Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
LỜI MỞ ĐẦU
LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI:
Trong xu thế hội nhập của nền kinh tế toàn cầu, các quốc gia không ngừng
phấn đấu để đưa đất nước mình phát triển đi lên, tuy nhiên mỗi quốc gia đều có
điểm xuất phát không giống nhau.
Việt Nam đã là thành viên chính thức của tổ chức thương mại thế giới. Với
môi trường cạnh tranh gay gắt như thế, đòi hỏi các doanh nghiệp phải tự đổi mới
mình mới có thể tồn tại được. Trong xu thế người người hội nhập, nhà nhà hội
nhập đó thì các Ngân hàng thương mại cũng phải nâng cao chất lượng phục vụ thì
mới có khả năng cạnh tranh với các Ngân hàng nước ngoài.
Trong xu thế hội nhập đó, Kiên Giang luôn chuyển mình để hoà vào dòng
chảy của sự phát triển đất nước. Kiên Giang là tỉnh có tiềm năng lớn để phát triển
nông nghiệp và hải sản Ủy Ban Nhân Dân tỉnh cũng như huyện Châu Thành quan
tâm sâu sắc, thực tế vốn tự có dùng cho sản xuất của người dân còn hạn chế. Do đó
cần có nguồn vốn, chính là nguồn vốn của Ngân hàng Nông nghiệp. Thông qua
hoạt động tín dụng của NHNo & PTNT huyện Châu Thành đã đưa số vốn nhất định
và cần thiết để người dân đảm bảo cho sản xuất đạt hiệu quả, NHNo & PTNT Chi
Nhánh Huyện Châu Thành đã và đang cố gắng đạt yêu cầu phát triển kinh tế của
huyện nhà, huy động nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi trong các tầng lớp dân cư làm
nhịp cầu điều hòa vốn từ nơi “thừa” đến “thiếu” trở thành trung tâm tiền tệ lớn cả
về số lượng lẫn chất lượng để huy động triệt để nguồn vốn trong dân cư và sử dụng
vốn huy động để cho vay đạt hiệu quả đó là vấn đề mà cán bộ công nhân viên trong
Ngân hàng quan tâm.
Là người con của đất , em muốn tỉnh nhà ngày càng phát triển hơn, đời sống
nhân dân ngày càng no ấm hơn. Với thế mạnh là nuôi trồng và chế biến thuỷ sản,
cùng với những kiến thức chuyên ngành đã học, em mong muốn rằng chúng ta
không chỉ đẩy mạnh sản lượng xuất khẩu thủy sản ngày càng cao mà làm sao để
sản phẩm của chúng ta có được thương hiệu trên thế giới. Muốn làm được điều đó
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 1
Giang.
PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU:
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 2
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
• Phương pháp thu nhập số liệu:
Số liệu được thu thập từ tư liệu cơ quan thực tập, lấy từ các bản báo cáo tổng kết
báo cáo tháng , năm của phòng kinh doanh . Tình hình thực tế tại hộ sản xuất và
các tư liệu khác ở cơ quan tham khảo ý kiến của người trực tiếp thực hiện nghiệp
vụ tín dụng, kế toán và kiểm toán tại Ngân hàng.
• Phương pháp phân tích số liệu:
Thống kê, so sánh số liệu giữa các năm, các chỉ tiêu giữ các thời kỳ và phân tích
trên cơ sở kiến thức đã học.
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 3
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN:
1.1.1. Hoạt động kinh doanh của Ngân hàng
Ngân hàng Thương mại được xem như một doanh nghiệp hoạt động trên lĩnh
vực kinh doanh tiền tệ, với chức năng trung gian tín dụng, các Ngân hàng thương
mại vừa là người đi vay vừa là người cho vay, từ đó nghiệp vụ hoạt động chủ yếu
của Ngân hàng bao gồm 3 lĩnh vực: huy động vốn, cho vay, môi giới trung gian…
1.1.1.1. Hoạt động huy động vốn:
Hoạt động huy động vốn là một trong những nghiệp vụ chủ yếu của NHTM.
Vốn huy động là nguồn vốn chiếm tỷ lệ lớn trong tổng nguồn vốn của NHTM. Vì
vậy, nếu huy động được nhiều vốn thì có thể mang lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng
cũng như có thể mở rộng hoạt động và cung cấp vốn cho hoạt động kinh tế.
