đánh giá hoạt động sinh kế của người dân miền núi thôn 1-5 nghệ an - Pdf 25

A. PHẦN MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sinh kế bền vững đang là một mối quan tâm đặt lên hàng đầu hiện nay của con
người. Nó là điều kiện cần thiết cho quá trình phát triển, nâng cao đời sống của con
người nhưng vẫn đáp ứng được đòi hỏi về chất lượng môi trường tự nhiên. Trên
thực tế đã có nhiều chương trình, tổ chức dự án hỗ trợ cho cộng đồng để hướng đến
mục tiêu phát triển ổn định và bền vững. Thực tế cho thấy, việc lựa chọn những hoạt
động sinh kế của người dân chịu ảnh hưởng rất lớn từ nhiều yếu tố: điều kiện tự
nhiên, xã hội, yếu tố con người, vật chất, cơ sở hạ tầng Việc đánh giá hiệu quả các
hoạt động sinh kế giúp chúng ta hiểu rõ được những phương thức sinh kế của người
dân có phù hợp với các điều kiện của địa phương hay không. Các hoạt động sinh kế
đó có bền vững, phát triển lâu dài và ổn định.
Trong những năm qua tại thôn 1 – 5 có những hoạt động sinh kế mới, đạt năng
suất và hiệu quả khá lớn, rất phù hợp với tình hình và điều kiện tự nhiên của địa
phương, góp phần làm phong phú những phương thức sinh kế của người dân. Vì vậy
đây là cơ sở cho việc xây dựng một mô hình phát triển kinh tế, thu nhập cho người
dân miền núi thôn 1 – 5 nói riêng cũng như người dân khác trong địa bàn sống ở
miền núi khác trong tỉnh nói chung.
Xuất phát từ tực tế đó, tôi tiến hành nghiên cứu đề tài “Đánh giá hoạt động
sinh kế của người dân miền núi thôn 1 – 5” ( khảosát tại thôn 1 – 5 – xã Cẩm Sơn –
huyện Anh Sơn – tỉnh Nghệ An ).
2. Tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu khoa học, bài viết đi sâu
phân tích về hoạt động sinh kế của người dân, đặc biệt chú ý đến đời sống của cư
dân nghèo khổ. Ý tưởng nghiên cứu về sinh kế xuất hiện nhiều trong các công trình
nghiên cứu của các tác giả như: Doward, F.Eliss, Morrison Các tác giả đều cho
rằng khái niệm sinh kế bao hàm nhiều yếu tố ảnh hưởng đến đời sống của cá nhân
cũng như từng hộ gia đình. Hiện nay, các đề tài liên quan đến hoạt động sinh kế và
1
bàn về cách thức để xây dựng mô hình sinh kế bền vững cũng vô cùng phong phú.
Những câu hỏi tại sao, phải làm như thế nào vẫn đang tìm câu trả lời. Làm thế nào

Thừa Thiên Huế, đề tài này nghiên cứu về lĩnh vực nông nghiệp phát triển nông
thôn, bảo tồn đa dạng sinh học. Đặc biệt đi sâu vào nghiên cứu tìm hiểu phương
thức sinh kế của người dân, phân tích các nguồn vốn về con người, và nguồn vốn
tự nhiên, các khả năng sử dụng nguồn đất sẵn có và những nguồn tài nguyên khác
như: tài nguyên nước, tài nguyên rừng, tác động đến hoạt động sinh kế của người
dân. Ngoài ra, đề tài cũng vẽ nên một bức tranh về cuộc sống của người dân qua
các chỉ báo về thu nhập, cơ cấu chi tiêu, tình hình giáo dục y tế, tình hình kinh tế -
xã hội tại địa phương.
3. Mục tiêu nghiên cứu
3.1. Mục tiêu chung
Tìm hiểu, phân tích các hoạt động sinh kế của người dân miền núi. Qua đó
xem xét và rút ra những phương thức, tập quán trong lao động sản xuất của người
dân nhằm tìm ra một số giải pháp khả thi cho chiến lược sinh kế bền vững phù hợp
với điều kiện của cư dân tại địa phương.
