1
ĐẶT VẤN ĐỀ
Chăn nuôi lợn ở Việt Nam nói riêng và trên thế giới nói chung đóng vai trò
hết sức quan trọng trong hệ thống chăn nuôi. Lợn là loài gia súc được nuôi nhiều
và cung cấp lượng thực phẩm lớn nhất cho con người.
Việt Nam là một trong những quốc gia có nền chăn nuôi chưa phát triển,
năng suất chăn nuôi và chất lượng sản phẩm không cao. Kết quả này một phần là
do khó khăn về điều kiện tự nhiên, nhưng quan trọng hơn là do quy trình kỹ
thuật chăn nuôi còn hạn chế, hơn thế nữa các giống lợn được sử dụng cho chăn
nuôi có khả năng sản xuất và chất lượng sản phẩm chưa cao.
Chiến lược chăn nuôi lợn của Việt Nam trong thời gian tới là tăng số lượng
đầu lợn, nâng cao năng suất sản xuất và chất lượng sản phẩm bằng cách tăng tỉ lệ
máu ngoại cho đàn lợn nuôi trong nước. Thực hiện chiến lược chăn nuôi này
trong thời gian qua nhà nước ta đã cho nhập hàng loạt các giống lợn ngoại có
năng suất cao như Yorkshire, Landrace, Pietrian và Duroc. Từ đó tiến hành lai
tạo ra các con lai 2 máu, 3 máu, 4 máu nhằm nâng cao khả năng sản xuất và khả
năng thích nghi với điều kiện chăn nuôi Việt Nam.
Lai tạo có ý nghĩa quan trọng trong việc nâng cao khả năng và hiệu quả sản
xuất của vật nuôi. Con lai vừa kết hợp được các ưu điểm của những giống đem
lai vừa tận dụng được ưu thế lai của công thức lai. Nguyễn Thị Viễn và cs (2000)
ưu thế lai về tính trạng sinh sản của nhóm nái lai LY/YL đạt được từ 0,99-6,21%
và tính trạng tăng trọng g/ngày giai đoạn từ 90-150 ngày tuổi đã cải thiện được
2,03-3,48%. Trong chăn nuôi công nghiệp việc xác định công thức lai tốt, phù
hợp với điều kiện chăn nuôi của từng vùng là rất cần thiết.
Greenfed Việt Nam là công ty lớn trong lĩnh vực chăn nuôi lợn, có quy
trình chăn nuôi hiện đại. Trong thời gian qua công ty đã tiến hành nhập và lai tạo
thành công nhiều công thức lai và đưa các tổ hợp lai vào sử dụng trong chăn nuôi
công nghiệp. Điển hình là tổ hợp lai F 1(♀Landrace x ♂Yorkshire) làm nái sinh
sản, và tổ hợp lai lai 3 máu ♀(♀Landrace x ♂Yorkshire) x ♂(♀Landrace x ♂Duroc)
tổng đàn lợn lớn như: Nga, Anh, Pháp, Mỹ, Nhật, Canada, Hà Lan, Đan Mạch,
Đức, Ý, Úc, Trung Quốc, Singapore, Đài Loan. Nói chung ở các nước tiên tiến
và công nghiệp đều có chăn nuôi lợn phát triển theo hình thức công nghiệp và
đạt trình độ chuyên môn hoá cao.
Theo số liệu thống kê FAO (2004). Ngành chăn nuôi lợn toàn thế giới liên
tục tăng trưởng ổn định trong 15 năm qua (bảng 1) và dự kiến sẽ tiếp tục tăng
trưởng trong thời gian tới.
2
Bảng 1: Diễn biến số lượng đàn lợn thế giới
Năm
1960
1990
1995
2000
2001
2002
2003
2004
2007 (bảng 2).
