Báo cáo tốt nghiệp đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái f1(♀landrace x ♂yorkshire) và khả năng sinh trưởng và chất lượng thịt của con lai 3 máu ♀(♀landrace x ♂yorkshire) x ♂(♀landrace x ♂duroc) - Pdf 37

1

ĐẶT VẤN ĐỀ

Chăn nuôi lợn ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đóng vai trò
hết sức quan trọng trong hệ thống chăn nuôi. Lợn là loài gia súc được nuôi nhiều
và cung cấp lượng thực phẩm lớn nhất cho con người.
Việt Nam là một trong những quốc gia có nền chăn nuôi chưa phát triển,
năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm không cao. Kết quả này một phần là
do khó khăn về điều kiện tự nhiên, nhưng quan trọng hơn là do quy trình kỹ
thuật chăn nuôi còn hạn chế, hơn thế nữa các giống lợn được sử dụng cho chăn
nuôi có khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm chưa cao.
Chiến lược chăn nuôi lợn của Việt Nam trong thời gian tới là tăng số lượng
đầu lợn, nâng cao năng suất sản xuất và chất lượng sản phẩm bằng cách tăng tỉ lệ
máu ngoại cho đàn lợn nuôi trong nước. Thực hiện chiến lược chăn nuôi này
trong thời gian qua nhà nước ta đã cho nhập hàng loạt các giống lợn ngoại có
năng suất cao như Yorkshire, Landrace, Pietrian và Duroc. Từ đó tiến hành lai
tạo ra các con lai 2 máu, 3 máu, 4 máu nhằm nâng cao khả năng sản xuất và khả
năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi Việt Nam.
Lai tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng và hiệu quả sản
xuất của vật nuôi. Con lai vừa kết hợp được các ưu điểm của những giống đem
lai vừa tận dụng được ưu thế lai của công thức lai. Nguyễn Thị Viễn và cs (2000)
ưu thế lai về tính trạng sinh sản của nhóm nái lai LY/YL đạt được từ 0,99-6,21%
và tính trạng tăng trọng g/ngày giai đoạn từ 90-150 ngày tuổi đã cải thiện được
2,03-3,48%. Trong chăn nuôi công nghiệp việc xác định công thức lai tốt, phù
hợp với điều kiện chăn nuôi của từng vùng là rất cần thiết.
Greenfed Việt Nam là công ty lớn trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, có quy
trình chăn nuôi hiện đại. Trong thời gian qua công ty đã tiến hành nhập và lai tạo
thành công nhiều công thức lai và đưa các tổ hợp lai vào sử dụng trong chăn nuôi
công nghiệp. Điển hình là tổ hợp lai F1(♀Landrace x ♂Yorkshire) làm nái sinh
sản, và tổ hợp lai lai 3 máu ♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x ♂(♀Landrace x ♂Duroc)

tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch,
Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan. Nói chung ở các nước tiên tiến
và công nghiệp đều có chăn nuôi lợn phát triển theo hình thức công nghiệp và
đạt trình độ chuyên môn hoá cao.
Theo số liệu thống kê FAO (2004). Ngành chăn nuôi lợn toàn thế giới liên
tục tăng trưởng ổn định trong 15 năm qua (bảng 1) và dự kiến sẽ tiếp tục tăng
trưởng trong thời gian tới.

2


Bảng 1: Diễn biến số lượng đàn lợn thế giới
Năm

1960

1990

1995

2000

2001

2002

2003

2004


2007 (bảng 2).
Bảng 2: Diễn biến số lượng đàn lợn và sản lượng thịt lợn Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu

2002

2003

2004

2005

2006

2007

Đầu lợn (triệu con)
Sản lượng thịt (triệu tấn)