3.2. Mục tiêu cụ thể
+ Phân tích các nguồn lực như: tự nhiên, xã hội, con người, tài chính,
cơ sở hạ tầng…tác động đến hoạt động sinh kế của người dân.
+ Tìm hiểu các nguồn lực mà người dân ở đây có thể tận dụng được để
tiếp cận và sử dụng nó vào hoạt động sinh kế của mình.
+ Tìm hiểu hiệu quả của các hoạt động sinh kế đó mang lại lợi ích gì
cho người dân.
+ Tìm hiểu xem những khó khăn trở ngại trong hoạt đông sinh kế của
người dân.
+ Đề xuất giải pháp, khuyến nghị để duy trì phát triển các mô hình ở địa
phương.
3
4. Đối tượng, khách thể, phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
+ Hoạt động sinh kế của người dân thôn 1-5 Cẩm Sơn
4.2. Khách thể nghiên cứu

dung nghiên cứu đã đề ra.
Để làm sáng tỏ thực trạng của các hoạt động sinh kế và các nguồn vốn mà
người dân có, các lý thuyết được đưa vào áp dụng như thuyết lựa chọn hợp lý để
tìm hiểu nguyên nhân của hành động xã hội mà người dân lựa chọn để đưa ra các
phương án sinh kế. Ngoài ra, trong đề tài còn sử dụng thuyết cấu trúc chức năng
nhằm tiếp cận đối tượng theo lát cắt của cơ cấu xã hội. Thôn 1 – 5 là là một cụm
dân cư tồn tại với tư cách là một hệ thống xã hội, nằm trong sự quản lí và kiểm
soát của bộ phận quản lí xã hội. Do đó, hộ gia đình cũng tồn tại như một thành
phần của hệ thống và chịu tác động của môi trường xung quanh. Việc lựa chọn
các phương thức sinh kế phù hợp với nguồn vốn sinh kế mà họ có, bối cảnh của
họ đang sống và lựa chọn có mang lại hiệu quả kinh tế cao, thu nhập có ổn định
và cuộc sống có ổn định hay không. Để qua đó, xây dựng mối liên hệ tác động
qua lại giữa các biến số phục vụ cho đề tài nghiên cứu.
7.2. Phương pháp hệ
* Phương pháp phân tích tài liệu:
Trong quá trình thực tập tôi sẽ đọc, nghiên cứu tài liệu liên quan đến các
số liệu về vấn đề mức thu nhập, số liệu liên quan đến năng suất từ các hoạt động
sản xuất. Đồng thời, thu thập thông tin thứ cấp từ các nguồn tài liệu, các công
trình nghiên cứu liên quan đến nội dung đề tài, các dữ liệu từ báo cáo của địa
phương, nguồn thông tin khai thác từ sách báo, internet, phối kết hợp tổng quan
5
các tài liệu sẵn có với các kết quả khảo sát, các số liệu thống kê từ UBND xã, các
sơ quan chức năng.
* Phương pháp phỏng vấn cá nhân:
Trong quá trình thực tập tôi sẽ tiến hành phỏng vấn các đồng chí bên lãnh
đạo thôn, xã, một số người dân làm ăn giỏi tiêu biểu để tìm hiểu về vấn đề sinh kế
của người dân.
* Phương pháp quan sát:
Tôi sẽ tiến hành quan sát một số mô hình địa hình về các hoạt động sinh kế
ở thôn 1/5 nhằm thu thập thông tin bổ sung phân tích hoạt động sinh kế của người

-Các chính sách
của nhà nước và
pháp luật
9.1. Ý nghĩa lí luận
+ Đây là một đề tài mới nghiên cứu về vấn đề sinh kế của người dân miền
núi tại địa phương vì vậy đây sẽ là cơ sở để xây dựng nền móng cho các cuộc
nghiên cứu sau này khi nghiên cứu đến các hoạt động sinh kế
+ Đề tài góp phần làm rõ một số vấn đề trong hoạt động sinh kế của người dân
miền núi, hiệu quả của các hoạt động sinh kế ấy mang lại.
