Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
Báo cáo tốt nghiệp
Đánh giá hoạt động
sinh kế của người dân
miền núi thôn 1 – 5
1
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
MỤC LỤC
MỤC LỤC 2
A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con
người. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con
người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên. Trên
thực tế đã có nhiều chương trình, tổ chức dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng đến
mục tiêu phát triển ổn định và bền vững. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn những hoạt
động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: điều kiện tự
nhiên, xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng Việc đánh giá hiệu quả các
hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ được những phương thức sinh kế của người
dân có phù hợp với các điều kiện của địa phương hay không. Các hoạt động sinh kế
đó có bền vững, phát triển lâu dài và ổn định.
Trong những năm qua tại thôn 1 – 5 có những hoạt động sinh kế mới, đạt năng
suất và hiệu quả khá lớn, rất phù hợp với tình hình và điều kiện tự nhiên của địa
phương, góp phần làm phong phú những phương thức sinh kế của người dân. Vì vậy
đây là cơ sở cho việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế, thu nhập cho người
dân miền núi thôn 1 – 5 nói riêng cũng như người dân khác trong địa bàn sống ở
Đề tài này nghiên cứu trong lĩnh vực phát triển nông thôn bằng cách xây
dựng mạng lưới hợp tác giữa các viện/trường để cùng chia sẻ thông tin và kinh
nghiệm. Sự liên kết trong nước, khu vực và thế giới sẽ làm cơ sở phát triển cho
3
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
phương pháp tiếp cận hệ thống đa ngành đa lĩnh vực trong phát triển, nhằm nâng
cao năng lực cá nhân về nghiên cứu và đào tạo PTNT ở các trường đại học và viện
nghiên cứu ở Việt Nam.
Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những kinh nghiệm nghiên cứu đa ngành và
liên kết giữa khoa học tự nhiên và xã hội trong quá trình tìm hiểu hệ thống nông
thôn bền vững. Đồng thời, phát huy kinh nghiệm tiếp cận chính diện trong nghiên
cứu như phân tích sinh kế và tư duy hệ thống và phát huy tính liên tục trong
nghiên cứu đối với chính sách và thực thi chính sách về PTNT và tình hình sinh kế
ở nông thôn.
2.3 Nghiên cứu phát triển nông thôn bền vững tại xã Phong Mỹ miền Trung
Việt Nam của trường Đại học khoa học và đời sống Praha – Czech
Nghiên cứu này được thực hiện ở xã Phong Mĩ huyện Phong Điền – tỉnh
Thừa Thiên Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông
thôn, bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu phương
thức sinh kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người, và nguồn vốn
tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và những nguồn tài nguyên khác
như: tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tác động đến hoạt động sinh kế của người
dân. Ngoài ra, đề tài cũng vẽ nên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua
các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình giáo dục y tế, tình hình kinh tế -
xã hội tại địa phương.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu, phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi. Qua đó
xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của người
kể là sự tác động mạnh mẽ từ nguồn vốn con người và nguồn vốn tài chính.
5
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
5.3. Người dân thôn 1 – 5 hiện nay để xây dựng một chiến lược sinh kế bền
vững cần có sự giúp đỡ của các tổ chức xã hội và Nhà nước.
6. Câu hỏi nghiên cứu
+ Các hoạt động sinh kế của người dân bao gồm những hoạt động gì?
+ Những nguồn vốn sinh kế mà người dân có được trong hoạt động sinh kế?
+ Những yếu tố nào tác động đến hoạt động sinh kế của người dân? Mức độ
ảnh hưởng?
+ Hiệu quả của các hoạt động sinh kế mang lại cho người dân?
+ Người dân chủ yếu hoạt động sinh kế nào? Tại sao?
+ Thu nhập của người dân từ các hoạt động sinh kế như thế nào?
+ Khả năng chống chọi với những biến động bên ngoài tác động đến sinh kế
của người dân?
+ Những khó khăn người dân gặp phải trong hoạt động sinh kế?
7. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
7.1. Phương pháp luận
Cơ sở phương pháp luận cho đề tài nghiên cứu là việc vận dụng các lý thuyết
xã hội học vào giải thích các vấn đề gặp phải trong quá trình nghiên cứu. Từ đó
phân tích mối liên hệ giữa lí luận và thực tiễn nhằm làm sáng tỏ mục tiêu và nội
dung nghiên cứu đã đề ra.
Để làm sáng tỏ thực trạng của các hoạt động sinh kế và các nguồn vốn mà
người dân có, các lý thuyết được đưa vào áp dụng như thuyết lựa chọn hợp lý để
tìm hiểu nguyên nhân của hành động xã hội mà người dân lựa chọn để đưa ra các
phương án sinh kế. Ngoài ra, trong đề tài còn sử dụng thuyết cấu trúc chức năng
nhằm tiếp cận đối tượng theo lát cắt của cơ cấu xã hội. Thôn 1 – 5 là là một cụm
dân cư tồn tại với tư cách là một hệ thống xã hội, nằm trong sự quản lí và kiểm
soát của bộ phận quản lí xã hội. Do đó, hộ gia đình cũng tồn tại như một thành
Vốn con người
Vốn xã hội Vốn tự nhiên
Biến phụ thuộc
Vốn vật chất Vốn tài chính
8
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Biến
độc lập
Kết quả sinh kế
- Mức thu nhập
cao hơn
- An ninh lương
thực
- Chất lượng
cuộc sống nâng
cao
Bối cảnh tổn thương
-xu hướng kinh tế, xã
hội và môi trường
-dao động theo thời vụ
-sốc, khủng hoảng
Hoạt động sinh kế
-Luật tục, thể chế
cộng đồng
-Các chính sách
của nhà nước và
pháp luật
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
Sơ đồ1: Khung phân tích sinh kế
(Sử dụng phương pháp tiếp cận sinh kế bền vững)
và khả năng mà con người có được kết hợp với những quyết định và hoạt động
mà họ thực thi nhằm để sống cũng như để đạt được các mục tiêu và ước nguyện
của họ”(DFID). Về cơ bản các hoạt động sinh kế là do mỗi cá nhân hay hộ gia
đình tự quyết định dựa vào năng lực và khả năng của họ và đồng thời chịu tác
động của các thể chế chính sách và các mối quan hệ xã hội và mỗi cá nhân và hộ
gia đình tự thiết lập trong cộng đồng.
* Khái niệm sinh kế bến vững
Khái niệm sinh kế lần đầu tiên được đề cập trong báo cáo Brundland(1987)
tại hội nghị thế giới vì môi trường và phát triển. Một sinh kế được cho là bền
vững khi con người có thể đố phó và khắc phục được những áp lực và cú sốc.
Đồng thời có thể duy trì hoặc nâng cao khả năng và tài sản ở cả hiện tại và trong
tương lai mà không gây tổn hại đến cơ sở các nguồn tài nguyên thiên nhiên.
10
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
* Khái niệm chiến lược sinh kế
Chiến lược sinh kế dùng để chỉ phạm vi và sự kết hợp những lựa chọn và
quyết định mà người dân đưa ra trong việc sử dụng, quản lí các nguồn vốn và tài
sản sinh kế nhằm tăng thu nhập và nâng cao đời sống cũng như để đạt được mục
tiêu nguyện vọng của họ.
* Khái niệm các nguồn vốn sinh kế
Nguồn vốn sinh kế được hiểu như là các điều kiện khách quan và chủ quan
tác động vào một sự vật hiện tượng làm cho nó thay đổi về chất hoặc lượng.
Trong phạm vi đề tài này, các yếu tố về con người, tự nhiên, vật chất, tài chính, xã
hội, các thể chế chính sách mà xã hội quy định. Các nguồn vốn đó được hiểu như
sau:
- Vốn con người: Con người là cơ sở nguồn vốn này. Vốn con người bao gồm
các yếu tố như cơ cấu nhân khẩu của hộ gia đình, kiến thức và giáo dục của các
thành viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc
được kế thừa trong gia đình ), những kĩ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả
của con người trong khuôn khổ phạm vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp”
( chăm lo trái đất )… Phát triển bền vững cũng có thể được hiểu là một sự phát
triển lâu dài, phát triển đi đôi với việc làm phong phú các nguồn vốn sinh kế để từ
đó dẫn đến các tác động tích cực tới đời sống của con người. sự phát triển đó làm
tăng khả năng chống chọi với những cú sốc, tổn thương do con người và tự nhiên
gây ra.