Bảng 2: Diễn biến số lượng đàn lợn và sản lượng thịt lợn Việt Nam
Năm
Chỉ tiêu
Đầu lợn (triệu con)
Sản lượng thịt (triệu tấn)
2002
2003
2004
2005
2006
2007
23,2
1,65
24,9
1,80
26,1
2,01
27,4
2,29
về tính. Sự thành thục về tính được tính từ lần động dục và rụng trứng đầu tiên
của gia súc cái. Nếu trứng được gặp tinh trùng thì có khả năng thụ thai. Ở giai
đoạn này dưới ảnh hưởng của nội tiết sinh dục, cơ thể có những biến đổi đặc
trưng, cơ quan sinh dục phát triển, sinh ra các giao tử hoạt động, có khả năng kết
hợp với giao tử đực để sinh ra con cái. Đồng thời gia súc có những thay đổi về
hành vi, biểu hiện bên ngoài.
Lợn cái thành thục về tính vào khoảng 4-9 tháng tuổi. Thông thường các
giống lợn nội có tuổi thành thục về tính sớm hơn so với lợn lai và lợn ngoại.
Tuổi động dục lần đầu của các giống lợn nội như lợn ỉ, lợn móng cái là 3-5 tháng
tuổi. Lợn nái lai tuổi động dục lần đầu muộn hơn, ở lợn nái F1(nội x ngoại) động
dục bắt đầu lúc 5-7 tháng tuổi. Lợn ngoại thành thục về tính vào khoảng 6-8
tháng tuổi.
Các nhân tố ảnh hưởng đến tuổi thành thục về tính:
+ Giống: Hầu hết các giống nội thành thục sớm hơn giống nhập ngoại,
giống có tầm vóc nhỏ thường thành thục sớm hơn giống có tầm vóc lớn.
+ Chế độ dinh dưỡng: Gia súc được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn đầy
đủ, phù hợp nhu cầu dinh duỡng thành thục sinh dục sớm hơn so với gia súc
được nuôi dưỡng với khẩu phần thức ăn có giá trị dinh dưõng thấp.
4
+ Ngoài ra tuổi thành thục về tính còn phụ thuộc vào việc tiếp xúc với con
đực. Sự có mặt của con đực trong giai đoạn trước tuổi động dục sẽ làm tăng
nhanh quá trình thành thục về tính.
2.2.1.2 Chu kì động dục
Gia súc cái khi đến tuổi thành thục về tính sẽ xuất hiện chu kỳ động dục.
Đó là sự phát triển của nang trứng theo tính chu kỳ dưới sự điều hoà của
hormone thùy trước tuyến yên làm cho trứng chín và rụng diễn ra một cách có
chu kỳ. Hiện tượng trứng chín và rụng kèm theo những biểu hiện bên ngoài cơ
estrogen dẫn tới giảm hưng phấn sinh dục. Con vật trở lại trạng thái bình thường,
không biểu hiện đòi hỏi sinh dục nửa. Âm hộ hết sưng, lợn ăn uống như bình
thường.
- Giai đoạn yên tĩnh (diestrucs); thường bắt đầu từ ngày thứ 4 sau khi trứng
rụng, khi thể vàng bắt đầu hoạt động mạnh. Đây là giai đoạn kéo dài nhất. đối
với gia súc không có thai, giai đoạn này sẽ kết thúc khi thể vàng bị tiêu biến. Lợn
không còn biểu hiện sinh dục, cơ quan sinh dục phục hồi chức năng để chuẩn bị
cho chu kỳ sinh dục tiếp theo.
Các nhân tố ảnh hưởng đến chu kì động dục:
+ Giống: Các giống lợn khác nhau có chu kì động dục khác nhau như lợn ỉ
từ 19-21 ngày, lợn móng cái từ 19-25 ngày.
+ Tuổi: Nái tơ thường có chu kì tính ngắn hơn lợn nái trưởng thành.
+ Dinh dưỡng: Nếu dinh dưỡng tốt thì chu kì tính ổn định và ngược lại.
+ Ngoài các nhân tố trên chu kỳ động dục còn chịu tác động của một số
nhân tố khác như: Nhiệt độ, chế độ chiếu sáng, pheromon, tiếng kêu của con đực
(Lê Văn Thọ và Đàm Văn Tiện, 1992).