+ Bổ sung một số lý thuyết về hoạt động sinh kế, đóng góp một mẫu nghiên
cứu xã hội học làm sáng tỏ thực trạng sinh kế, đồng thời tìm hiểu đời sống hiện
nay của người dân nơi đây.
9.2. Ý nghĩa thực tiễn
+ Đáp ứng mục đích ứng dụng, nhân rộng mô hình xóa đói giảm nghèo, phát
triển nông thôn của người dân miền núi
+ Đóng góp kiến nghị những giải pháp khả thi cho chiến lược sinh kế bền
vững của người dân miền núi thôn 1 – 5 hiện nay.
+ Đóng góp một mô hình sinh kế bền vững cho chiến lược sinh kế bền vững
khu vực miền núi đang chuyển biến về tỉ trọng cơ cấu ngành trong nông nghiệp ở
Việt Nam hiện nay.
8
B. NỘI DUNG
CHƯƠNG I : CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN
1. Cơ sở lí luận khi tiếp cận vấn đề nghiên cứu
1.1. Các khái niệm liên quan
Theo DIFID sinh kế bao gồm 3 thành tố chính: nguồn lực và khả năng con
người có được, chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế. có quan niệm cho rằng sinh
kế không đơn thuần chỉ là vấn đề kiếm sống, kiếm miếng ăn và nơi ở. Mà nó còn
đề cập đến vấn đề tiếp cận các quyền sở hữu, thông tin, kĩ năng, các mối quan
hệ…(Wallmann, 1984). Sinh kế cũng được xem như là “sự tập hợp các nguồn lực

trọng nhất vì nó quyết định khả năng một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và
quản lí các nguồn vốn khác.
- Vốn xã hội: Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ hàng,
người xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn
hóa, các tổ chức xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con
người tham gia để có được những lợi ích và cơ hội khác nhau… Việc con người
tham gia vào xã hội và sử dụng nguồn vốn nàynhuw thế nào cũng tác động không
nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của họ. Vốn xã hội được duy trì, phát triển và
tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong muốn như khả năng tiếp cận và
huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ thông tin, kiến thức hay các
giá trị chuẩn mực. Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích lũy trong quá trình xã
hội hóa của họ thông qua sự tương tác giữa cá các cá nhân.
1.2. Các lí thuyết áp dụng
* Quan điểm phát triển bền vững
10
Đây là một quan điểm thuộc xã hội hiện đại khi quan niệm về phát triển không
đơn thuần chỉ la sự tăng trưởng về mặt kinh tế. lý thuyết này ra đời sau một thời
gian dài, sự phát triển được hiểu thiên lệch là sự tăng trưởng về mạt kinh tế đã gây
nên những hậu quả nặng nề: sự phân hóa giàu nghèo một cách sâu sắc, biến đổi
khí hậu, môi trường bị tàn phá nặng nề, sự nóng dần lên của trái đất…những hậu
quả ấy do bởi những hoạt động phát triển của con người.
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường
những năm 70 của thế kỉ XX và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Phát
triển bền vững được hiểu như là “ sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn
hại đến khả năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của bản thân
họ” ( Báo cáo Bruland, 1987). Hoặc là “ sự cải thiện chất lượng cuộc sống của
con người trong khuôn khổ phạm vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp” ( chăm lo
trái đất )… Phát triển bền vững cũng có thể được hiểu là một sự phát triển lâu dài,
phát triển đi đôi với việc làm phong phú các nguồn vốn sinh kế để từ đó dẫn đến
các tác động tích cực tới đời sống của con người. sự phát triển đó làm tăng khả

tại với vai trò và chức năng riêng song đều nằm trong mỗi liên kết chặt chẽ với
những mối quan hệ hàng xóm láng giềng thân thích và môi trường sống xung
quanh.