Nói tóm lại quan niệm về sinh kế bền vững đều hướng đến một thế đứng kiềng
3 chân : “ kinh tế - môi trường – xã hội”. Đây cũng được xem là mục tiêu mà con
người hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm phát triển
sai lệch trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con người. Lý
thuyết này được áp dụng trong đề tài để phân tích hoạt động sinh kế của người
dân và xây dựng một mô hình phát triển tiến bộ hơn so với mô hình sinh kế hiện
tại – mô hình sinh kế bấp bênh và thiếu tính bền vững.
12
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
* Quan điểm lý thuyết cấu trúc chức năng
Cơ cấu chức năng được các nhà xã hội học như A. Comte và H. Spencer,
E.Durkheim khởi xướng, sau được các nhà xã hội học hiện đại phát triển thành
một trong những chủ thuyết của xã hội học hiện đại. Chủ thuyết chức năng hay
còn gọi là cấu trúc chức năng được nhắc đến với tính liên kết chặt chẽ của các bộ
phận cấu thành nên một chỉnh thể. Trong hệ thống đó mỗi bộ phận đều có chức
năng nhất định góp phần làm nên sự tồn tại với 2 mặt tĩnh và động, tồn tại trong
sự vận động biến đổi nhưng lại là một thực thể thống nhất trong đa dạng.
H.Spencer đưa thuyết sinh vật học vào để giải thích sự tồn tại của xã hội và cho
rằng xã hội tồn tại như một cơ thể sống, nó có đầy đủ các bộ phận và thực hiện
các chức năng khác nhau trong một cơ thể thống nhất, tiến hóa từ đơn giản đến
phức tạp.
Lý thuyết này sẽ được vận dụng để giải thích các mối quan hệ kinh tế - xã hội
trong đời sống của người dân thôn 1 – 5. Từ đó đưa ra giải thích hợp lí cho lựa
2. Cơ sở thực tiễn khi tiếp cận về vấn đề nghiên cứu
2.1.Đặc điểm địa bàn xã Cẩm Sơn – huyện Anh Sơn
* Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Cẩm Sơn là một xã miền núi nằm ở phía Tây huyện Anh Sơn cách trung
tâm của huyện khoảng 18km. Hiện tại quản lí hành chính của xã thành 15 đội.
với các xã giáp ranh:
Phía bắc giáp xã Đỉnh Sơn
Phía đông giáp xã Hùng Sơn
Phía nam giáp xã Tường Sơn
Phía tây giáp huyện Con Cuông
Xã nằm trên trục đường quốc lộ 7A và nằm sát với dòng sông Lam, bên bờ
kia là xã Hùng Sơn.
- Địa hình:
Xã Cẩm Sơn là một trong những đơn vị hành chính của huyện Anh Sơn nên
những đặc điểm thổ nhưỡng của xã đều có những điểm tương đồng của huyện.
Địa hình của xã chủ yếu là đồi núi thấp xen kẽ với một ít đồng bằng ven sông, địa
hình thoải dần về phía Đông Nam với độ dốc từ 8
0 -
15
0
vùng đồng bằng ven sông
chủ yếu là những bãi bồi ven phù sa chạy dọc theo dòng sông Lam. Xã còn có
vùng núi đá không có rừng cây xen kẽ với đồi núi nằm phía Bắc đây là vùng đất
chưa được khai sử dụng đến của xã.
14
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
- Khí hậu:
Xã Cẩm Sơn cũng như các địa phương khác của huyện đều chịu ảnh hưởng
75,21%.