23,2
1,65

24,9
1,80

26,1
2,01

27,4

năng sinh sản. Tuổi con vật bắt đầu có khả năng sinh sản gọi là tuổi thành thục
về tính. Sự thành thục về tính được tính từ lần động dục và rụng trứng đầu tiên
của gia súc cái. Nếu trứng được gặp tinh trùng thì có khả năng thụ thai. Ở giai
đoạn này dưới ảnh hưởng của nội tiết sinh dục, cơ thể có những biến đổi đặc
trưng, cơ quan sinh dục phát triển, sinh ra các giao tử hoạt động, có khả năng kết
hợp với giao tử đực để sinh ra con cái. Đồng thời gia súc có những thay đổi về
hành vi, biểu hiện bên ngoài.
Lợn cái thành thục về tính vào khoảng 4-9 tháng tuổi. Thông thường các
giống lợn nội có tuổi thành thục về tính sớm hơn so với lợn lai và lợn ngoại.
Tuổi động dục lần đầu của các giống lợn nội như lợn ỉ, lợn móng cái là 3-5 tháng
tuổi. Lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn, ở lợn nái F1(nội x ngoại) động
dục bắt đầu lúc 5-7 tháng tuổi. Lợn ngoại thành thục về tính vào khoảng 6-8
tháng tuổi.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính:
+ Giống: Hầu hết các giống nội thành thục sớm hơn giống nhập ngoại,
giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn giống có tầm vóc lớn.
+ Chế độ dinh dưỡng: Gia súc được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy
đủ, phù hợp nhu cầu dinh duỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với gia súc
được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưõng thấp.

4


+ Ngoài ra tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào việc tiếp xúc với con
đực. Sự có mặt của con đực trong giai đoạn trước tuổi động dục sẽ làm tăng
nhanh quá trình thành thục về tính.
2.2.1.2 Chu kì động dục
Gia súc cái khi đến tuổi thành thục về tính sẽ xuất hiện chu kỳ động dục. Đó
là sự phát triển của nang trứng theo tính chu kỳ dưới sự điều hoà của hormone
thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng diễn ra một cách có chu kỳ.

ức chế trung khu sinh dục ở vùng dưới đồi từ đó ức chế tuyến yên làm giảm tiết
estrogen dẫn tới giảm hưng phấn sinh dục. Con vật trở lại trạng thái bình thường,
không biểu hiện đòi hỏi sinh dục nửa. Âm hộ hết sưng, lợn ăn uống như bình
thường.
- Giai đoạn yên tĩnh (diestrucs); thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng
rụng, khi thể vàng bắt đầu hoạt động mạnh. Đây là giai đoạn kéo dài nhất. đối
với gia súc không có thai, giai đoạn này sẽ kết thúc khi thể vàng bị tiêu biến. Lợn
không còn biểu hiện sinh dục, cơ quan sinh dục phục hồi chức năng để chuẩn bị
cho chu kỳ sinh dục tiếp theo.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chu kì động dục:
+ Giống: Các giống lợn khác nhau có chu kì động dục khác nhau như lợn ỉ
từ 19-21 ngày, lợn móng cái từ 19-25 ngày.
+ Tuổi: Nái tơ thường có chu kì tính ngắn hơn lợn nái trưởng thành.
+ Dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kì tính ổn định và ngược lại.
+ Ngoài các nhân tố trên chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số
nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromon, tiếng kêu của con đực
(Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992).
2.2.1.3 Sự thành thục về thể vóc
Sau một thời gian sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định
con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc. Lúc này cơ thể đã tương đối hoàn
chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận, tầm vóc, trọng lượng, kích thước
các chiều đo ổn định và gia súc có khả năng sinh sản cao.
Tuổi thành thục về thể vóc của các giống lợn khác nhau là khác nhau. Lợn
Móng Cái thành thục về thể vóc lúc 6 tháng tuổi, trong khi đó lợn Ỉ là 8 tháng

6


tuổi. Ngoài ra sự thành thục về thể vóc còn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi
dưỡng, bệnh tật,…

