Đánh giá ảnh hưởng các hoạt động sinh kế của người dân đến thực trạng công tác quản lý, bảo vệ tài nguyên rừng tại vùng đệm vườn quốc gia phong nha kẽ bàng - Pdf 47

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN LÂM NGHIỆP - TRỒNG TRỌT

TRẦN CHÂU MỸ

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA
NGƯỜI DÂN ĐẾN THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

QUẢNG BÌNH, NĂM 2017


TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUẢNG BÌNH
BỘ MÔN LÂM NGHIỆP - TRỒNG TRỌT

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

ĐÁNH GIÁ ẢNH HƯỞNG CÁC HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA
NGƯỜI DÂN ĐẾN THỰC TRẠNG CÔNG TÁC QUẢN LÝ
BẢO VỆ TÀI NGUYÊN RỪNG TẠI VÙNG ĐỆM VƯỜN
QUỐC GIA PHONG NHA - KẺ BÀNG

Họ tên sinh viên: Trần Châu Mỹ
Mã số: DQB05130060
Chuyên ngành: Quản lý Tài nguyên và Môi trường
Giảng viên hướng dẫn: ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Phương

QUẢNG BÌNH, NĂM 2017

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Đồng Hới, tháng 05 năm 2017
Sinh viên


MỤC LỤC
PHẦN 1. MỞ ĐẦU ............................................................................................... 1
PHẦN 2. TỔNG QUAN CÁC VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU .................................... 1
2.1. Tài nguyên rừng trên Thế giới ....................................................................... 1
2.1.1. Hiện trạng tài nguyên rừng trên Thế giới.................................................... 1
2.1.2 Tình hình nạn phá rừng và vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở trên Thế giới .... 1
2.2. Tài nguyên rừng ở Việt Nam ......................................................................... 4
2.2.1.Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam....................................................... 4
2.2.2. Tình hình nạn phá rừng và vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở Việt Nam ......... 5
2.2.3. Hiện trạng tài nguyên rừng ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng ....................... 9
PHẦN 3. ĐỐI TƯỢNG, PHẠM VI NGHIÊN CỨU .......................................... 11
NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU ........................................... 11
3.1.Đối tượng nghiên cứu.................................................................................... 11
3.2. Phạm vi nghiên cứu ...................................................................................... 11
3.3 Nội dung nghiên cứu ..................................................................................... 11
3.4. Phương pháp nghiên cứu .............................................................................. 12
3.4.1. Chọn điểm nghiên cứu .............................................................................. 12
3.4.2. Phương pháp thu thập thông tin ................................................................ 12
3.4.3. Phân tích thông tin..................................................................................... 12
PHẦN 4.KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN ................................... 13
4.1. Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu ...................... 13
4.1.1 Điều kiện tự nhiên ...................................................................................... 13
4.1.2. Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội ......................................................... 15
4.2. Thực trạng công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng .................... 18


DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CHỮ VIẾT TẮT
ĐDSH:

Đa dạng sinh học

WWF:

Quỹ quốc tế và bảo tồn thiên nhiên

KBT:

Khu bảo tồn

VQG:

Vườn quốc gia

QLBVR:

Quản lý bảo vệ rừng

CBST:

Cân bằng sinh thái

GDMT&DLST:

Giáo dục môi trường và du lịch sinh thái


Nông nghiệp và phát triển nông thôn

ĐVHD:

Động vật hoang dã

PTR:

Phát triển rừng

GD&ĐT:

Giáo dục và đào tạo

LSNG:

Lâm sản ngoài gỗ

TNTN:

Tài nguyên thiên nhiên

NLKH:

Nông lâm kết hợp

VACR:

Vườn - Ao - Chuồng - Rừng


là do các tác động tiêu cực của con nguời. Suy thoái ĐDSH không những đã gây
nên nhiều tổn thất nặng nề về tài nguyên thiên nhiên và môi trường sinh thái còn
ảnh hưởng lớn đến tính mạng, của cải vật chất của con người. Nhằm ngăn chặn
sự suy thoái ĐDSH ngày càng tăng, toàn thể nhân loại, đặc biệt là các tổ chức
Liên Hợp Quốc và nhiều tổ chức phi chính phủ suốt thời gian qua đã đầu tư
nhiều công sức cũng như tài chính để hạn chế và ngăn chặn sự suy thoái ĐDSH
một cách có hiệu quả nhất nhằm đáp ứng cho sự nghiệp bảo tồn. Những nỗ lực
trong sự nghiệp bảo tồn đã thu được những kết quả nhất định: nhiều loài động,
thực vật đã tránh được hiểm họa của sự tuyệt chủng, đảm bảo được sự cân bằng
sinh thái trên toàn cầu.
Nằm trong xu thế chung của thế giới, đa dạng sinh học ở Việt Nam cũng
đã và đang bị suy thoái, đặc biệt sự suy thoái này diễn ra với tốc độ rất nhanh
trong những năm gần đây do các tác động của con người như: khai thác lâm sản,
phát rừng làm nương rẫy, khai thác khoáng sản, do quá trình đô thị hoá... Trong
hơn 42 năm qua, dân số Việt Nam tăng gấp hai lần (hiện nay khoảng 96 triệu
người) [2], trong khi đó tài nguyên thiên nhiên, cơ sở vật chất của sự sống còn
lại có hạn. Dân số tăng nhanh đòi hỏi phải có thêm nhiều đất đai để trồng trọt,
cần nhiều rừng để cung cấp gỗ làm chất đốt và nguyên liệu cho xây dựng, nhưng
chính sự yếu kém trong công tác quản lí, bảo vệ rừng đã làm cho nguồn tài
nguyên ngày càng bị suy giảm, đất đai bị xói mòn, rửa trôi, môi trường sống của
nhiều loài động, thực vật bị thu hẹp và ngày càng suy thoái nghiêm trọng gây ra
những hậu quả không nhỏ đối với đời sống, kinh tế - xã hội và môi trường sống
của con người. Vì vậy bảo tồn đa dạng sinh học là một trong những vấn đề được
quan tâm hàng đầu ở Việt Nam, và một trong các giải pháp để bảo tồn đa dạng
sinh học là Nhà nước thành lập các khu rừng đặc dụng.
Năm 1962, khu bảo tồn (KBT) đầu tiên được thành lập trong hệ thống
KBT của Việt Nam có tên gọi là khu “rừng cấm” Cúc Phương. Từ đó đến nay,
hệ thống các KBT trên cạn đã được thiết lập và quản lý theo Luật Bảo vệ và
Phát triển rừng với 180 KBT bao gồm: 30 vườn quốc gia (VQG), 58 khu dự trữ
thiên nhiên (DTTN), 16 KBT loài – sinh cảnh, 56 khu bảo vệ cảnh quan và 20