- Cơ sở vật chất kĩ thuật:
Giao thông:
Hệ thống giao thông của địa phương còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vấn
đề đi lại của người dân, một số thôn bản còn nằm cách trở bởi dòng sông Lam nên
người dân còn phải sử dụng thuyền ghe để phục vụ việc đi lại, ngoài ra còn có
một số thôn nằm trong núi, phải trải qua nhiều dốc, vượt nhiều núi mới đến chỗ
người dân sinh sống. Điểm thuận lợi nhất của địa phương là có đường quốc lộ 7A
chạy qua và phần lớn người dân của xã nằm trên trục đường quốc lộ này nên việc
giao lưu, đi lại giữa các địa phương khác khá thuận tiện.
2.2. Đặc điểm tình hình chung thôn 1 - 5
Thôn 1- 5 là một thôn nằm giữa trung tâm Xã Cẩm Sơn, có đường quốc lộ 7A
chạy qua địa bàn. Thôn có ranh giới hành chính được xác định như sau:
Phía Bắc giáp thôn Hội Lâm
Phía Nam giáp thôn Cẩm Lợi
Phía Đông giáp thôn Cẩm Hòa
Phía Tây giáp thôn Hòa Tiến
Với vị trí địa lý như vậy tạo điều kiện thuận lợi việc giao lưu và thực hiện
các hoạt động thông thương giữa các vùng khác trong thôn.
Tổng diện tích của thôn là chiếm 10,08% diện tích đất tự nhiên của xã Cẩm
Sơn.
- Địa hình:
Thôn có địa hình chủ yếu là đồi núi xen kẽ đồng bằng, hai bên là dốc cao và
giữa là sông Lam. Địa bàn của thôn trải dài theo quốc lộ 7A.
Dạng đồng bằng ven sông: chủ yếu nằm dọc bên bờ sông Lam chiếm 5,4%
diện tích đất tự nhiên. Có khoảng 30% loại đất này bị ngập lụt hằng năm là các
16
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
bãi bồi ven sông chủ yếu được trồng các loại rau màu, cây công nghiệp ngắn
nguồn tài nguyên phát triển ngành nông nghiệp của thôn thích hợp với trồng hoa
màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên hiện nay cần có những biện pháp bảo
vệ tránh lũ lụt, tránh xói mòn như trồng rừng đầu nguồn, trồng rừng ven sông.
17
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
Đất đồi núi: chủ yếu là đất Feralit chiếm 78,2% tổng diện tích đất tự nhiên,
tập trung chủ yếu ở các vùng đồi núi thấp. Đất Feralit bao gồm nhiều loại phong
phú đa dạng phân bố theo địa hình đồi núi và độ cao khác nhau: feralit nâu vàng,
feralit nâu đỏ, feralit đỏ vàng… Đây là nguồn tài nguyên tập trung để phát triển
cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp. Bên cạnh đó hiện tượng chặt phá
rừng nghiêm trọng đã làm cho nguồn tài nguyên này ngày càng bị thoái hóa
nghiêm trọng, vì vậy chính quyền và nhân dân phải có những biện pháp khắc
phục và bảo vệ.
• Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của thôn có khoảng 175,4ha chiếm 58,55% diện
tích đất tự nhiên của thôn và chiếm 3,89% diện tích đất lâm nghiệp của cả xã.
Trong đó, 78,41ha là diện tích rừng sản xuất, đất rừng phòng hộ chiếm 41,57ha,
diện tích đặc dụng chiếm 22,9ha. Tiềm năng về lâm nghiệp của huyện tập trung
khá lớn, đất lâm nghiệp chủ yếu tập trung ở đồi núi thấp, độ dốc nhỏ,thổ dưỡng
tốt. Vì vậy cần phải bảo vệ chăm sóc tốt dể rừng tái sinh nhanh.
Nhận xét:
Với vị trí địa lý, điều kiện tự nhiên thuận lợi, các nguồn tài nguyên và cảnh
quan môi trường cho thấy thôn có nhiều tiềm năng phát triển các ngành kinh tế -
xã hội theo hướng tăng dần tỉ trọng các ngành công nghiệp và dịch vụ.
Điều kiện đất đai phù hợp với nhiều loại cây trồng cho phép phát triển
ngành nông – lâm nghiệp đa dạng và phát triển ngành công nghiệp chế biến làm
cơ sở cho CNH – HĐH trên địa bàn thôn.