- Thức ăn và dinh dưỡng: Thức ăn và lượng cho ăn phải đảm bảo cung cấp
đầy đủ dinh dưỡng cho nhu cầu duy trì và tăng trọng của lợn hậu bị. Dinh dưỡng
thức ăn quyết định trực tiếp đến thể trạng của lợn hậu bị, nếu cung cấp thừa dinh
dưỡng đặc biệt là năng lượng lợn sẽ mập gây hiện tượng nân sổi, nếu dinh dưỡng
không đảm bảo lợn sẽ gầy gây hiện tượng không động dục, động dục không đều
hoặc không đủ trọng lượng phối làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái. Thức
ăn của lợn hậu bị cần cung cấp đầy đủ protein, năng lượng, vitamin, khoáng.
- Chuồng trại: Lợn nái hậu bị có thể được nuôi 4-10 con/ô chuồng, với diện
tích 2,5-3m2/con. Trong chuồng hậu bị nên bố trí 1 ô nọc nhỏ để lợn hậu bị được
tiếp xúc với con đực kích thích động dục sớm. Chuồng trại phải luôn khô sạch,
đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm, và thông thoáng thích hợp.
-Vế sinh tắm chải: Lợn nái hậu bị phải được thường xuyên tắm chải đặc biệt
là về mùa hè nóng. Vệ sinh tắm chải có tác dụng ngăn được các bệnh ngoài da,
kích thích thèm ăn, nâng cao sức khoẻ và hoạt động tính dục.
2.2.2

Sinh lý thụ thai

2.2.2.1 Sự hình thành và phát triển của trứng
Tế bào trứng được hình thành trong buồng trứng được phát triển từ các
noãn nguyên bào (Ovogonie). Ở giai đoạn sớm của đời sống cá thể, các noãn
nguyên bào tương tự như tinh nguyên bào. Trải qua nhiều lần phân bào nguyên
nhiễm đến noãn bào sơ cấp. Tất cả các noãn nguyên bào được bao bởi lớp tế bào
biểu mô. Đến khi thành thục về tính, dưới ảnh hưởng điều hòa của trung khu
sinh dục ở vùng dưới đồi (Hypothalamus) thông qua các yếu tố giải phóng kích
dục tố RF, kích thích tuyến yên tiết hormon hướng sinh dục FSH, LH để điều
khiển quá trình phát triển của nang trứng và rụng trứng. Nói một cách khác từ
lần động dục đầu tiên các tế bào trứng nguyên thủy thay phiên nhau phát triển để
hình thành trứng chín.
2.2.2.2 Sự rụng trứng

Nghiên cứu của Casid (1955) với chế độ dinh dưỡng cao thì số trứng rụng là
13,9 trứng, dinh dưỡng thấp thì số trứng là 11,1 trứng, mức dinh dưỡng thấp thấp thì số trứng rụng là 10,6 trứng, còn mức dinh dưỡng thấp - cao số trứng
rụng là 13,6 trứng. Nghiên cứu cũng chứng minh rằng, đối với các giống lợn
khác nhau thì số trứng rụng trong một chu kỳ cũng khác nhau. Theo Lưu Kỷ

9


(1982) lợn F1 (Đại Bạch x Ỉ ) ở chu kỳ động dục thứ ba có số lượng trứng là 11,3
trứng, còn theo Bruger (1972) thì lợn nái Đại Bạch có số lượng trứng rụng là
16,7 trứng.
2.2.2.3 Thời điểm phối tinh thích hợp
Thời điểm phối tinh thích hợp là thời điểm phối giống có nhiều nhất các
tinh trùng có khả năng thụ tinh gặp nhiều nhất các tế bào trứng có khả năng thụ
thai. Thời điểm này quyết định đến tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra trên ổ. Trứng và
tinh trùng tiến hành quá trình thụ tinh ở 1/3 đầu trên ống dẫn trứng là tốt nhất.
Tinh trùng mất 1-2 giờ ở đường sinh dục con cái để di chuyển vị trí thích hợp.
Đối với tế bào trứng sau khi rụng phải mất 1-2 giờ để di chuyển thích hợp và
thời gian tế bào rụng trứng là 8-12 giờ.
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ thai cao, số con đẻ ra nhiều cần tiến hành phối giống
đúng lúc, vì thời gian trứng tồn tại và hiệu quả thụ thai rất ngắn, trong khi đó thì
tinh trùng có thể kéo dài và sống trong tử cung khoảng 45-58 giờ. Do vậy thời
điểm phối giống thích hợp nhất là giữa giai đoạn chịu đực. Lợn nái lai và nái
ngoại cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 tính từ lúc bắt đầu động
dục, hoặc sau khi có hiện tượng chịu đực khoảng 6-8 tiếng thì cho phối. Đối với
lợn nái nội cần phối sớm hơn nái lai và lợn ngoại thuần 1 ngày, cụ thể vào cuối
ngày thứ 2 và đầu ngày thứ 3 kể từ lúc bắt đầu động dục.
Thời gian lợn cái biểu hiện động dục cao độ nhất là lúc “mê ì”, âm hộ
chuyển từ màu đỏ hồng sang thâm tái, lợn có thể ít ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn,
thích nhảy lên lưng con khác, nếu ta ấn mạnh vào vùng hông khum thì thấy lợn