liền) và 37,37 triệu km² vào năm 1973, hiện nay chỉ còn khoảng 29 triệu km².
Tổng số rừng trên thế giới có trữ lượng gỗ trên 50 m³/ha chỉ còn 2,8 tỷ ha,
phần còn lại 1,2 tỷ ha là rừng thưa, có trữ lượng gỗ thấp. Phần lớn diện tích rừng
kín phân bố ở vùng nhiệt đới (60% diện tích rừng kín trên thế giới). Trong các
loại rừng nhiệt đới thì rừng mưa nhiệt đới với các loại cây lá rộng thường xanh
có vai trò quan trọng nhất. Khu rừng mưa nhiệt đới lớn nhất là rừng Amazon có
diện tích 330 triệu ha. Các rừng mưa nhiệt đới phân bố thành vành đai xanh
không liên tục xung quanh Trái Đất trong phạm vi 23,5 vĩ độ Bắc và 23,5 vĩ
độ Nam, chủ yếu là giữa 10 vĩ độ Bắc và Nam xung quanh đường xích đạo.
Những vùng có diện tích rừng mưa lớn trên thế giới là Châu Mỹ La Tinh, Tây
Phi và Đông Nam Á.
Rừng cây lá kim phân bố ở các vĩ độ lớn, thường nằm ở phía Bắc của
rừng rụng lá ôn đới. Hầu hết diện tích rừng lá kim phân bố ở 2 vành đai lớn là
Bắc Mỹ và vành đai Âu- Á từ Scandinavia đến Đông Xiberia. Khu rừng taiga ở
Nga có diện tích 1,1 tỷ ha (khoảng 25% diện tích rừng trên thế giới) được coi là
lớn nhất thế giới. Trong đó loài thông rừng chiếm 38% diện tích rừng.
Rừng trồng hiện nay có diện tích khoảng 150 triệu ha, chiếm 4% tổng
diện tích rừng.Hầu hết rừng trồng nằm ở các nước đang phát triễn và ở vùng ôn
đới. Trong những năm gần đây diện tích rừng trồng đã tăng đáng kể ở các nước
đang phát triễn. Nhìn chung rừng trồng có thành phần loài đơn giản và thường
bao gồm các loài cây có khả năng sinh trưởng nhanh so với rừng tự nhiên và
mức độ tăng trưởng ở rừng trồng cũng rất cao.
2.1.2. Tình hình nạn phá rừng và vấn đề quản lý, bảo vệ rừng ở trên Thế giới
Sự suy giảm diện tích rừng và suy thoái rừng. Theo tài liệu mới công bố
của Quỹ bảo vệ động vật hoang dã (WWF, 1998), trong thời gian 30 năm (1960
– 1990) độ che phủ rừng trên toàn thế giới đã giảm đi gần 13%, tức diện tích
rừng đã giảm đi từ 37 triệu km² xuống 32 triệu km², với tốc độ giảm trung bình
160.000km²/năm. Sự mất rừng lớn nhất xãy ra ở các vùng nhiệt đới, ở Amazone
1


cho xuất khẩu. Còn ở Philippine, đến năm 1980 rừng đã bị phá hủy khoảng 2/3
diện tích, trong đó khai thác gỗ cho xuất khẩu chiếm một phần lớn.
- Phá rừng để trồng cây công nghiệp và cây đặc sản: nhiều diện tích rừng
trên thế giới đã bị chặt phá lấy đất trồng cây công nghiệp và các cây đặc sản
phục vụ cho kinh doanh. Mục đích là để thu được lợi nhuận cao mà không quan
tâm đến lĩnh vực môi trường. Ở Thái Lan, một diện tích lớn rừng đã bị chặt phá
2


để trồng sắn xuất khẩu, hoặc trồng côca để sản xuất sôcôla. Ở Pêru, nhân dân
phá rừng để trồng côca; diện tích trồng côca ước tính chiếm 1/10 diện tích rừng
của Pêru.Các cây công nghiệp như cao su, cọ dầu cũng đã thay thế nhiều vùng
rừng nguyên sinh ở các vùng đồi thấp của Malaisia và nhiều nước khác.
- Cháy rừng: Cháy rừng là nguyên nhân khá phổ biến ở các nước trên thế
giới và có khả năng làm mất rừng một cách nhanh chóng. Ví dụ, năm
1977 đã xảy ra cháy rừng ở nhiều nước thuộc Châu Âu, Châu Á và Châu Mỹ.
Chỉ tính riêng ở Indonesia trong một đợt cháy rừng (năm 1977) đã thiêu hủy gần
1 triệu ha rừng. Còn ở Mỹ, trong năm 2000 đã có 2,16 triệu ha rừng bị cháy.
Ngoài ra còn có nhiều nguyên nhân khác cũng trực tiếp hoặc gián tiếp làm
tăng quá trình phá rừng trên thế giới. Đó là các chính sách quản lý rừng, chính
sách đất đai, chính sách về di cư, định cư và các chính sách kinh tế xã
hội khác. Các dự án phát triển kinh tế xã hội như xây dựng đường giao
thông, các công trình thủy điện, các khu dân cư hoặc khu công nghiệp cũng làm
gia tăng đáng kể tốc độ mất rừng ở nhiều nơi trên thế giới.
Trước thực trạng trên, Hội nghị quốc tế về các vùng rừng lớn trên thế giới
diễn ra ngày 11/03/2010 tại Pháp. Tại hội nghị này, các bên tham gia thảo luận
về các giải pháp chống tình trạng phá rừng trên thế giới, trong đó có việc triễn
khai khoản tài trợ 3,5 tỷ USD mà 6 nước (gồm Pháp, Australia, Nhật Bản, Anh,
Na Uy và Mỹ) đã cam kết hỗ trợ các nước đang phát triển giảm khí thải gây hiệu
ứng nhà kính xuất phát từ nạn phá rừng tại hội nghị thượng đỉnh Copenhagen