2.2.1.3 Sự thành thục về thể vóc
Sau một thời gian sinh trưởng và phát triển, đến một thời điểm nhất định
con vật đạt tới độ trưởng thành về thể vóc. Lúc này cơ thể đã tương đối hoàn
chỉnh về sự phát triển của các cơ quan bộ phận, tầm vóc, trọng lượng, kích thước
các chiều đo ổn định và gia súc có khả năng sinh sản cao.
Tuổi thành thục về thể vóc của các giống lợn khác nhau là khác nhau. Lợn
Móng Cái thành thục về thể vóc lúc 6 tháng tuổi, trong khi đó lợn Ỉ là 8 tháng
6
tuổi. Ngoài ra sự thành thục về thể vóc còn phụ thuộc vào chế độ chăm sóc nuôi
dưỡng, bệnh tật,…
2.2.1.4 Tuổi phối giống lần đầu
đầy đủ dinh dưỡng cho nhu cầu duy trì và tăng trọng của lợn hậu bị. Dinh dưỡng
thức ăn quyết định trực tiếp đến thể trạng của lợn hậu bị, nếu cung cấp thừa dinh
dưỡng đặc biệt là năng lượng lợn sẽ mập gây hiện tượng nân sổi, nếu dinh dưỡng
không đảm bảo lợn sẽ gầy gây hiện tượng không động dục, động dục không đều
hoặc không đủ trọng lượng phối làm giảm khả năng sinh sản của lợn nái. Thức
ăn của lợn hậu bị cần cung cấp đầy đủ protein, năng lượng, vitamin, khoáng.
- Chuồng trại: Lợn nái hậu bị có thể được nuôi 4-10 con/ô chuồng, với diện
tích 2,5-3m2/con. Trong chuồng hậu bị nên bố trí 1 ô nọc nhỏ để lợn hậu bị được
tiếp xúc với con đực kích thích động dục sớm. Chuồng trại phải luôn khô sạch,
đảm bảo nhiệt độ, độ ẩm, và thông thoáng thích hợp.
-Vế sinh tắm chải: Lợn nái hậu bị phải được thường xuyên tắm chải đặc biệt
là về mùa hè nóng. Vệ sinh tắm chải có tác dụng ngăn được các bệnh ngoài da,
kích thích thèm ăn, nâng cao sức khoẻ và hoạt động tính dục.
2.2.2
Sinh lý thụ thai
2.2.2.1 Sự hình thành và phát triển của trứng
Tế bào trứng được hình thành trong buồng trứng được phát triển từ các
noãn nguyên bào (Ovogonie). Ở giai đoạn sớm của đời sống cá thể, các noãn
nguyên bào tương tự như tinh nguyên bào. Trải qua nhiều lần phân bào nguyên
nhiễm đến noãn bào sơ cấp. Tất cả các noãn nguyên bào được bao bởi lớp tế bào
biểu mô. Đến khi thành thục về tính, dưới ảnh hưởng điều hòa của trung khu
sinh dục ở vùng dưới đồi (Hypothalamus) thông qua các yếu tố giải phóng kích
dục tố RF, kích thích tuyến yên tiết hormon hướng sinh dục FSH, LH để điều
khiển quá trình phát triển của nang trứng và rụng trứng. Nói một cách khác từ
lần động dục đầu tiên các tế bào trứng nguyên thủy thay phiên nhau phát triển để
hình thành trứng chín.
2.2.2.2 Sự rụng trứng
Rụng trứng là một quá trình sinh lý phức tạp, quá trình rụng trứng được
13,9 trứng, dinh dưỡng thấp thì số trứng là 11,1 trứng, mức dinh dưỡng thấp thấp thì số trứng rụng là 10,6 trứng, còn mức dinh dưỡng thấp - cao số trứng
rụng là 13,6 trứng. Nghiên cứu cũng chứng minh rằng, đối với các giống lợn
khác nhau thì số trứng rụng trong một chu kỳ cũng khác nhau. Theo Lưu Kỷ
9
(1982) lợn F1 (Đại Bạch x Ỉ ) ở chu kỳ động dục thứ ba có số lượng trứng là 11,3
trứng, còn theo Bruger (1972) thì lợn nái Đại Bạch có số lượng trứng rụng là
16,7 trứng.