Bảng 4 : Sự phát triển của bào thai
Chiều dài
Tuổi
(ngày)
centimet
% so với 30 ngày
30
51
72
93
114

2,5 ± 0,3
9,8 ± 1,0
16,3 ± 2.0
22,9 ± 2.0
29,4 ± 8,6

Trọng lượng
gam
% so với 30 ngày
1,50 ± 0,005
49,80 ± 1,4
220,50 ± 7,3
616,9 ± 15,0
1049 ± 42,7

3,9
6,5
9,2

(1971) thì dịch ối và dịch niệu có trọng lượng cực đại là 6 kg khi thai đạt được
70 ngày tuổi, sau đó thì giảm dần đến khi đẻ còn 2 kg (bảng 5)
Bảng 5: Sự phát triển của nhau thai, dịch ối, dịch niệu
Nhau thai
Dịch ối, niệu
Tuổi thai
Số thai
% so với
% so với
(ngày)
(gam)
(gam)
47 ngày
47 ngày
47
12
800
1350
63
11
2100
263
5050
374
81
11
2550
319
5650
419

% so với 47 ngày
47
1300
63
1450
189
81
2600
200
96
3411
265
108
3770
290
Nguồn: Moustagrad (1962)
2.2.3.3 Sự thay đổi của cơ thể lợn mẹ.
Trong thời gian mang thai cơ thể lợn mẹ cũng có những biến đổi như: Lợn
mẹ không động dục, trao đổi cơ bản tăng “quá trình đồng hóa chiếm ưu thế hơn
so với dị hóa”. Salmon và cs (1967) khi so sánh khả năng tăng trọng của lợn nái
mang thai so với lợn nái không mang thai ăn khẩu phần giống nhau đã kết luận
có sự sai khác rất lớn giữa 2 nhóm này (bảng 7).
Bảng 7: Sự thay đổi cơ thể lợn mẹ trong thời gian mang thai
Lợn nái
FI (kg)
W1 (kg)
W2 (kg)
Tăng (kg)
Có chửa
225