giới có hơn 100.000 khu bảo tồn thiên nhiên, chiếm 11,7% diện tích đất liền
toàn thế giới. Vườn quốc gia chiếm số lượng và diện tích lớn nhất, tiếp đến là
các khu bảo tồn loài và sinh cảnh. [11].
2.2. Tài nguyên rừng ở Việt Nam
2.2.1. Hiện trạng tài nguyên rừng ở Việt Nam
Theo tài liệu của Maurand và tổng cục lâm nghiệp Việt Nam thì trước
năm 1945, Việt Nam có 14 triệu ha rừng, chiếm hơn 42% diện tích tự nhiên của
cả nước, năm 1990 diện tích rừng chỉ còn 28,4 %, Năm 2000 diện tích tăng lên
33,2 % (11 triệu ha) (Niên giám thống kê, 2000), trong đó có 8 triệu ha rừng đã
được giao cho chủ rừng (Hà Công Tuấn, 2001)…
Trên thực tế, rừng vẫn bị xâm hại và chỉ còn khoảng 10 % là rừng nguyên
sinh và từ năm 1996-2000, mỗi năm vùng Tây Nguyên mất đi 10.000 ha rừng.
Trong cả nước thì hiện nay mỗi năm chúng ta trồng được 200.000 ha rừng nhưng
diện tích rừng bị mất khoảng 120.000-150.000ha [3]. Do nước ta trải dài từ Bắc
xuống Nam và điạ hình có nhiều cao độ khác nhau so với mực nước biển nên
rừng phân bố trên khắp các dạng địa hình, với nét độc đáo của vùng nhiệt đới và
rất đa dạng: có nhiều rừng xanh quanh năm, rừng già nguyên sinh, rừng cây lá
rộng, rừng cây hỗn giao lá kim và lá rụng, rừng cây bụi và rừng ngập mặn...
Rừng Việt Nam có nguồn tài nguyên sinh vật rất đa dạng. Có thể nói nước
ta là trung tâm du nhập của các luồng thực vật và động vật từ phía Bắc xuống,
phía Tây qua, phía Nam lên và từ đây phân bố đến các nơi khác trong vùng.
4


Ðồng thời, nước ta có độ cao ngang từ mực nước biển đến trên 3.000m nên có
nhiều loại rừng với nhiều loại thực vật và động vật quý hiếm và độc đáo mà các
nước ôn đới khó có thể tìm thấy được:
- Về thực vật: Theo số liệu thống kê gần đây thì có khoảng 12.000 loài
thực vật, nhưng chỉ có khoảng 10.500 loài đã được mô tả (Phạm Hoàng Hộ,
1991- 1993), trong đó có khoảng 10% là loài đặc hữu; 800 loài rêu; 600 loài