Trên thị trường có rất nhiều loại khách hàng khác nhau, trong đó gồm có hai
loại chính:
Loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất thấp do Ngân hàng không chủ
động được nguồn vốn và lãi luôn được nhập vốn và thường tính lãi theo nhóm ngày
gửi tiền. Còn đối với tiền gửi thanh toán thì lãi nhập gốc vào cuối tháng.
- Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn :
Tiền gửi có kỳ hạn là loại tiền gửi mà khách hàng gửi tiền vào có sự thỏa
thuận về thời hạn rút ra giữa Ngân hàng và khách hàng.
Về nguyên tắc, người gửi tiền chỉ có thể rút tiền ra theo thời hạn đã thỏa
thuận. Tuy nhiên, trên thực tế do yếu tố cạnh tranh, để thu hút tiền gửi, các Ngân
hàng thường cho phép khách hàng được rút tiền ra trước thời hạn nhưng không
được hưởng lãi suất hoặc chỉ được hưởng một mức lãi suất thấp hơn hoặc phải chịu
một mức phí đối với khoản tiền gửi tiết kiệm rút trước thời hạn theo quy định của
tổ chức nhận tiền gửi tiết kiệm (theo quy định 1160/2004/QĐ-NHNN ngày 13
tháng 8 năm 2004).
Tiền gửi có kỳ hạn là nguồn vốn mang tính ổn định, Ngân hàng có thể sử dụng
loại tiền này một cách chủ động làm nguồn vốn kinh doanh.Vì vậy, để khuyến
khích khánh hàng gửi tiền, các NHTM thường đưa ra nhiều kỳ hạn khác nhau nhằm
đáp ứng nhu cầu gửi tiền của khách hàng. Thông thường có các loại kỳ hạn như: 1
tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng…với mỗi loại kỳ hạn Ngân hàng áp dụng một mức
lãi suất tương ứng theo nguyên tắc kỳ hạn càng dài lãi suất càng cao.
b) Huy động vốn thông qua giấy tờ có giá:
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 5
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Giấy tờ có giá là chứng nhận của tổ chức tín dụng phát hành để huy động vốn
trong đó xác nhận nghĩa vụ trả nợ một khoản tiền trong một thời gian nhất định,
điều kiện trả lãi và các điều khoản cam kết giữa tổ chức tín dụng và người mua.
- Ngân hàng phát hành những giấy tờ có giá như: kỳ phiếu có mục đích, trái
phiếu, chứng chỉ tiền gửi … để huy động vốn ngắn hạn và dài hạn vào Ngân hàng.
c) Nguồn vốn đi vay các Ngân hàng khác:
Trong quá trình kinh doanh, bất kỳ doanh nghiệp nào cũng có lúc phát sinh
một tỉ lệ rất ít.
1.1.1.3. Thu nhập- Chi phí -Lợi nhuận:
a) Thu nhập:
- Khái niệm: Thu nhập Ngân hàng là khoản tiền thu được từ hoạt động kinh
doanh của Ngân hàng như: cho vay, đầu tư, cung cấp dịch vụ…
- Các khoản thu nhập của Ngân hàng gồm:
+ Thu nhập từ hoạt động tín hoạt động tín dụng như: Thu lãi tiền gửi, thu lãi cho
vay, thu từ đầu tư chúng khoán.
+ Thu nhập ngoài hoạt động tín hoạt động tín dụng như: Thu từ dịch vụ thanh
toán, thu tư nghiệp vụ bảo lãnh, thu từ nghiệp vụ ngân quỹ, thu từ hoạt động dịch
vụ khác, thu từ hoạt động kinh doanh khác, thu nhập khác.
b) Chi phí
- Khái niệm: Chi phí là toàn bộ tài sản, tiền bạc bỏ ra để thực hiện một quá trình
kinh doanh của Ngân hàng.
- Các khoản chi phí của Ngân hàng gồm:
+ Chi phí từ hoạt động tín dụng của Ngân hàng như: Trả lãi tiền gửi, trả lãi tiền
vay, trả lãi phát hành GTCG, chi phí khác.
+ Chi phí ngoài hoạt động tín dụng của Ngân hàng như: Chi cho dịch vụ thanh
toán, chi về ngân quỹ, chi cho hoa hồng môi giới, chi cho nhân viên, chi phí khác.
c) Lợi nhuận của Ngân hàng:
- Khái niệm: Lợi nhuận của Ngân hàng cũng giống như lợi nhuận của doanh
nghiệp đây là thu nhập sau khi đã trừ đi hết các khoản chi phí phục vụ cho việc
thực hiện hoạt động kinh doanh.