Tuy nhiên thôn cũng còn gặp phải nhiều khó khăn trong quá trình phát
triển kinh tế xã hội. Diện tích với ¾ là dồi núi, địa hình dốc bị chia cắt nhiều gây
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
SINH KẾ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN
19
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
1. Các nguồn vốn sinh kế của thôn 1 – 5
Các tài sản sinh kế là nền tảng của cuộc sống cộng đồng, việc lựa chọn và
quyết định các hoạt đông sinh kế tạo thu nhập có mối quan hệ chặt chẽ với các
yếu tố chủ quan và khách quan, người dân tùy thuộc vào việc sử dụng vào nguồn
vốn và lựa chọn những phương thức sinh kế cho mình tạo ra kết quả sinh kế. Từ
đó kết quả sinh kế tác động ngược trở lại việc nắm giữ, xây dựng và sử dụng các
nguồn vốn, các yếu tố để phát triển hoạt động sinh kế, chống chọi những tổn
thương và những cú sốc. Nhằm trả lời cho vấn đề về khả năng có các nguồn vốn
sẵn có khác nhau, việc sử dụng nguồn vốn và mối quan hệ của chúng với việc lựa
chọn hoạt động sinh kế tạo ra kết quả sinh kế, đề mục này sẽ trình bày từng lĩnh
vực nghiên cứu mang tính phân tích, mô tả, so sánh.
Các nguồn lực sinh kế bao gồm: nguồn vốn con người – “ trình độ học vấn, kĩ
năng, sức khỏe, kiến thức…” , nguồn vốn xã hội – “mạng lưới xã hội và các mối
quan hệ xã hội” , nguồn vốn tài chính – “ tiền mặt, tín dụng, tiền vay vốn, tiền tiết
kiệm,…” , nguồn vốn vật chất – “ cơ sở hạ tầng, tài sản trong gia đình, công cụ
lao động…” , nguồn vốn tự nhiên – “đất đai, khí hậu, nguồn nước, tài nguyên…” ,
chính sách thể chế và những bối cảnh tổn thương khác. Những nguồn vốn sinh kế,
chính sách thể chế và những bối cảnh tổn thương có tác động rất lớn đối với hoạt
động sinh kế của người dân vì nó quyết định tới sự lựa chọn đến chiến lược sinh
kế riêng của họ.
1.1. Nguồn vốn con người
Nguồn vốn con người được xem như là một nguồn vốn quan trọng nhất trong
chiến lược phát triển sinh kế, con người là một chủ thể tạo ra các hoạt động sinh
kế. Đồng thời, các thành tố thuộc về con người như: sức khỏe, kiến thức, kĩ năng,
nhận thức đóng vai trò quan trọng trong việc hoạch định và phát triển chiến lược
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
trong tổng dân số của thôn là mù chữ. 20,2% học hết cấp 1, 35,7% học hết cấp 2.
Có 39,1% dân số học hết cấp 3. Và 5,0% dân số có trình độ đại học, cao đẳng.
H.2. Biểu đồ trình độ học vấn của người dân thôn 1 - 5
(Nguồn: Số liệu phân tích từ ban mặt trận thôn)
Qua biểu đồ trên, nhìn chung trình độ học vấn của người dân khá cao, tỉ lệ
người có trình độ chiếm chủ yếu trong tổng dân số của thôn. Chính trình độ học
vấn cao như vậy nên khả năng lựa chọn nghề nghiệp cũng như lựa chọn kế sinh
nhai của người dân được đảm bảo và ngày càng được cải thiện về cuộc sống trong
gia đình nói riêng, và cộng đồng thôn nói chung. Tuy nhiên, với mức trình độ như
vậy so với thực tế ngoài xã hội hiện nay thì người dân khó có thể tìm kiếm được
một công việc có mức thu nhập cao khi mà xã hội ngayd càng hiện đại và đòi hỏi
cao nguồn lao động trí tuệ, có trình độ chuyên môn. Vì vậy, người dân buộc phải
lựa chọn những công việc thiên về tính chất lao động chân tay, đòi hỏi sức lực dồi
dào, kĩ năng thấp mà ít đòi hỏi trình độ những công việc ấy.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dân có trình độ ở mức chưa
cao. Nguyên nhân chủ yếu là hiện tại dân số trong thôn trước đây xuất thân từ
những gia đình thuần nông nhưng đời sống gặp nhiều khó khăn nên không có
điều kiện học hành nâng cao dân trí, tuy nhiên trong những năm trở lại đây, các
bậc cha mẹ đã ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ cho con em
mình, họ ý thức được chính trình độ dân trí thấp là nguyên nhân dẫn tới tình trạng
22
Báo cáo thực tập tốt nghiệp
Nguyễn Đức Minh XHH K31 – ĐHKH Huế
nghèo đói. Vì thế tất cả các gia đình trong thôn đều cho con cái mình đi học, với
mục đích nâng cao trình độ cho thế hệ tương lai, tạo nguồn nhân lực có trình độ
có chuyên môn nhằm phục vụ quê hương và đất nước.