không nhỏ, đã làm mất đi 1/4 diện tích rừng nguyên sinh ở Việt Nam.Rừng bị
tàn phá, bị khai thác quá mức đã trở nghèo kiệt, các hệ sinh thái rừng bị phá hủy.
Nhiều loại thực vật rừng quý đang bị chặt hạ, thu hái không có kế hoạch nên
đang đứng trước nguy cơ bị tuyệt chủng. Trước tình hình đó, đòi hỏi phải có một
phương pháp quản lí, bảo vệ rừng một cách có hiệu quả.
Quản lý và bảo vệ rừng không còn là một vấn đề mới mẻ nhưng hiện nay
đó đang là một vấn đề hết sức cấp bách. Trong cuộc sống, do những nhận thức
về rừng chưa đầy đủ cùng với sức ép về dân số, sức ép về xã hội, con người đã
lợi dụng các sản phẩm từ rừng một cách trực tiếp hay gián tiếp. Dù có ý thức
hay không có ý thức, con người đã luôn tác động đến rừng, ở đây nghĩa là tác
động đến thành phần của hệ sinh thái rừng, tác động và làm thay đổi các quy
luật vận động đang diễn ra một cách ổn định, dù chỉ một tác động nhỏ đến rừng
cũng làm thay đổi rất nhiều mối quan hệ khác nhau trong rừng.
Dự đoán trong tương lai, nếu không có chính sách bảo vệ hữu hiệu của
Nhà nước thì rừng Việt Nam ngày càng bị ảnh hưởng xấu nghiêm trọng: gây lũ
lụt, xói mòn đất, diện tích đất trống đồi trọc ngày càng tăng,…Nguồn tài nguyên
rừng, đất rừng quốc gia hiện có cũng như trong tương lai trên cơ sở ổn định lâu
dài để đáp ứng nhu cầu của Nhà nước về lâm sản, bảo vệ môi trường và đảm bảo
cân bằng sinh thái, nâng cao sản lượng rừng,…Hệ sinh thái rừng luôn có khả
năng duy trì và điều hoà, điều đó có nghĩa là nếu rừng được bảo vệ tốt, tức là các
quá trình vận động, các chu trình trong hệ sinh thái rừng không bị ảnh hưởng.
Bảo vệ rừng tốt tức là ngăn chặn các tác động có hại đến rừng như lửa rừng, phá
rừng để thực hiện các hoạt động phi lâm nghiệp, khai thác rừng quá mức để cho
các quá trình tự điều chỉnh của rừng diễn ra thuận lợi theo đúng qui luật vốn có
của nó.
Từ những năm 60, nhà nước ta đã quan tâm đến vấn đề này và cho đến
nay đã có một hệ thống bảo tồn tại chỗ dưới 3 hình thức khác nhau: Vườn Quốc
gia, Khu bảo tồn, Khu văn hoá- lịch sử và môi trường gọi chung là hệ thống

các vùng trồng rừng tập trung nhằm cung cấp nguyên liệu cho sản xuất. Chẳng
hạn, vùng Đông bắc và Trung du Bắc bộ đã trồng 300 nghìn hecta rừng nguyên
liệu công nghiệp, Bắc Trung bộ có 70 nghìn hecta rừng thông. Ngoài ra, hơn 6
triệu hecta rừng phòng hộ và 2 triệu hecta rừng đặc dụng được quy hoạch, đầu tư
phát triển nhằm bảo vệ môi trường, bảo vệ tính đa dạng sinh học; có tới 15 vườn
quốc gia và hơn 50 khu bảo tồn thiên nhiên được xây dựng, quy hoạch và quản
lí...[10]. Trong 10 năm qua, hàng năm giá trị sản xuất lâm nghiệp đạt xấp xỉ 6.5
nghìn tỷ đồng, chiếm 3-5% giá trị sản lượng nông, lâm thuỷ sản.[8]
Mặc dù có những kết quả tích cực trong quy hoạch, sản xuất cũng như
trong bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng, song nhìn chung chất lượng
rừng ở nước ta hiện nay vẫn còn rất thấp, rừng nước ta đã ít mà trong đó có tới
hơn 6 triệu hecta rừng nghèo kiệt, năng suất rừng trồng còn thấp. Đặc biệt,
nguồn tài nguyên rừng nước ta vẫn tiếp tục đứng trước những nguy cơ nghiêm
trọng như bị huỷ hoại, suy thoái, giảm sút và mất dần tính đa dạng sinh học của
rừng. Hậu quả khôn lường của những vụ tàn phá rừng trước đây và gần đây nhất
là thảm họa cháy rừng U Minh (3/2002), đã khiến cho gần 8 nghìn hecta rừng U
7