Lợi nhuận của Ngân hàng là yếu tố quan trọng trong hoạt động Ngân hàng, vì
nó giúp Ngân hàng có thể dễ dàng huy động vốn trong dân cư, cải tiến chiến lược
phát triển…Lợi nhuận Ngân hàng còn khuyến khích nhà quản lý mở rộng và cải
tiến công việc, giảm chi phí và gia tăng các loại dịch vụ.
Tóm lại: việc tạo ra lợi nhuận là điều cần thiết và quan trọng trong hoạt động
của Ngân hàng vì nó dể dàng huy động vốn từ các tổ chức tín dụng, tổ chức kinh tế.
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 7
Nợ xấu / Dư nợ (%) = * 100(%)
Dư nợ
- Tài sản sinh lời (TSSL): Tài sản sinh lời là tất cả các tài sản đem lại lãi suất, tiền
mặt tại quỹ và máy móc thiết bị là 2 loại tài sản không thuộc tài sản sinh lời.
TSSL = Tổng tài sản – (Tiền mặt tại quỹ + tiền dự trữ + máy móc thiết bị)
- Tài sản rủi ro (TSRR): TSRR là TSSL phụ thuộc vào rủi ro tín dụng cũng như rủi
ro lãi suất, những tài sản đầu tư vào lĩnh vực có rủi ro cao, có thể bị tổn thất.
TSRR =TSSL – (các chứng từ có giá + chứng khoán đầu tư dưới 1 năm)
- Sự nhạy cảm lãi suất: Sự nhạy cảm lãi suất chỉ sự so sánh giữa nhạy cảm của
luồng tiền tệ thuộc tài sản (tài sản nhạy cảm lãi suất) và luồng tiền thuộc nguồn vốn
(nguồn vốn nhạy cảm lãi suất).
Tài sản nhạy cảm lãi suất là các loại tài sản mà trong đó thu nhập về lãi suất sẽ
thay đổi trong một khoảng thời gian nhất định khi lãi suất thay đổi.
Nguồn vốn (nợ phải trả) nhạy cảm lãi suất là các khoản nợ mà trong đó chi phí
lãi suất sẽ thay đổi trong một khoản thời gian nhất định khi lãi suất thay đổi.
1.2.2. Các chỉ số tài chính:
a ) Các chỉ số sinh lợi:
- Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản: Chỉ tiêu này cho biết khả năng của Ngân hàng
trong việc tạo ra thu nhập từ tài sản. Xác định hiệu quả kinh doanh của một đồng
tài sản. Chỉ tiêu này lớn chứng tỏ hiệu quả kinh doanh của Ngân hàng tốt. Công
thức tính:
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 9
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Lợi nhuận ròng
Lợi nhuận ròng / Tổng tài sản = * 100(%)
Tổng tài sản
- Lợi nhuận ròng trên thu nhập: Chỉ tiêu này phản ánh khả năng sinh lời trong hoạt
động kinh doanh đồng thời đánh giá hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Nghĩa là
cứ một đồng doanh thu sẽ tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận.
hàng khi có sự thay đổi lãi suất trên thị trường. Chỉ tiêu này đạt mức an toàn ở 1
đơn vị. Tuy nhiên, đối với một nhà quản trị giỏi, nếu có thể dự đoán được sự tăng
giảm của lãi suất trên thị trường sẽ điều chỉnh cơ cấu tài sản, nguồn vốn nhạy cảm
với lãi suất để kiếm thêm lợi nhuận.
Tài sản nhạy cảm với lãi suất
Rủi ro lãi suất =
Nguồn vốn nhạy cảm với lãi suất
- Rủi ro tín dụng: Rủi ro tín dụng phản ánh rủi ro mà lãi hoặc gốc, hoặc cả lãi và
gốc trên chứng khoán hoặc các khoản cho vay sẽ không nhận được như đã hứa.
Nợ xấu
Rủi ro tín dụng =
Dư nợ bình quân
- Rủi ro thanh khoản: Rủi ro thanh khoản chỉ sự so sánh giữa số tiền cần thiết để
thanh toán cho người rút tiền ra và sự gia tăng cho vay với nguồn thực sự hoặc tiềm
năng trong thanh toán. Tỷ số này càng cao cho thấy Ngân hàng có rủi ro thấp và lợi
nhuận thấp.