Có thể nói hiện tại về nguồn vốn con người, sức khỏe của người dân hiện
đang là yếu tố chủ đạo quyết định hiệu quả của các hoạt động sinh kế. Mặc dù tỉ
lệ dân số trong thôn có 90,4% làm trong ngành nông nghiệp nhưng đời sống của
Với đặc điểm đời sống của người dân còn mang đậm cộng động làng xã của
Việt Nam nên người dân trong thôn sống trong mối quan hệ cộng đồng gắn bó,
cùng sống trong một môi trường, cùng có những hoạt động sinh kế giống nhau,
cho nên họ thành lập lại những nhóm hội như: hội trồng chè, hội trồng dưa hấu,
hội nghề cá… nhằm bảo vệ quyền lợi cũng như cùng nhau chia sẻ những kinh
nghiệm trong cách làm ăn, chia sẻ giúp đỡ với nhau trong hoạn nạn, khó khăn.
Theo thống kê, có 100% người dân tham gia vào hội phụ nữ, 100% số người
trong độ tuổi thanh niên tham gia vào đoàn thanh niên, 100% các hộ gia đình
tham gia vào hội trồng chè của thôn. Sở dĩ, tất cả người dân đều tham gia vào các
tổ chức đoàn thể như vậy vì người dân được hỏi cho rằng khi họ tham gia vào các
tổ chức như vậy sẽ được hưởng các quyền lợi từ các tổ chức ấy như được tham
gia các buổi tập huấn về các phương thức làm ăn, được hoạt động vui chơi, phong
trào ở địa phương trong những ngày lễ, ngày hội…vv. Bên cạnh việc người dân
tham gia vào các tổ chức chính thức nêu trên thì một số bộ phận người dân mà
chủ yếu là những hưu trí trong thôn tham gia vào các “Phường” với số lượng từ 5
– 7 người nhằm mục đích gửi tiền tiết kiệm rút theo từng quý, với hình thức này
cứ trong 3 tháng thì người dân khi tham gia vào hội phường sẽ tiết kiệm được số
tiền từ 5 – 7 triệu đồng.
Ở mức độ mạng lưới xã hội rộng hơn, thôn được sự quan tâm của chính quyền
UBND xã và được hưởng những hỗ trợ của các chương trình quốc gia 135 giai
đoạn 2001 – 2005. Và giai đoạn từ năm 2006 – 2010. Bên cạnh đó, người dân còn
được hưởng các quyền lợi từ các dịch vụ hỗ trợ cứu đói thường niên của nhà nước
như: chương trình hỗ trợ người dân trong các đợt tết về tiền của và lương thực.
Có thể nói người dân khi tham gia vào mạng lưới xã hội, và nằm trong các
mối quan hệ ấy, đương nhiên các hoạt động sinh kế của thôn chịu sự tác động từ
bối cảnh thể chế của nguồn vốn xã hội. Mối quan hệ cộng đồng mặc dù không
ảnh hưởng trực tiếp nhưng có vai trò gián tiếp ảnh hưởng tới các hoạt động sinh
kế của người dân với tư cách là một nguồn vốn xã hội.
1.3. Nguồn vốn tự nhiên
Báo cáo thực tập tốt nghiệp