ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ
MÒ Ó HUYỆN ĐAKRÔNG TỈNH QUẢNG TRỊ
PHẠM THỊ TIÊN AN
1
1
Khóa học: 2012 - 2016
2
2
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
KHOA KINH TẾ PHÁT TRIỂN
------------------
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Đề tài:
ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG SINH KẾ CỦA NGƯỜI DÂN XÃ
Huế, tháng 05 năm 2016
Sinh viên
Phạm Thị Tiên An
5
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT VÀ KÝ HIỆU
1.
2.
3.
4.
5.
6.
7.
DFID
CSHT
UBND
LĐTBXH
THCS
TLSX
CNH-HĐH
Department for International Development
Cơ sở hạ tầng
Ủy ban nhân dân
Lao động thương binh xã hội
Trung học cơ sở
là hết sức cần thiết. Xuất phát từ thực tế đó, tôi đã chọn đề tài: “Đánh giá hoạt
động sinh kế của người dân xã Mò Ó, huyện Đakrông, Tỉnh Quảng Trị”.
Mục tiêu chính của đề tài là hệ thống hóa các vấn đề lý luận và thực tiễn
về các khái niệm, các chủ trương, chính sách hộ trợ phát triển sinh kế, học hỏi
kinh nghiệm các mô hình sunh kế của một số nước trên thế giới và một số địa
phương trong nước. Tìm hiểu các hoạt động sinh kế của người dân, tìm ra
những yếu tố tác động đến việc phát triển sinh kế hộ. Từ đó, nghiên cứu, tìm ra
những giải pháp chủ yếu nhằm phát triển sinh kế cho các hộ dân trên địa bàn xã
Mò Ó.
9
Để thực hiện nghiên cứu đề tài này, tôi phải thu thập những số liệu thứ
cấp như tình hình kinh tế xã hội, tình hình phát triển các mô hình sinh kế của
huyện, của xã và các sách báo.... dữ liệu phục vụ cho việc phân tích, đánh giá
tình hình, kết quả các mô hình sinh kế được thu thập qua quá trình điều tra
phỏng vấn 60 hộ dân trên địa bàn xã, trong đó có 25 hộ là người dân tộc Kinh
và 35 hộ là người dân tộc Vân Kiều.
Nhằm mục đích tìm hiểu các hoạt động sản xuất, thực trạng các nguồn
vốn sinh kế và sự hỗ trợ từ các chương trình dự án tại địa phương tôi sử dụng
phương pháp điều tra phỏng vấn đến các hộ dân để thu thập thông tin, phương
pháp thu thập số liệu thứ cấp, phương pháp tổng hợp, so sánh, phân tích... để
đánh giá đúng tình hình thực hiện các hoạt động tạo sinh kế của người dân.
Quá trình nghiên cứu đề tài này sẽ cho thấy tình hình sản xuất tạo phát
triển đời sống, các nguồn vốn sinh kế của người dân cũng như các yếu tố ảnh
hưởng đến việc phát triển đời sống của các hộ dân trên địa bàn xã Mò Ó, huyện
Đakrông, tỉnh Quảng Trị, Từ đó làm cơ sở để đưa ra những giải pháp, kiến nghị
đối với chính quyền địa phương.
10
2. Mục tiêu nghiên cứu
2.1.Mục tiêu chung
Đề tài nghiên cứu nhằm tìm hiểu, phân tích tình hình hoạt động sinh kế của
người dân xã Mò Ó, sự phù hợp với điều kiện sẵn có của địa phương đối với các hoạt
động sinh kế. Từ đó đề xuất một số giải pháp khắc phục, nâng cao thu nhập, cải thiện
cuộc sống của người dân tại địa bàn nghiên cứu.
2.2.Mục tiêu cụ thể
•
Tìm hiểu thực trạng 5 nguồn vốn sinh kế của các hộ dân gồm: Nguồn vốn con người,
vốn tự nhiên, vốn tài chính, vốn vật chất và nguồn vốn xã hội.
• Tìm hiểu các hoạt đọng sinh kế và những yếu tố ảnh hưởng đến hoạt động sinh kế của
người dân.