- Sự biến đổi toàn thân: Thời kỳ đầu, quá trình trao đổi chất tăng lên, con
vật ăn khoẻ, tiêu hoá nhanh, khả năng tích lũy lớn dẫn đến con vật nhanh béo. Ở
thời kỳ cuối của thai do yêu cầu phát triển của bào thai, nó phải hấp thụ chất dinh
dưỡng từ con mẹ nên con mẹ thường gầy đi. Trong thời gian có chửa Glycogen
được tích lũy ở gan, mỡ trung tính và Cholesterol trong máu tăng lên, lượng
Hemoglobin trong máu bình thường, máu nhanh đông hơn. Lượng Ca, P trong
máu giảm xuống vào thời gian có chửa sau nhưng lượng K lại tăng lên. Hoạt
động của tim, phổi trở nên khó khăn do áp lực của bào thai đè lên xoang bụng và
ngực. Quá trình lưu thông máu, sự hô hấp và bài tiết đều bị ảnh hưởng. Do vậy ở
thời cuối có chửa con vật thường bị phù nề, khó thở và hay đi tiểu tiện, có thể
mệt mỏi, toát mồ môi.
- Sự biến đổi của bộ máy sinh dục: Buồng trứng tăng thể tích, thể vàng
được duy trì và tiết ra hormone Progesterone có tác dụng an thai và ức chế động
dục thể tích và trọng lượng tử cùng tăng lên tỷ lệ thuận với sự lớn lên của bào
thai, dây chằng bị kéo căng, sừng tử cung tăng lên nhiều lần. Lượng máu lưu
thông đến tử cung để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho thai. Cổ tử cung luôn
đóng kín để tách biệt âm đạo với tử cung, tránh các tác nhân cơ học, ký sinh
trùng và vi khuẩn.
- Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể của thời kỳ mang thai: Progesterone trong
10 ngày đầu tăng nhanh, có tác dụng an thai và ức chế động dục. Một đến hai
ngày trước khi đẻ, Progesterone giảm đột ngột. Oestrogen trong suốt thời kỳ có
chửa duy trì ở mức thấp.
2.2.3.4 Chăm sóc lợn nái mang thai
Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai là khâu quan trọng quyết định đến
số con sơ sinh/ổ và trọng lượng sơ sinh/con. Việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái
chửa phải đảm bảo các trứng đã thụ tinh thành hợp tử phát triển bình thường, hạn
chế sự tiêu biến của hợp tử trong quá trình mang thai.
- Thức ăn dinh dưỡng: Giai đoạn này cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho
sự duy trì của lợn mẹ và sự phát triển của bào thai. Ở giai đoạn mang thai cuối
(84 - 114 ngày), bào thai phát triển rất mạnh, nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái là

15 - 16
Nguồn: Hội chăn nuôi Việt Nam (2002)
- Chuồng trại: không sử dụng chuồng 2 bậc, không nhốt đông trong một ô
chuồng. Chuồng phải đảm bảo luôn khô sạch, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa
hè. Trước khi đẻ 7 - 10 ngày chuyển lợn mẹ sang chuồng đẻ để cho lợn mẹ làm
quen với chuồng mới. Chuồng phải được quét vôi, khử trùng sạch sẽ.
- Vệ sinh thú y: định kỳ tẩy giun sán trong thời gian có chửa, tẩy lần cuối
trước khi đẻ 2 tuần. Chú ý tắm rửa, diệt ký sinh trùng ngoài da như ghẻ, 1 tuần
trước khi chuyển sang ô chuồng mới. Trước khi đẻ 20 ngày tiêm vắc xin E.coli
phòng bệnh phân trắng cho lợn con về sau.
2.2.4

Lợn nái đẻ

2.2.4.1 Các giai đoạn đẻ của lợn
Quá trình phát triển của bào thai đến một giai đoạn nhất định, khi thai đã
phát triển hoàn chỉnh. Lợn nái có những biến đổi trong cơ thể để chuyển bị cho
qua trình đẻ của lợn nái. Thời gian mang thai của lợn trung bình là 114 ngày.
Quá trình đẻ của lợn được chia làm 4 giai đoạn:
- Giai đoạn mở cửa tử cung

15


Thân tử cung và sừng tử cung co bóp mạnh lúc đầu co bóp ngắn, nghỉ dài
về sau co bóp dài, nghỉ ngắn. Khi tử cung co bóp thai và nước màng thai ép vào
cổ tử cung làm cho cổ tử cung mở ra, một bộ phận màng thai chui qua cổ tử cung
và âm đạo. Do các co bóp mạnh màng thai vở, nước ối chảy ra làm trơn đường
thai ra. Mỗi lần tử cung co bóp từ 1 - 2 giây, khoảng cách mỗi lần co bóp là 20 30 giây. Thời gian mở tử cung là 3 - 6 giờ.
- Giai đoạn đẩy thai ra