* Quan điểm lý thuyết lựa chọn hợp lý
Lý thuyết lựa chọn hợp lý có nguồn gốc từ triết học, kinh tế học, nhân học thế
kỷ XVIII – XIX đại diện là các nhà xã hội học như : G.Simmel, Hormans,
J.Elster. Thuyết lựa chọn hợp lý dựa vào việc cho rằng con người luôn hành động
có chủ đích với những hành động xã hội. Khi làm việc gì, người ta cũng suy nghĩ
để lựa chọn phương án nhằm sử dụng các nguồn lực có được để đạt được kết quả
tối đa với chi phi thấp nhất. Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh sự
cân nhắc, tính toán để quyết định sử dụng phương tiện tối ưu nào mà đạt được kết
quả cao trong một điều kiện nguồn lực khan hiếm. Bắt nguồn từ việc vận dụng
quy luật này để giải thích các hiện tượng kinh tế, các nhà xã hội học áp dụng vào
nhằm giải thích các hành động xã hội. Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài
nghiên cứu để giải thích cho việc tại sao người dân ở địa bàn nghiên cứu lại lựa
12
chọn phương thức sinh kế hiện tại mà không phải lựa chọn phương thức sinh kế
khác, với lựa chọn phương thức đó liệu họ có đạt được hiệu quả tối đa trong cuộc
sống hay không. Ngoài ra quan điểm về lụa chọn hợp lý sẽ được lồng ghép phân
tích và vận dụng trong việc đưa ra các giải pháp cho một chiến lược sinh kế bền
vững.
2. Cơ sở thực tiễn khi tiếp cận về vấn đề nghiên cứu
2.1.Đặc điểm địa bàn xã Cẩm Sơn – huyện Anh Sơn
* Điều kiện tự nhiên
- Vị trí địa lý:
Cẩm Sơn là một xã miền núi nằm ở phía Tây huyện Anh Sơn cách trung
tâm của huyện khoảng 18km. Hiện tại quản lí hành chính của xã thành 15 đội.
với các xã giáp ranh:
Phía bắc giáp xã Đỉnh Sơn
Phía đông giáp xã Hùng Sơn

triển hoạt động sinh kế của người dân,đặc biệt là người dân thuần nông chuyên về
sản xuất nông nghiệp. Nhưng bù lại từ tháng 6 đến tháng 8 là những tháng mưa
nhiều với lượng mưa từ khoảng 1415 – 1436 mm tạo điều kiện cho các hoạt động
tưới tiêu trong sản xuất nông nghiệp. Nhưng nói chung với nhiệt độ này là điều
kiện thuận lợi cho phát triển của cây chè, nhất là một số giống chè đặc sản của
vùng.
* Điều kiện kinh tế xã hội
- Tình hình nhân khẩu của xã:
Trong những năm qua dân số và lao động của xã tương đối ổn định, có
tăng trưởng nhưng tốc độ không nhanh đây là dấu hiệu đáng mừng đối với với địa
phương miền núi. Số lao động dành cho nông nghiệp giảm với mức độ trung bình
14
trên 3%, lao động khu vực phi nông nghiệp tăng lên với tốc độ trung bình đạt trên
18% nhưng mức độ tuyệt đối không cao. Cụ thể năm 2008 tổng dân số 5468
người tăng lên so với năm 2007 là 0,83%. Vào năm 2009 tỷ lệ tăng lên 0,89%.
Dân số của địa phương chủ yếu hoạt động trong nông nghiệp chiếm 80% tổng dân
số, năm 2009 lượng khẩu trong nông nghiệp giảm còn 76,4% vào năm 2010 là
75,21%.