• Trên cơ sở phân tích và nhận định vấn đề để đưa ra một số kết luận và kiến nghị nhằm
hỗ trợ hoạt động sinh kế của người dân đạt hiệu quả cao hơn.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1.Đối tượng nghiên cứu
Các hoạt động sản xuất và lợi ích nhận được từ các hoạt động sinh kế tại xã Mò
Ó, huyện Đakrông, Tỉnh Quảng Trị.
3.2.Phạm vi nghiên cứu
•
Thời gian: tiến hành tìm hiểu, phân tích tình hình kinh tế, chính trị, xã hội của xã trong
•
tài được kết cấu thành 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn
Chương này đề cấp đến một số khái niệm liên quan đến đề tài nghiên cứu, một số
mô hình sinh kế ở các địa phương và các nước.
Chương 2: Thực trạng sinh kế của người dân xã Mò Ó huyện Đakrông
Tìm hiểu hiện trạng, phương thức sinh kế của người dân xã Mò Ó, huyện
Đakrông.
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp cá nhân
Từ việc nắm bắt các khó khăn, hạn chế trong quá trình sinh kế hộ, để đưa ra một
số giải pháp khắc phục nhằm ổn định và nâng cao đờii sống người dân.
PHẦN II. NỘI DUNG VÀ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU TẠI XÃ
MÒ Ó, HUYỆN ĐAKRÔNG, TỈNH QUẢNG TRỊ
14
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA VẤN ĐỀ SINH KẾ
1.1.Cơ sở lý luận
1.1.1. Khái niệm sinh kế
Theo khái niệm của DFID đưa ra thì: “Một sinh kế có thể được miêu tả như là sự
tập hợp các nguồn lực và khả năng con người có được kết hợp với những quyết định
và hoạt động mà họ thực thi nhằm để kiếm sống cũng như để đạt được các mục tiêu và
ước nguyện của họ”.
Theo khái niệm nêu trên thì chúng ta thấy sinh kế bao gồm toàn bộ những hoạt
động của con người để đạt được mục tiêu dựa trên những nguồn lực sẵn có của con
người như các nguồn tài nguyên thiên nhiên, các nguồn vốn, lao động, trình độ phát
triển của khoa học công nghệ.
1.1.2. Khái niệm sinh kế bến vững
Thuật ngữ “sinh kế bền vững” được sử dụng đầu tiên như là một khái niệm phát
triển vào những năm đầu 1990. Tác giả Chambers và Conway (1992) định nghĩa về
chính
- Xu
Xã
hộihướng
- Thời vụ
Vật chất
-
Chấn
động
Con
người
(trong
tự nhiên
và môi trường,
thị trường, chính
trị,
chiến
tranh…)
Chính sách, tiến
trình và cơ cấu
Các chiến lược
Sơ đồ 2.1. Khung sinh kế bền vững
Các kết quả SK
-Thu nhập nhiều
hơn
-Cuộc sống đầy đủ
hơn
-Giảm khả năng
tổn thương.
-An ninh lương
thực được cải
thiện.
-Công bằng xã hội
được cải thiện.
-Tăng tính bền
vững
của
tài
nguyên
thiên
nhiên.
-Giá trị không sử
của tự nhiên
Nguồn:dụng
DFID
(2003)
được bảo vệ
viên trong gia đình (bao gồm trình độ học vấn, kiến thức truyền được hoặc được kế
thừa trong gia đình), những kĩ năng và năng khiếu của từng cá nhân, khả năng lãnh
đạo, sức khỏe, tâm sinh lí của các thành viên trong gia đình, quỹ thời gian, hình thức
phân công lao động. Đây là một yếu tố được xem như là quan trọng nhất vì nó quyết
định khả năng một cá nhân, một hộ gia đình sử dụng và quản lí các nguồn vốn khác.
Các yếu tố đó còn giúp cho con người có thể theo đuổi những chiến lược tìm kiếm thu
nhập khác nhau và đạt những mục tiêu kế sinh nhai của họ. Ở mức độ gia đình nguồn
nhân lực được xem là số lượng và chất lượng nhân lực có sẵn, là nền tảng hay phương
tiện để đạt được mục tiêu thu nhập. Những thay đổi này phụ thuộc vào quy mô hộ,
trình độ kỹ năng, khả năng lãnh đạo và bảo vệ sức khoẻ.