Lợn nái nuôi con

Sau khi đẻ, lợn mẹ đi vào thời kỳ tiết sữa nuôi con chức năng này là do
tuyến vú đảm nhận, bao gồm hai quá trình cơ bản sinh sữa và thải sữa. Hoạt
động tiết sữa là một quá trình mang tính chất bản năng dưới sự điều hòa của hệ
thống thần kinh và thể dịch.
2.2.5.1 Quá trình hình thành sữa ở lợn
Sự hình thành sữa là một quá trình tổng hợp phức tạp xảy ra trong các tế
bào tuyến, chọn lọc dinh dưỡng từ huyết tương để tổng hợp nên những thành
phần đặc trưng của sữa. Một số thành phần của sữa được lọc từ huyết tương như
-globulin, enzime, hormon, khoáng. Các thành phần khác như cazein, lacto, mỡ
sữa phải trải qua quá trình tổng hợp từ tế bào tuyến.
- Mỡ sữa được tổng hợp từ các axit béo mạch ngắn 4-12C (30%). Các axit
béo kết hợp với glyxerin để tạo ra mở trung tính. Một phần mỡ sữa được sử dụng
từ các mở trung tính có trong huyết tương.
- Protein sữa: Chủ yếu là cazein (57 - 58 %), albumin (7,8%), globulin
(10%), proteotopepton (11-17 %) và các nitơ phi protein (7-8%). Hầu hết các
protein sữa được tổng hợp ở các tế bào tuyến từ các axit amin của máu chuyển
qua. Giá trị sinh vật học của protein sữa lợn khá cao vì nó chứa đủ các axit amin
cần thiết.
Ngoài ra, trong sữa còn chứa đầy đủ các chất khoáng như Canxi, Sắt, Đồng,
các loại vitamin A, B, C, D…và các men tiêu hoá như Amilaza, Dehydrogenara,
Lactora, Oxyclara.
Sữa lợn được phân làm hai loại là sữa đầu và sữa thường. Thành phần dinh
dưỡng của sữa đầu cao hơn sữa thường (bảng 9)

17



3,5
0,7

4,5 - 9,0
3,0 - 11,0
3.0 - 5,5
0,7 - 1,0

6,0
7,7
4,1
0,9

Nguồn: Ngô Ngọc Tú (1992)
Trong sữa đầu ngoài việc có hàm lượng dinh dưỡng cao nó còn có một hàm
lượng γ - Globulin có tác dụng miễn dịch cho lợn con mới sinh. Hàm lượng γGlobulin trong sữa giảm dần trong các ngày tiếp theo sau khi đẻ. Khả năng hấp
thụ γ - Globulin giảm nhanh theo từng giờ. Ngoài ra, còn có MgSO4, có tác dụng
tẩy cứt xu cho lợn con mới sinh, chuẩn bị cho quá trình tiêu hoá sữa mẹ. Vì vậy,
chăn nuôi lợn nái sinh sản cần cho lợn con bú sữa đầu càng sớm càng tốt.
2.2.5.2 Quá trình tiết sữa
Đối với lợn bầu vú không có bể sữa, sữa được sản xuất ra từ các tuyến bào
và được tích luỹ trong các xoang tuyến bào. Việc tiết sữa của chúng được thực
hiện theo cơ chế thần kinh thể dịch theo ba pha: Ngậm thúc vú, nằm im và mút
vú. Khi lợn con mút vú, đầu tiên lợn con ngậm và thúc vào vú mẹ, luồng xung
động hưng phấn thần kinh theo dây thần kinh hướng tâm truyền về vỏ nảo, rồi
tới vùng dưới đồi, tiết các yếu tố giải phóng, các yếu tố giải phóng tác động lên
thùy sau tuyến yên, kích thích tiết kích tế oxytoxin, oxytoxin đi tới tuyến vú và
làm co bóp tế bào biểu mô, cơ tuyến bào và cơ tuyến vú. Nhờ vậy sữa được thải
ra từ các xoang tuyến bào, qua ống dẩn sữa nhỏ rồi đến ống dẩn sữa lớn và chảy
ra ngoài theo ống tiết sữa, từ đó lợn con mới bú được. Do vậy khi lợn con bú

