thiệu được chú gà, vừa lồng tình cảm của con vào để người đọc
cảm thấy thích thú như câu “Chú gà trống tía nhà em trông mới oai
vệ làm sao !” hoặc “ Ôi! Chú gà con nhà em sao mà ngộ nghĩnh
quá! …”
Trong phần nội dung (quan trọng nhất) giáo viên luôn nhắc nhở học
sinh rằng nội dung thường có hai phần đó là : tả hình dáng và tả hoạt động
sao ! Toàn thân nó phủ một lớp lông vũ màu đỏ tía. Sáng sáng, trống tía
nhảy tót lên ụ rơm đầu hè mà rướn cổ gáy vang ò ó o. Mỗi khi đi học về,
em thường rải cho nó một ít thóc và vuốt ve cái đuôi dài, cong cong của
nó”. Khi đó, học sinh sẽ thấy được vẫn là ý tưởng cũ nhưng đoạn văn đã
được lột xác, thêm thắt những từ ngữ trau chuốt hơn làm cho đoạn văn đẹp
hơn, nghệ thuật hơn.
Giáo viên có thể sưu tầm những bài văn hay và đọc cho học sinh nghe
để học sinh học hỏi. Trưng bày những bài văn hay của các bạn trong lớp để
các em noi gương. Tập ghi chép những từ hay, ý đẹp khi bắt gặp ở đâu đó
vào một quyển từ điển riêng của mình. Từ đó, vốn từ của các em sẽ ngày
càng nhiều, càng phong phú.
V.DẠY THỰC NGHIỆM
Sau một thời gian áp dụng biện pháp nói trên trong việc dạy học sinh học
tập làm văn, tôi đã lấy số liệu kết quả kiểm tra giữa kì 1 như sau :
Đối tượng : 32 học sinh lớp 2 B
TSHS
32
TS
26
TTB
%
81,25%
TS
6
sinh lớp tôi đã ý thức hơn trong các giờ học tập làm văn, học sinh tự tin và
hứng thú học tập. Chất lượng học Tập làm văn có chuyển bến rõ rệt. Nội
dung các bài viết phong phú, các bài viết có sự khác biệt rõ do học sinh được
bộc lộ kinh nghiệm, sự cảm nhận của cà nhân khi quan sát, học sinh được tự
do diễn đạt bằng sự lựa chon từ ngữ, mô hình câu của riêng mình. Giờ học
hứng thú hơn bởi học sinh có động cơ nói ra, viết ra điều mình thấy, mình
cảm nhận được.
Đó chính là những động lực thúc đẩy tôi ngày càng nổ lực phấn đấu
hơn nữa trong sự nghiệp trồng người đầy khó khăn thử thách này.
VII/ KẾT LUẬN
1. Kết luận .
Đề tài giúp học sinh có những bài viết sinh động, sáng tạo và mang
tính riêng biệt đã khép lại nhưng nó đã mở ra cho ta thấy việc dạy Tập làm
văn hay bất cứ phân môn nào khác dựa trên tính tích cực tự học, tự rèn luyện
của học sinh là vấn để rất cần thiết hiện nay. Nó đòi hỏi người giáo viên cải
tiến phương pháp dạy học của mình nhằm mục đích nâng cao chất lượng và
hiệu quả đào tạo. Đảm bảo mục tiêu cuối cùng của nhà trường là đào tạo ra
những con người phát triển toàn diện, hoàn thiện năng lực ngôn ngữ của học
sinh bao gồm việc làm giàu tiếng mẹ đẻ cho các em.
Từ đó, ta thấy được vai trò của người giáo viên rất quan trọng, chính
người giáo viên là người hướng dẫn, gợi mở, cố vấn trong các hoạt động học
tập, người mở ra khả năng tiềm ẩn của học sinh.
Qua đề tài này, tôi mong muốn góp một phần tích cực vào việc giúp
cho học sinh làm văn tốt hơn. Tuy nhiên, với vốn kinh nghiệm còn hạn chế
nên không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong sự góp ý chân thành của
thầy cô và các bạn.
2.Đề nghị
Tôi chỉ có một đề nghị nhỏ : đề nghị Phòng Giáo dục, nhà trường
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
.
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
.
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
.
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
.
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
.
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
………………………………………………………………………………………
.