Vốn xã hội: Bao gồm các mạng lưới xã hội, các mối quan hệ với họ hàng, người
xung quanh, bao gồm ngôn ngữ, các giá trị về niềm tin tín ngưỡng, văn hóa, các tổ chức
xã hội, các nhóm chính thức cũng như phi chính thức mà con người tham gia để có được
những lợi ích và cơ hội khác nhau… Việc con người tham gia vào xã hội và sử dụng
nguồn vốn này như thế nào cũng tác động không nhỏ đến quá trình tạo dựng sinh kế của
họ. Vốn xã hội được duy trì, phát triển và tạo ra những lợi ích mà người sở hữu nó mong
muốn như khả năng tiếp cận và huy động nguồn lực có từ các mối quan hệ, chia sẻ
thông tin, kiến thức hay các giá trị chuẩn mực. Vốn xã hội của mỗi cá nhân được tích
lũy trong quá trình xã hội hóa của họ thông qua sự tương tác giữa cá các cá nhân.
17
Vốn tài chính: thể hiện nguồn tài chính mà nông hộ sử dụng để đạt được mục tiêu
mưu sinh của họ. Nghĩa là sử dụng ở đây không phải khía cạnh kinh tế trong đó bao
gồm các nguồn cũng như các tích luỹ và nó có thể đóng góp vào sự tiêu thụ cũng như
sản xuất.
Có hai nguồn vốn tài chính chủ yếu :
Vốn sẵn có: Tiết kiệm là loại vốn tài chính được ưa thích vì nó không bị ràng
buộc về tính pháp lý. Chúng có thể có nhiều hình thức: tiền mặt, tín dụng ngân hàng,
kế mà còn là cơ hội cho người dân và cộng đồng tăng cường khả năng làm giảm thiểu
các tổn thương và sử dụng hợp lý nguồn tài nguyên thiên nhiên.
Tuy nhiên, phần quan trọng và quyết định vai trò của hợp phần trong khung sinh
kế là ở chỗ khả năng tiếp cận của chính sách đó và người dân tiếp cận các cơ hội này
ra sao nhằm mang lại lợi ích tốt cho mình và cộng đồng.
d) Chiến lược sinh kế và kết quả sinh kế
Chiến lược sinh kế là cách thức sinh nhai để người dân đạt được mục tiêu của họ.
Các hộ gia đình, các cộng đồng thường theo đuổi chiến lược đa sinh kế (nhiều cách sinh
sống). Các chiến lược sinh kế đó có thể phụ thuộc hoặc không phụ thuộc vào điều kiện
môi trường, chúng phụ thuộc ít nhiều vào thị trường, việc làm trong nền kinh tế và chủ
trương, chính sách của Đảng và Nhà nước. Người dân có thể sử dụng những gì mà họ có
thể tiếp cận được để tồn tại hoặc cải thiện tình hình hiện tại.
Chiến lược sinh kế của người dân bao gồm những quyết định và lựa chọn của họ
về sự đầu tư và sự kết hợp các nguồn lực sinh kế nào với nhau. Quy mô của các hoạt
động tạo thu nhập mà họ đang theo đuổi. Quản lý như thế nào để bảo tồn được các
nguồn lực sinh kế và thu nhập của họ? Cách người dân thu thập và phát triển các kiến
thức, kĩ năng cần thiết để kiếm sống ? Cách sử dụng thời gian và công sức? Cách họ
đối phó với rủi ro.
Kết quả sinh kế mang tính chất là tiêu chí cao nhất trong khung sinh kế bền
vững. Kết quả sinh kế là vấn đề thuộc về an sinh xã hội, cuộc sống của người dân ra
sao? Thu nhập của họ như thế nào? An ninh lương thực, khả năng ứng biến sinh kế
trước những thay đổi, cải thiện công bằng xã hội. Đây là kết quả của những thay đổi
cuối cùng mà người dân, cộng đồng và các tổ chức phát triển mong muốn đạt được.
Những tài sản sinh kế nối kết với nhau theo vô số cách để tạo ra kết quả sinh kế
có lợi. Hai loại quan hệ quan trọng là:
-
Sự tuần tự: Việc sở hữu một loại tài sản giúp người dân từ đó tạo thêm các loại tài sản
khác. Ví dụ người dân dùng tiền (nguồn vốn tài chính) để mua sắm vật dụng sản xuất
và tiêu dùng (nguồn vốn vật thể).