Lợn nái lai nội ngoại (lợn lai F1)

Mức ăn : Tự do
Mức ăn : Tự do
Năng lượng trao đổi : 2800 – 3000 Năng lượng trao đổi: 2900 – 3000
(Kcal/kg thức ăn)
(Kcal/kg thức ăn)
Protein thô (%) : 17 - 19
Protein thô (%) : 15 - 17
Nguồn: Hội chăn nuôi Việt Nam (2002)

19


- Chuồng trại: Phải bảo đảm vệ sinh, thông thoáng, ấm về mùa đông mát về
mùa hè, tránh được sự thay đổi của thời tiết, Cần kiểm soát nhiệt độ chuồng
nuôi trong tuần đầu. Nhiệt độ thích hợp cho nái là 200C trong khi heo sơ sinh cần
30 - 320C. Do vậy, chuồng nuôi phải có ô tập ăn và hệ thống lồng úm, đèn sưởi
ấm cho lợn con.
2.3 Đặc điểm sinh lý của lợn con
2.3.1

Lợn con theo mẹ

2.3.1.1 Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh
Trong giai đoạn này lợn con sinh trưởng rất nhanh, tầm vóc và thể trọng
tăng dần theo tuổi. Từ lúc sơ sinh đến lúc cai sữa, trọng lượng của lợn con tăng
từ 10-12 lần. So với các gia súc khác thì tốc độ sinh trưởng của lợn con tăng
nhanh hơn gấp nhiều lần.
2.3.1.2 Bộ máy tiêu hoá của lợn con phát triển nhanh nhưng chưa hoàn

3,8

0,7

0,8

0,04

2

10

73

5,6

0,2

1,2

0,09

3

20

213

7,3



10,7

4,3

6,6

69

115

3170

18,7

13,3

5,0

10,1

103

225

3400

18,8

14,1

Nhiệt độ cơ thể luôn có xu hướng giảm do: Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới
da mỏng, diện tích bề mặt so với khối lượng cơ thể cao nên khả năng chống lạnh
kém, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng
lượng chống lạnh bị hạn chế. Hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt nằm chưa hoàn
thiện. Trong giai đoạn này sở dĩ lợn con có khả năng điều hoà thân nhiệt là do sự
hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn. Cần
phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không bị lạnh. Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều
hòa thân nhiệt của lợn con bắt đầu ổn định.
2.3.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Lợn con khi sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể. Song lượng
kháng thể có trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa
đầu, cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động. Nó

21


phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ nhiều hay ít từ sữa mẹ. Quá trình hấp thu
nguyên vẹn phân tử globulin bị giảm rất nhanh theo thời gian. Lợn con có thể
hấp thu nguyên vẹn phân tử globulin vì trong sữa đầu có kháng men
Antitripsin nó làm mất hoạt lực men Tripsin của tuyến tụy. Đồng thời khoảng
cách giữa các tế bào vách ruột lợn con mới sinh rất lớn rất lớn nên phân tử
globulin được chuyển qua bằng con đường ẩm bào. Xuất phát từ đó chúng ta
thấy được việc cho lợn con bú sữa đầu là rất quan trọng và việc cho bú càng sớm
càng tốt (Nguyễn Thiện và cs, 2005).
2.3.1.5 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn con theo mẹ
Việc nuôi dưỡng lợn con phải đáp ứng các yêu cầu: Tỷ lệ nuôi sống cao,
lợn con sinh trưởng phát triển bình thường, có độ đồng điều cao và không mắc
bệnh nhất là bệnh thiếu máu và ỉa phân trắng.
Chăm sóc nuôi dưỡng lợn con phải đảm bảo được điều kiện sống tốt nhất
đồng thời cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho nhu cầu phát triển của lợn con. Để