Tài sản thanh khoản – Vay ngắn hạn
Rủi ro thanh khoản =
Tổng nguồn vốn huy động
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 11
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
CHƯƠNG 2: ĐÁNH GIÁ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH VÀ TÌNH HÌNH
LỢI NHUẬN CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG
2.1.KHÁI QUÁT VỀ NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN
NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển
NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Châu Thành là chi nhánh trực thuộc
NHNo&PTNT tỉnh Kiên Giang. Chi nhánh đặt tại khu phố Minh An-thị trấn Minh
sản phẩm đa dạng như sau:
- Sản phẩm tiền gửi:
+ Nhận tiền gửi bằng VND và ngoại tệ.
+ Phát hành kỳ phiếu, trái phiếu.
- Sản phẩm tín dụng:
+ Cho vay ngắn hạn, trung và dài hạn (USD, VND)
+ Cầm cố kỳ phiếu, trái phiếu và sổ tiết kiệm.
+ Chiết khấu thương phiếu, chứng từ có giá.
- Dịch vụ Ngân hàng:
+ Mở tài khoản.
+ Chuyển tiền điện tử.
+ Chi trả kiều hối.
+ Bảo lãnh Ngân hàng.
+ Nghiệp vụ phát hành và thanh toán thẻ.
- Sản phẩm khác: Mua bán ngoại tệ.
Ngoài những sản phẩm dịch vụ ngày càng hiện đại thì Ngân hàng lại càng tự
hào hơn nữa vì mạng lưới hoạt động của mình đã có mặt ở khắp xã trên cả huyện.
2.1.2. Cơ cấu mạng lưới hoạt động và bộ máy quản lý tại ngân hàng
Cơ cấu tổ chức:
NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Châu Thành gồm 28 cán bộ công nhân viên
biên chế trong đó bao gồm:
+ Ban giám đốc: 2 người
+ Phòng kế toán ngân quỹ tại trụ sở chính: 8 người
+ Phòng kế hoạch kinh doanh:12 người
+ Tổ kiểm soát :1 người
+ Tổ hành chính kiêm bảo vệ:1 người
+ 2 Phòng giao dịch: 4 người
NHNo&PTNT Chi nhánh huyện Châu Thành thành lập 22 năm nhưng số vốn
huy động hiện nay tương đối cao, cơ sở vật chất kỹ thuật, nghiệp vụ Ngân hàng
được nâng cao, kỷ cương kỷ luật nghiêm khắc, chất lượng tín dụng ngày càng được
Phòng
KH-KD
02 Phòng
Giao
Dịch
Phòng Kế
Toán-
Ngân
Quỹ
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
tài chính, xử lý, cung cấp và lưu trữ thông tin tại Chi nhánh, chấp hành tốt chế độ
báo cáo và giải trình thực hiện kế hoạch tài chính hàng năm với Ngân hàng cấp trên
cập nhật và xử lý thông tin dữ liệu kịp thời chính xác nhằm phục vụ cho yêu cầu
chỉ đạo hàng ngày của Ban Giám đốc và chuyển tiếp thông tin lên Ngân hàng cấp
trên.
- Ngân quỹ : Quản lý an toàn kho quỹ, thực hiện đúng quy định về nghiệp vụ thu
và chi tiền mặt.
+ Kiểm tra nhân viên: Kiểm tra lại toàn bộ việc cho vay và thu nợ, thu chi tài
chính của Ngân hàng, nắm bắt và xử lý thông tin kịp thời, kiểm tra theo định kỳ để
chấn chỉnh những sai sót trong quá trình hoạt động kinh doanh và báo cáo đề xuất
cho giám đốc, báo cáo thống kê kịp thời về Ngân hàng cấp trên.
2.1.3.Đối thủ cạnh tranh
NHNo&PTNT Chi Nhánh huyện Châu Thành tỉnh kiên Giang là Ngân Hàng
được hình thành đầu tiên tại huyện Châu Thành, với tình hình phát triển kinh tế
trong huyện như hiện nay đã thu hút nhiều Ngân Hàng hình thành, sau đây là một
số đối thủ cạnh tranh của Ngân Hàng trên địa bàn huyện Châu thành:
Ngân Hàng Sài Gòn Thương Tín (SACOMBANK)
Ngân Hàng Ngoại Thương Việt Nam (VIETCOMBANK)
Ngân Hàng Đầu Tư Và Phát Triển Việt Nam (BIDV)
bảo nợ, theo dõi chặt chẽ kỳ hạn trả nợ, không để nợ xấu phát sinh.