-
sản.
Tạo ra tài sản: Chính sách đầu tư xây dựng CSHT cơ bản (nguồn vốn hữu hình) hoặc
phát minh kỹ thuật (nguồn vốn con người) hoặc sự tồn tại của những thể chế địa
-
phương làm mạnh lên nguồn vốn xã hội.
Xác định cách tiếp cận tài sản: Quyền sở hữu, những thể chế điều chỉnh cách tiếp cận
-
với những nguồn tài nguyên phổ biến.
Ảnh hưởng tỉ lệ tích luỹ tài sản: Chính sách thuế ảnh hưởng đến doanh thu của những
-
chiến lược sinh kế.
Tuy nhiên, đây không phải là mối quan hệ đơn giản, những cá nhân và những nhóm
cũng ảnh hưởng lên sự tái cấu trúc và thay đổi quy trình thể chế. Nói chung, tài sản
càng được cung ứng cho người dân thì họ sẽ sử dụng càng nhiều. Vì vậy một cách
để đạt được sự trao quyền có thể là hỗ trợ cho người dân xây dựng những tài sản
của họ.
20
Tài sản và những chiến lược sinh kế: Những ai có nhiều tài sản có khuynh hướng
có nhiều lựa chọn lớn hơn và khả năng chuyển đổi giữa nhiều chiến lược để đảm bảo
21
những hậu quả nặng nề: Sự phân hóa giàu nghèo một cách sâu sắc, biến đổi khí hậu,
môi trường bị tàn phá nặng nề, sự nóng dần lên của trái đất…những hậu quả ấy do bởi
những hoạt động phát triển của con người.
Khái niệm phát triển bền vững xuất hiện trong phong trào bảo vệ môi trường
những năm 70 của thế kỉ XX và được định nghĩa theo nhiều cách khác nhau. Phát triển
bền vững được hiểu như là “sự đáp ứng nhu cầu hiện tại mà không làm tổn hại đến khả
năng của các thế hệ tương lai trong việc đáp ứng nhu cầu của bản thân họ” (Báo cáo
Bruland, 1987). Hoặc là “sự cải thiện chất lượng cuộc sống của con người trong khuôn
khổ phạm vi sức chứa của hệ sinh thái trợ giúp” (chăm lo trái đất)… Phát triển bền
vững cũng có thể được hiểu là một sự phát triển lâu dài, phát triển đi đôi với việc làm
phong phú các nguồn vốn sinh kế để từ đó dẫn đến các tác động tích cực tới đời sống
của con người. Sự phát triển đó làm tăng khả năng chống chọi với những cú sốc, tổn
thương do con người và tự nhiên gây ra.
Nói tóm lại quan niệm về sinh kế bền vững đều hướng đến một thế đứng kiềng 3
chân: “kinh tế - môi trường - xã hội”. Đây cũng được xem là mục tiêu mà con người
hướng tới trong tương lai khi tác động ngược của các quan điểm phát triển sai lệch
trước đây đã và đang ngày càng ảnh hưởng tiêu cực đến con người. Lý thuyết này
được áp dụng trong đề tài để phân tích hoạt động sinh kế của người dân và xây dựng
một mô hình phát triển tiến bộ hơn so với mô hình sinh kế hiện tại – mô hình sinh kế
bấp bênh và thiếu tính bền vững.
1.1.5.2.
Quan điểm lý thuyết cấu trúc chức năng
Cơ cấu chức năng được các nhà xã hội học như A. Comte và H. Spencer,
E.Durkheim khởi xướng, sau được các nhà xã hội học hiện đại phát triển thành một
trong những chủ thuyết của xã hội học hiện đại. Chủ thuyết chức năng hay còn gọi là
nhất. Thuật ngữ “lựa chọn” được dùng để nhấn mạnh sự cân nhắc, tính toán để quyết
định sử dụng phương tiện tối ưu nào mà đạt được kết quả cao trong một điều kiện
nguồn lực khan hiếm. Bắt nguồn từ việc vận dụng quy luật này để giải thích các hiện
tượng kinh tế, các nhà xã hội học áp dụng vào nhằm giải thích các hành động xã hội.