- Cơ sở vật chất kĩ thuật:
Giao thông:
Hệ thống giao thông của địa phương còn gặp nhiều khó khăn, nhất là vấn
đề đi lại của người dân, một số thôn bản còn nằm cách trở bởi dòng sông Lam nên
người dân còn phải sử dụng thuyền ghe để phục vụ việc đi lại, ngoài ra còn có
một số thôn nằm trong núi, phải trải qua nhiều dốc, vượt nhiều núi mới đến chỗ
người dân sinh sống. Điểm thuận lợi nhất của địa phương là có đường quốc lộ 7A
chạy qua và phần lớn người dân của xã nằm trên trục đường quốc lộ này nên việc
giao lưu, đi lại giữa các địa phương khác khá thuận tiện.
2.2. Đặc điểm tình hình chung thôn 1 - 5
Thôn 1- 5 là một thôn nằm giữa trung tâm Xã Cẩm Sơn, có đường quốc lộ 7A
chạy qua địa bàn. Thôn có ranh giới hành chính được xác định như sau:

khô hanh là nguyên nhân gây hạn hán, lũ lụt, xói mòn bồi lấp và hủy hoại đất.
Nhiệt độ trung bình của các tháng trong năm thường vào khoảng 22
0
- 28
0
với độ
ẩm trung bình dao động 84% trong nhiều năm. Với điều kiện khí hậu thuận lợi như
vậy cho phép phát triển sản xuất nông nghiệp đặc biệt là cây chè.
16
- Các loại tài nguyên
• Tài nguyên đất
Tài nguyên đất của thôn khá phong phú và đa dạng nhưng chủ yếu là đất
phù sa và đất đồi núi.
Đất phù sa: bao gồm các bãi bồi ven sông, đất phù sa được bồi tụ hằng
năm. Loại đất này có diện tích lớn chiếm khoảng 18,2% tổng diện tích đất tự
nhiên, tập trung chủ yếu hai bên các con sông và dưới các chân núi thấp. Đây là
nguồn tài nguyên phát triển ngành nông nghiệp của thôn thích hợp với trồng hoa
màu, cây công nghiệp ngắn ngày. Tuy nhiên hiện nay cần có những biện pháp bảo
vệ tránh lũ lụt, tránh xói mòn như trồng rừng đầu nguồn, trồng rừng ven sông.
Đất đồi núi: chủ yếu là đất Feralit chiếm 78,2% tổng diện tích đất tự nhiên,
tập trung chủ yếu ở các vùng đồi núi thấp. Đất Feralit bao gồm nhiều loại phong
phú đa dạng phân bố theo địa hình đồi núi và độ cao khác nhau: feralit nâu vàng,
feralit nâu đỏ, feralit đỏ vàng… Đây là nguồn tài nguyên tập trung để phát triển
cây ăn quả, cây công nghiệp và cây lâm nghiệp. Bên cạnh đó hiện tượng chặt phá
rừng nghiêm trọng đã làm cho nguồn tài nguyên này ngày càng bị thoái hóa
nghiêm trọng, vì vậy chính quyền và nhân dân phải có những biện pháp khắc
phục và bảo vệ.
• Tài nguyên rừng
Diện tích đất lâm nghiệp của thôn có khoảng 175,4ha chiếm 58,55% diện
tích đất tự nhiên của thôn và chiếm 3,89% diện tích đất lâm nghiệp của cả xã.

nhiên, việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế trong nông nghiệp còn chậm và chưa đáp
ứng yêu cầu phát triển của thôn, chưa hình thành các vùng chuyên canh có quy
mô lớn mang tính sản xuất hàng hóa, việc áp dụng tiến bộ khoa học kĩ thuật
trong công tác khuyến nông khuyến ngư phục vụ sản xuất nông nghiệp chưa đáp
ứng nhu cầu phát triển và tiềm năng của thôn.
18
Ngành thương mại dịch vụ trên địa bàn thôn chủ yếu phát triển các hệ
thống chợ và buôn bán nhỏ lẻ của hộ nông dân. Ngành dịch vụ của thôn chủ yếu
là dịch vụ tiêu dùng và dịch vụ sản xuất nông nghiệp. Vì vậy cần phải kích thích
phát triển sản xuất mở rộng thêm nhiều ngành dịch vụ mới đáp ứng đươc nhu
cầu đời sống sinh hoạt sản xuất.