• Tăng cường lực lượng và nâng cao chất lượng, cán bộ tín dụng đạt tỷ lệ 50% tổng
số cán bộ công nhân viên, thường xuyên phải giáo dục phong cách giao dịch, phẩm
chất đạo đức cho cán bộ công nhân viên.
• Thường xuyên phát động các phong trào thi đua trong cán bộ nhân viên trong
tháng, năm.
• Giữ vững các danh hiệu cơ sở Đảng trong sạch, vững mạnh các đoàn thể vững
mạnh.
• Bảo vệ an toàn tài sản, tích cực tham gia các hoạt động văn hóa xã hội.
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 16
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
2.1.5. Thuận lợi và khó khăn của NHN
0
&PTNT
Thuận lợi: Mặc dù vùng Đồng Bằng Sông Cửu Long nói chung và Kiên Giang
nói riêng là những vùng mà huy động vốn gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, trong
những năm qua Ngân hàng cũng có thuận lợi như: ( nguồn: Phòng thống kê
huyện Châu Thành)
+ Tình hình kinh tế trong huyện tiếp tục tăng trưởng ở mức cao, tổng sản phẩm
trong huyện (GDP) tăng 17,5% so với năm 2008. GDP bình quân đầu người đạt
25.700 triệu đồng, tương đương với 1.400 USD. Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển
dịch đúng hướng như sau:
- Nông- lâm- ngư nghiệp tăng 8,36%.
- Công nghiệp xây dựng tăng 36%.
- Dịch vụ tăng 17,5%.
+ Được sự quan tâm của chính quyền địa phương và các ngành có liên quan nên đã
tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân hàng trong hoạt động kinh doanh mở rộng mạng
lưới,đối tượng đầu tư, xử lý và thu hồi nợ vay. Cảng cá Tắc Cậu đang phát triển,các
doanh nghiệp đã đi vào hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho Ngân Hàng thu hút
CỦA NGÂN HÀNG NÔNG NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI
NHÁNH HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH KIÊN GIANG
Ngân hàng hoạt động có hiệu quả thì phải có nguồn vốn vững mạnh và phải
biết cách sử dụng nguồn vốn để đem lại lợi nhuận cao cho Ngân hàng. Do đó, lợi
nhuận là chỉ tiêu quan trọng để đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của Ngân
hàng nói riêng và áp dụng cho mọi chủ thể trong nền kinh tế thị trường nói chung.
Vì vậy, Ngân hàng luôn quan tâm đến vấn đề làm thế nào để đạt lợi nhuận cao,
giảm rủi ro xuống mức thấp nhất, đồng thời vẫn đạt được kế hoạch kinh doanh của
Ngân hàng. Đây chính là mục tiêu hoạt động của NHNo&PTNT Chi Nhánh huyện
Châu Thành tỉnh kiên Giang và trên thực tế hoạt động của Ngân hàng qua 3 năm
được thể hiện dưới bảng 1 sau:
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 18
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
Bảng 2.1: KẾT QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NGÂN HÀNG
GIAI ĐOẠN 2007-2009
Đơn vị: triệu đồng
Chỉ tiêu
Năm
2007
Năm
2008
Năm
2009
So sánh
2008/2007
So sánh
2009/2008
Số liệu %
Số
ngừng tiến triển qua các năm.
Về chi phí: Là toàn bộ tài sản, tiền bạc bỏ ra để phục vụ cho hoạt động kinh doanh
của Ngân hàng. Nhìn chung, chi phí của Ngân hàng trong 3 năm đều tăng, năm sau
cao hơn năm trước. Nguyên nhân là do Ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động,
cung cấp thêm nhiều dịch vụ, Ngân hàng tốn nhiều chi phí cho đầu tư thêm nhiều
thiết bị hiện đại.
Lợi nhuận ròng: Qua bảng số liệu ta thấy trong 3 năm hoạt động của Ngân hàng
đã đạt được những thành công nhất định, lợi nhuận ròng tăng đều qua các năm. Tốc
độ tăng của lợi nhuận năm sau cao hơn năm trước. Cụ thể năm 2008 lợi nhuận
ròng đạt 6.576 triệu đồng và đạt tốc độ là 12,16%. Sang năm 2009 lại tiếp tục tăng
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 20
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
hơn so với năm 2008 là 655 triệu đồng. Lợi nhuận ròng tăng là do Ngân hàng đã
đưa ra các chính sách kinh doanh có hiệu quả nên làm cho doanh thu của Ngân
hàng tăng nhanh hơn chi phí mà Ngân hàng bỏ ra.