Vận dụng lý thuyết này vào trong đề tài nghiên cứu để giải thích cho việc tại sao người
dân ở địa bàn nghiên cứu lại lựa chọn phương thức sinh kế hiện tại mà không phải lựa
chọn phương thức sinh kế khác, với lựa chọn phương thức đó liệu họ có đạt được hiệu
quả tối đa trong cuộc sống hay không. Ngoài ra quan điểm về lựa chọn hợp lý sẽ được
lồng ghép phân tích và vận dụng trong việc đưa ra các giải pháp cho một chiến lược
sinh kế bền vững.
1.2. Chủ trương, chính sách của Đảng về vấn đề sinh kế
23
Trong những năm qua, Đảng và chính phủ đã có nhiều chính sách phát triển kinh
tế - xã hội cho vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn nhằm khuyến khích đầu tư, hỗ trợ
cho việc huy động các nguồn vốn, nguồn lực nhằm tạo động lực phát triển các hoạt
động sinh kế hộ và cộng đồng. Có thể tóm tắt một số chính sách như sau:
1.2.1. Các chính sách phát triển nguồn vốn sinh kế và cộng đồng
Đầu tư phát triển nguồn vốn vật chất, trong đó đặc biệt quan tâm đến phát triển kết cấu
hạ tầng phục vụ các hoạt động sản xuất và đời sống.
• Chương trình phát triển kinh tế - xã hội các xã hội các xã đặc biệt khó khăn (chương
trình 135 giai đoạn I, giai đoạn II) với khoảng 100 xã được đầu tư, hỗ trợ trong các nội
-
dung:
Phát triển cơ sở hạ tầng: đường giao thông, cơ sở hạ tầng, điện lưới, trường học, trạm
Bên cạnh các chính sách phát triển nguồn vốn sinh kế, Chính phủ còn ban hành
nhiều chính sách phát triển hoạt động sinh kế cho hộ gia đình và cộng đồng với mục
-
tiêu xóa đói giảm nghèo bao gồm:
Chính sách hỗ trợ trực tiếp cho sản xuất: hỗ trợ giống, phân bón... theo nghị định số 20
và Nghị định số 02 về phát triển thương mại miền núi, hải đảo, vùng đồng bào dân tộc.
- Chính sách hộ trợ xuất khẩu lao động theo Nghị quyết 30A của Chính Phủ.
- Chính sách đào tạo nghề cho nông dân.
Tại Đakrông nói chung và Xã Mò Ó nói riêng, trong những năm qua Đảng và chính
phủ đã có nhiều chương trình, dự án hỗ trợ kết hợp với các tổ chức chính phủ, phi
chính phủ của các nước bạn, nhằm xây dựng cơ sở hạ tầng, hỗ trợ đào tạo nghề, cải
thiện đời sống người dân như: Chương trình trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông
thôn mới, 134, 135 giai đoạn II, Dự án Phát triển Nông thôn do Phần Lan tài trợ, Dự
án Giảm nghèo miền Trung do ADB tài trợ, dự án IDE – hỗ trợ phân viên nén dúi sâu,
dự án Hạnh Phúc, dự án Vietel,...
1.3.Mô hình sinh kế của một số nước trên thế giới và Việt Nam
1.3.1. Mô hình sinh kế của một số nước trên thế giới
a) Tại Trung Quốc
Trung Quốc là một quốc gia có điều kiện tự nhiên và phong tục tập quán tương
đối giống Việt Nam. Là nước đông dân nhất thế giới, với trên 1.3 tỷ người nhưng cũng
giống như Việt Nam, gần 70% dân số Trung Quốc vẫn sống ở khu vực nông thôn,
hàng năm có tới hơn 10 triệu lao động đến tuổi tham gia vào lực lượng lao động. Vì
thế nhu cầu giải quyết việc làm càng trở nên gay gắt. Sau cải cách và mở cửa nền kinh
tế năm 1978, Trung Quốc thực hiện phương châm “Ly nông bất ly hương” thông qua
chính sách khuyến khích phát triển mạnh mẽ công nghiệp Hương Trấn nhằm đẩy mạnh