CHƯƠNG II
PHÂN TÍCH VÀ ĐÁNH GIÁ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN HOẠT ĐỘNG
SINH KẾ VÀ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN
1. Các nguồn vốn sinh kế của thôn 1 – 5
Các tài sản sinh kế là nền tảng của cuộc sống cộng đồng, việc lựa chọn và
quyết định các hoạt đông sinh kế tạo thu nhập có mối quan hệ chặt chẽ với các
yếu tố chủ quan và khách quan, người dân tùy thuộc vào việc sử dụng vào nguồn
vốn và lựa chọn những phương thức sinh kế cho mình tạo ra kết quả sinh kế. Từ
đó kết quả sinh kế tác động ngược trở lại việc nắm giữ, xây dựng và sử dụng các
nguồn vốn, các yếu tố để phát triển hoạt động sinh kế, chống chọi những tổn
thương và những cú sốc. Nhằm trả lời cho vấn đề về khả năng có các nguồn vốn
19
sẵn có khác nhau, việc sử dụng nguồn vốn và mối quan hệ của chúng với việc lựa
chọn hoạt động sinh kế tạo ra kết quả sinh kế, đề mục này sẽ trình bày từng lĩnh
vực nghiên cứu mang tính phân tích, mô tả, so sánh.
Các nguồn lực sinh kế bao gồm: nguồn vốn con người – “ trình độ học vấn, kĩ
năng, sức khỏe, kiến thức…” , nguồn vốn xã hội – “mạng lưới xã hội và các mối
quan hệ xã hội” , nguồn vốn tài chính – “ tiền mặt, tín dụng, tiền vay vốn, tiền tiết
kiệm,…” , nguồn vốn vật chất – “ cơ sở hạ tầng, tài sản trong gia đình, công cụ

Số con trung bình của các hộ là 3,2 con, với tình hình như vậy thì việc đầu tư
cho con cái cả mặt vật chất lẫn trí tuệ trong địa bàn thôn khá thuận lợi và không
gặp những trở ngại đáng kể trong vấn đề nâng cao chất lượng cuộc sống. Theo
thống kê số liệu cho biết, lứa tuổi thanh thiếu niên hiện tại có trình độ khá cao và
đồng đều có tới 98,9% được đi học hết cấp 3 và trong tổng số thanh niên trên địa
bàn thôn có khoảng 30% hiện đang có trình độ cao đẳng và đại học. Chỉ có 0,4%
trong tổng dân số của thôn là mù chữ. 20,2% học hết cấp 1, 35,7% học hết cấp 2.
Có 39,1% dân số học hết cấp 3. Và 5,0% dân số có trình độ đại học, cao đẳng.
21
H.2. Biểu đồ trình độ học vấn của người dân thôn 1 - 5
(Nguồn: Số liệu phân tích từ ban mặt trận thôn)
Qua biểu đồ trên, nhìn chung trình độ học vấn của người dân khá cao, tỉ lệ
người có trình độ chiếm chủ yếu trong tổng dân số của thôn. Chính trình độ học
vấn cao như vậy nên khả năng lựa chọn nghề nghiệp cũng như lựa chọn kế sinh
nhai của người dân được đảm bảo và ngày càng được cải thiện về cuộc sống trong
gia đình nói riêng, và cộng đồng thôn nói chung. Tuy nhiên, với mức trình độ như
vậy so với thực tế ngoài xã hội hiện nay thì người dân khó có thể tìm kiếm được
một công việc có mức thu nhập cao khi mà xã hội ngayd càng hiện đại và đòi hỏi
cao nguồn lao động trí tuệ, có trình độ chuyên môn. Vì vậy, người dân buộc phải
lựa chọn những công việc thiên về tính chất lao động chân tay, đòi hỏi sức lực dồi
dào, kĩ năng thấp mà ít đòi hỏi trình độ những công việc ấy.