Minh Thượng và U Minh Hạ bỗng chốc trở thành đống tro tàn, đã thực sự là
những lời cảnh báo nghiêm khắc đối với chúng ta trong "sứ mệnh" bảo vệ và
phát triển tài nguyên rừng nói riêng và bảo vệ môi trường sống- chiếc nôi dung
dưỡng sự sống của con người nói chung. Thảm hoạ cháy rừng U Minh vừa qua
càng đặt ra những yêu cầu cấp bách đối với công tác quy hoạch, sản xuất, quản
lí, bảo vệ và phát triển nguồn tài nguyên rừng ở nước ta hiện nay.Trước hết, cần
khẩn trương đề ra những biện pháp tăng cường sự quản lí, nâng cao trách nhiệm
của các cơ quan chức năng về quản lí, bảo vệ tài nguyên rừng. Tinh thần trách
nhiệm, ý thức cảnh giác cao và năng lực thực thi chức trách của các cá nhân và
cơ quan quản lí chuyên ngành là những yếu tố tối cần thiết góp phần ngăn chặn
những tai họa, bảo vệ nguồn tài nguyên rừng. Trên thực tế, các khu rừng hiện

vì lợi ích trực tiếp của cộng đồng. Đây là một trong những hướng đi thiết thực
nhằm ngăn chặn và đẩy lùi những thảm họa như đã từng xảy ra làm huỷ hoại tài
nguyên rừng của Việt Nam.
2.2.3. Hiện trạng tài nguyên rừng ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng là nơi có rừng nguyên sinh trên núi đá vôi
lớn nhất Việt Nam, với diện tích 123.326 ha rừng đặc dụng, trong đó diện tích
rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá vôi độ cao dưới 700m là
55.337 ha (chiếm 47,4%), rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới trên núi đá
vôi cao trên 700m là 42.542 ha (chiếm 37,3%), rừng thứ sinh nhân tác trên núi
đá vôi là 1.336 ha (chiếm 1,1%), cây bụi gỗ rải rác trên núi đá vôi là 1.328 ha
(chiếm 1,1%), rừng kín thường xanh mưa ẩm nhiệt đới chủ yếu cây lá rộng trên
núi đất là 9.174 ha (chiếm 7,9%), rừng thứ sinh nhân tác trên núi đất vùng thấp
là 1.731 ha (chiếm 1,5%), rừng hành lang ngập nước định kì là 154 ha (chiếm
0,1%), trảng cỏ cây bụi, cây gỗ rải rác trên núi đất là 3.830 ha (chiếm 3,3%),
sinh cảnh trên đất khác là 392 ha (chiếm 0,3%). Ngoài ra, còn được giao quản
lý bảo vệ 2.842 ha rừng phòng hộ nằm ngoài ranh giới vùng lõi VQG Phong
Nha – Kẻ Bàng. Có 96,2% diện tích khu vườn quốc gia này được rừng bao phủ.
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng được coi là nơi có tính đa dạng sinh học cao vào
bậc nhất của Việt Nam, với đặc trưng là hệ sinh thái rừng nguyên sinh trên núi
đá vôi cùng với sự hình thành địa chất ở đây đã tạo cho khu vực này có tính đa
dạng cao và có nhiều yếu tố đặc hữu. Nơi đây đang lưu giữ nhiều nguồn gen quí
về động vật thực vật, là nơi hội tụ các yếu tố địa lý thực vật
Toàn bộ khu vực có 6 kiểu hệ sinh thái bao gồm: hệ sinh thái rừng trên
núi đá vôi; hệ sinh thái rừng trên núi đất; hệ sinh thái hang động; hệ sinh thái
sông ngầm; hệ sinh thái ao hồ; hệ sinh thái khe suối.
Về thực vật, các cuộc khảo sát sơ bộ trong VQG Phong Nha - Kẻ Bàng đã
ghi nhận có 2.935 loài thực vật thuộc 1.002 chi, 198 họ bậc cao với 208 loài
Lan trong đó có nhiều loài quý hiếm được ghi trong sách đỏ của Việt Nam và
IUCN. Có 8 kiểu thảm thực vật, trong đó có nhiều quần thể rừng điển hình như
rừng Bách xanh (Calocedrus rupestris) trên núi đá vôi với trên 500 năm tuổi và