Nhìn chung, kết quả hoạt động kinh doanh của Ngân hàng ngày càng có những tiến
triển tốt đẹp. Do Ngân hàng ngày càng mở rộng thêm dịch vụ để phục vụ cho khách
hàng. Điều đó cũng thể hiện sự quản lý tài tình của ban lãnh đạo cùng với sự nổ
lực, cố gắng của toàn thể nhân viên trong Ngân hàng.
2.3. PHÂN TÍCH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH TẠI NGÂN HÀNG NÔNG
NGHIỆP VÀ PHÁT TRIỂN NÔNG THÔN CHI NHÁNH HUYỆN CHÂU
THÀNH TỈNH KIÊN GIANG
2.3.1. Phân tích bảng tổng kết tài sản của Ngân hàng
Bảng cân đối kế toán là một báo cáo tài chính của Ngân hàng khái quát tình hình
sử dụng vốn và nguồn vốn của Ngân hàng vào ngày cuối năm.
Thông qua các chỉ tiêu trong bảng tài sản của Ngân hàng qua 3 năm, cụ thể là
chỉ tiêu về tài sản và nguồn vốn. Từ những chỉ tiêu đó ta sẽ phân tích, so sánh để
thấy được sự biến động của tài sản cũng như của nguồn vốn. Mặc dù sự tăng, giảm
này chưa phản ánh được thực chất của việc quản lý vốn của đơn vị là tốt hay xấu
Điều này cũng tạo điều kiện cho hoạt động kinh doanh của Ngân hàng đồng thời nó
cũng làm cho Ngân hàng mất đi một phần lợi nhuận. Do đó Ngân hàng cần xem xét
lại chính sách dự trữ tiền mặt sao cho đảm bảo được việc thanh khoản đồng thời nó
cũng đáp ứng được lợi nhuận của Ngân hàng.
- Cho vay: Do hoạt động của Ngân hàng là hoạt động kinh doanh tiền tệ. Nên
số tiền cho vay luôn chiếm một tỷ trọng lớn hơn 92%, cụ thể năm 2008 tăng 31.352
triệu đồng tương đương 6,48% sang năm 2009 tăng 25.864 triệu đồng nhưng tốc độ
giảm xuống 5,02%. Đây là dấu hiệu đáng mừng vì chứng tỏ hoạt động tín dụng của
Ngân hàng ngày càng có hiệu quả. Trong tương lai thì Ngân hàng nên tiếp tục mở
rộng hoạt động cho vay vì đây là nguồn mang lại lợi nhuận lớn cho Ngân hàng.
- Tiền lãi cộng dồn dự thu: luôn tăng trưởng qua các năm. Trong ba năm qua,
Ngân hàng chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Mà khách hàng truyền thống của chúng ta
là các hộ sản xuất nông-lâm-ngư-diêm nghiệp nên hoạt động chủ yếu của họ là đầu
tư vào lĩnh vực cây trồng, vật nuôi mà các lĩnh vực này còn phụ thuộc rất nhiều vào
SVTH: Trần Kim Thúy Trang 24
Khóa Luận Tốt Nghiệp
GVHD: Th.S Phạm Hải Nam
điều kiện tự nhiên và giá cả của thị trường. Miễn nông dân có mùa thì lại mất giá
do họ sản xuất mang tính chất “phong trào” chứ không theo nhu cầu của thị trường.
Nên việc thu lãi cũng gặp rất nhiều khó khăn.
- Tài sản cố định và các tài sản có khác: tăng trưởng mạnh qua 3 năm là do
Ngân hàng mở rộng mạng lưới hoạt động nên trang bị thêm nhiều tài sản cố định.
Hàng năm, Ngân hàng đều trang bị thêm cơ sở vật chất cho các chi nhánh để góp
phần tạo thêm lòng tin cho khách hàng. Nhờ đó mà mỗi năm Ngân hàng đều thu
hút thêm nhiều khách hàng mới. Đặc biệt là năm 2009 tài sản cố định tăng lên một
cách đột ngột (tới 315,45%), nguyên nhân là do các khoản phải thu trong năm tăng.
Ngoài ra, Ngân hàng còn phải trích một khoản để dự phòng rủi ro theo chủ trương
của NHNo&PTNT Việt Nam.
Tóm lại: trong 3 năm qua tình hình hoạt động tín dụng của Ngân hàng có xu
hướng tăng lên liên tục và Ngân hàng dùng tiền nhàn rỗi của mình để đầu tư chứng