Có nhiều nguyên nhân dẫn đến tình trạng người dân có trình độ ở mức chưa
cao. Nguyên nhân chủ yếu là hiện tại dân số trong thôn trước đây xuất thân từ
những gia đình thuần nông nhưng đời sống gặp nhiều khó khăn nên không có điều
kiện học hành nâng cao dân trí, tuy nhiên trong những năm trở lại đây, các bậc
cha mẹ đã ý thức được tầm quan trọng của việc nâng cao trình độ cho con em
mình, họ ý thức được chính trình độ dân trí thấp là nguyên nhân dẫn tới tình trạng
nghèo đói. Vì thế tất cả các gia đình trong thôn đều cho con cái mình đi học, với
22
mục đích nâng cao trình độ cho thế hệ tương lai, tạo nguồn nhân lực có trình độ

kết, quan hệ hàng xóm, láng giềng thắm thiết do ở cạnh nhà nhau, mọi người
thường xuyên giúp đỡ, chia sẻ với nhau những lúc khó khăn, bệnh tật.
Với đặc điểm đời sống của người dân còn mang đậm cộng động làng xã của
Việt Nam nên người dân trong thôn sống trong mối quan hệ cộng đồng gắn bó,
cùng sống trong một môi trường, cùng có những hoạt động sinh kế giống nhau,
cho nên họ thành lập lại những nhóm hội như: hội trồng chè, hội trồng dưa hấu,
hội nghề cá… nhằm bảo vệ quyền lợi cũng như cùng nhau chia sẻ những kinh
nghiệm trong cách làm ăn, chia sẻ giúp đỡ với nhau trong hoạn nạn, khó khăn.
Theo thống kê, có 100% người dân tham gia vào hội phụ nữ, 100% số người
trong độ tuổi thanh niên tham gia vào đoàn thanh niên, 100% các hộ gia đình
tham gia vào hội trồng chè của thôn. Sở dĩ, tất cả người dân đều tham gia vào các
tổ chức đoàn thể như vậy vì người dân được hỏi cho rằng khi họ tham gia vào các
tổ chức như vậy sẽ được hưởng các quyền lợi từ các tổ chức ấy như được tham
gia các buổi tập huấn về các phương thức làm ăn, được hoạt động vui chơi, phong
trào ở địa phương trong những ngày lễ, ngày hội…vv. Bên cạnh việc người dân
tham gia vào các tổ chức chính thức nêu trên thì một số bộ phận người dân mà
chủ yếu là những hưu trí trong thôn tham gia vào các “Phường” với số lượng từ 5
– 7 người nhằm mục đích gửi tiền tiết kiệm rút theo từng quý, với hình thức này
cứ trong 3 tháng thì người dân khi tham gia vào hội phường sẽ tiết kiệm được số
tiền từ 5 – 7 triệu đồng.
Ở mức độ mạng lưới xã hội rộng hơn, thôn được sự quan tâm của chính quyền
UBND xã và được hưởng những hỗ trợ của các chương trình quốc gia 135 giai
đoạn 2001 – 2005. Và giai đoạn từ năm 2006 – 2010. Bên cạnh đó, người dân còn
được hưởng các quyền lợi từ các dịch vụ hỗ trợ cứu đói thường niên của nhà nước
như: chương trình hỗ trợ người dân trong các đợt tết về tiền của và lương thực.
24
Có thể nói người dân khi tham gia vào mạng lưới xã hội, và nằm trong các
mối quan hệ ấy, đương nhiên các hoạt động sinh kế của thôn chịu sự tác động từ
bối cảnh thể chế của nguồn vốn xã hội. Mối quan hệ cộng đồng mặc dù không
ảnh hưởng trực tiếp nhưng có vai trò gián tiếp ảnh hưởng tới các hoạt động sinh


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status