3.1.Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu các hoạt động sinh kế của người dân đến công tác quản lý bảo
vệ tài nguyên rừng tại vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
• Không gian: Đề tài nghiên cứu được thực hiện tạiThôn 2 thuộc xã Xuân
Trạch thuộc vùng đệm Vườn quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng
• Thời gian:Từ tháng 2 đến tháng 4 năm 2017
3.3 Nội dung nghiên cứu
• Điều kiện tự nhiên – kinh tế xã hội của khu vực nghiên cứu.
• Thực trạng công tác QLBVR ở VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.
• Vai trò của các bên liên quan trong công tác quản lý, bảo vệ rừng tại VQG
Phong Nha Kẻ Bàng.
• Những thuận lợi và khó khăn trong công tác QLBVR ở VQG Phong Nha
– Kẻ Bàng.
• Ảnh hưởng các hoạt động sinh kế của người dân đến tài nguyên rừng của
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.
+ Các hoạt động sinh kế của người dân
+ Ảnh hưởng của các hoạt động sinh kế.
+ Đánh giá các mối đe dọa đối với tài nguyên rừng của VQG Phong Nha –
Kẻ Bàng.
• Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao công tác QLBVR ở VQG Phong
Nha – Kẻ Bàng.
+ Nâng cao năng lực quản lý và thực thi pháp luật trong việc QLBVR
+ Phát triển kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân sống trong vùng đệm
VQG Phong Nha – Kẻ Bàng.
+ Nâng cao nhận thức cho cộng đồng.
+ Tăng cường đầu tư vào chương trình nghiên cứu khoa học phục vụ cho
công tác QLBVR, bảo tồn ĐDSH và đảm bảo CBST.
11


Phía Bắc giáp rừng được giao khoán.
Phía Nam khu đất phù sa tiếp giáp rừng tự nhiên.
Phía Đông giáp thôn 3.
Phía Tây giáp thôn 1.

Bản đồ 4.1. Thôn 2, xã Xuân Trạch
4.1.1.2. Đất đai, thổ nhưỡng
Đất trong thôn chủ yếu thuộc hệ đất pheralit với các nhóm chính là: đất
phù sa và nhóm đất đỏ vàng. Trong đó nhóm đất đỏ vàng chiếm hơn 80% diện
tích đất tự nhiên của thôn, chủ yếu ở phía đồi núi phía Tây.

13


Bảng 4.1 Đất đai thổ nhưỡng thôn 2, xã Xuân Trạch
Loại đất

Diện tích

Đất lâm nghiệp

730 ha

Đất khoanh nuôi bảo vệ

2,5 ha

Đất thổ cư

537,14 ha

Thôn 2, xã Xuân Trạch nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa và luôn bị tác động
bởi khí hậu phía Bắc và phía Nam, được chia làm hai mùa rõ rệt:
Mùa mưa từ tháng 09 đến tháng 03 năm sau. Lượng mưa trung bình hang
năm 2.000 – 2.300 mm/năm. Thời gian tập trung vào tháng 09, 10 và 11.
Mùa khô từ tháng 04 đến tháng 08 với nhiệt độ trung bình từ 24˚C 25˚C.Ba tháng có nhiệt độ cao nhất là tháng 06, tháng 07 và tháng 08.
Vào mùa lũ thôn 2 và một số thôn trong xã gần như bị cô lập hoàn toàn do
nước khe dâng cao.
14


4.1.2. Điều kiện dân sinh - kinh tế - xã hội
4.1.2.1. Dân số và lao động
Toàn thôn có 136 hộ với 780 nhân khẩu, có tới 99% số hộ làm nông
nghiệp. Tỉ lệ tăng dân số hằng năm là 1,50%. Người dân trong xã Xuân Trạch
bao gồm nhiều dân tộc như Kinh, Tày, Nùng…nhưng thôn 2 chủ yếu là dân tộc
Kinh. Trong đó một bộ phận khá lớn theo công giáo, số giáo dân trong xã là
2.822 khẩu, chiếm tỷ lệ 48,52%.
Bảng 4.2 Dân số và lao động của thôn 2, xã Xuân Trạch.
Đơn vị

Số lượng

Cơ cấu(%)

Dân số

Người

780


136

100

Hộ khá

Hộ

35

25.73

Hộ cận nghèo

Hộ

60

40.11

Hộ nghèo

Hộ

41

30.14

Tiêu chí


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status