- Lợn con sống độc lập nên thường xảy ra hiện tượng nhớ mẹ, nhớ đàn và
có thể cắn xé lẫn nhau để tranh dành thứ bậc trong đàn.
- Đây là giai đoạn nuôi có hiệu quả nhất bởi vì lợn con có khả năng tăng
trọng nhanh, khả năng tích luỹ nạc cao và các đặc điểm tốt như: Có tỷ lệ nuôi
sống cao, có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ lợn
mắc bệnh thấp.
2.3.2.2 Cai sữa lợn con
- Cai sữa lợn con phải đảm bảo các yêu cầu: Sau khi cai sữa lợn con phải có
tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh, sau khi cai sữa không mắc các bệnh về
đường tiêu hoá và rút ngắn thời gian lợn con bú sữa mẹ,
- Những nguyên tắc để cai sữa con thành công:
+ Thời gian phải phù hợp với đặc điểm sinh lý của lợn con. Khi cai sữa lợn
con đã có khả năng tự độc lập sống một mình.
+ Tránh gây ra đột ngột với lợn con và lợn mẹ khi cai sữa, tức là lợn con
sau khi cai sữa không bị khủng hoảng về dinh dưỡng cho sinh trưởng và phát
triển. Lợn mẹ sau khi cai sữa không xảy ra viêm vú hay sốt sữa.

23


+ Thời gian cai sữa: Việc xác định ngày cai sữa cho lợn con tùy thuộc vào
điều kiện từng cơ sở ở từng nơi, trình độ kỷ thuật của người chăn nuôi, độ đồng
đều đàn lợn con, khả năng ăn thức ăn nhân tạo cũng như khả năng nuôi con và
khả năng sinh sản lứa tiếp theo của lợn mẹ. Tuy nhiên không nên cai sữa lợn con
trước 18 ngày tuổi, nếu cai sữa quá sớm không có lợi về sức sinh sản của lợn mẹ
nhưng cai sữa quá 4 - 5 tuần sẽ làm giảm số lứa đẻ và số lợn con sản xuất bởi nái
trong một năm. Tuy nhiên trọng lượng lợn con phải đạt tối thiểu 5 kg khi cai sữa
để lợn con phát triển tốt trong giai đoạn sau cai sữa (Nguyễn Ngọc Tuấn và Trần
Thị Dân, 1997).
2.3.2.3 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn con sau cai sữa

thụ thai bị biến mất (theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi, 1985).Theo Self (1952)
thì 30 % số trứng rụng bị chết trong 25 ngày đầu có chữa và sau đó đên lúc đẻ
chết thêm 11 % nữa.
- Yếu tố dinh dưỡng:
Dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng, để đảm bảo khả năng sinh sản tốt của
lợn nái cần có chế độ nuôi dưỡng hợp lý, có giống tốt mà dinh dưỡng kém thì
vẫn không phát huy được khả năng sinh sản của lợn. Theo Zimmerman dinh
dưỡng tốt sẽ rút ngắn thời gian thành thục về tính từ 4-16 ngày so với mức chỉ
đáp ứng được 60-70% nhu cầu dinh dưỡng. Phần lớn các chỉ tiêu sinh sản đều có
hệ số di truyền thấp (Legault, 1970; Hutehentetal, 1981), vì vậy chăm sóc nuôi
dưỡng tốt là biện pháp hiệu quả để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái. Tuy
nhiên khẩu phần ăn nếu quá thừa protein cũng làm cho khả năng thụ thai giảm.
Các nguyên tố khoáng đa lượng và vi lượng có ảnh hưởng nhiều đến sinh sản.
Photpho được thừa nhận là một nhân tố cơ bản của tính năng sinh sản, vì
Photpho có tác động đến thùy trước tuyến yên kích thích tiết ra nội tiết tố sinh
dục. Các nguyên tố khoáng như Canxi, Kẽm, Iot, Mangan đều ảnh hưởng đến
năng suất sinh sản của lợn.
- Yếu tố môi trường sống:
Tiểu khí hậu chuồng nuôi nhất là độ ẩm và nhiệt độ không khí chuồng nuôi
có ảnh hưởng lớn tới chức năng sinh sản của lợn. Nhiệt độ và độ ẩm quá cao

25



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status