2.2.2.3 Thời điểm phối tinh thích hợp
Thời điểm phối tinh thích hợp là thời điểm phối giống có nhiều nhất các
tinh trùng có khả năng thụ tinh gặp nhiều nhất các tế bào trứng có khả năng thụ
thai. Thời điểm này quyết định đến tỷ lệ thụ thai và số con đẻ ra trên ổ. Trứng và
tinh trùng tiến hành quá trình thụ tinh ở 1/3 đầu trên ống dẫn trứng là tốt nhất.
Tinh trùng mất 1-2 giờ ở đường sinh dục con cái để di chuyển vị trí thích hợp.
Đối với tế bào trứng sau khi rụng phải mất 1-2 giờ để di chuyển thích hợp và
thời gian tế bào rụng trứng là 8-12 giờ.
Để lợn nái đạt tỷ lệ thụ thai cao, số con đẻ ra nhiều cần tiến hành phối giống
đúng lúc, vì thời gian trứng tồn tại và hiệu quả thụ thai rất ngắn, trong khi đó thì
tinh trùng có thể kéo dài và sống trong tử cung khoảng 45-58 giờ. Do vậy thời
điểm phối giống thích hợp nhất là giữa giai đoạn chịu đực. Lợn nái lai và nái
ngoại cho phối vào cuối ngày thứ 3 và sang ngày thứ 4 tính từ lúc bắt đầu động
dục, hoặc sau khi có hiện tượng chịu đực khoảng 6-8 tiếng thì cho phối. Đối với
lợn nái nội cần phối sớm hơn nái lai và lợn ngoại thuần 1 ngày, cụ thể vào cuối
ngày thứ 2 và đầu ngày thứ 3 kể từ lúc bắt đầu động dục.
Thời gian lợn cái biểu hiện động dục cao độ nhất là lúc “mê ì”, âm hộ
chuyển từ màu đỏ hồng sang thâm tái, lợn có thể ít ăn hoặc bỏ ăn hoàn toàn,
thích nhảy lên lưng con khác, nếu ta ấn mạnh vào vùng hông khum thì thấy lợn
đứng yên, cong đuôi và thích giao phối. Đây là thời điểm phối tinh thích hợp
Tuổi
Chiều dài
centimet
% so với 30 ngày
(ngày)
30
51
72
93
114
2,5 ± 0,3
9,8 ± 1,0
16,3 ± 2.0
22,9 ± 2.0
29,4 ± 8,6
Trọng lượng
gam
% so với 30 ngày
1,50 ± 0,005
49,80 ± 1,4
220,50 ± 7,3
616,9 ± 15,0
1049 ± 42,7
3,9
6,5
9,2
11,8
70 ngày tuổi, sau đó thì giảm dần đến khi đẻ còn 2 kg (bảng 5)
Bảng 5: Sự phát triển của nhau thai, dịch ối, dịch niệu
Nhau thai
Dịch ối, niệu
Tuổi thai
% so với
% so với
Số thai
(gam)
(gam)
(ngày)
47 ngày
47 ngày
47
12
800
1350
63
11
2100
263
5050
374
81
11
2550
319
5650
419
96
47
1300
63
1450
189
81
2600
200
96
3411
265
108
3770
290
Nguồn: Moustagrad (1962)
2.2.3.3 Sự thay đổi của cơ thể lợn mẹ.
Trong thời gian mang thai cơ thể lợn mẹ cũng có những biến đổi như: Lợn
mẹ không động dục, trao đổi cơ bản tăng “quá trình đồng hóa chiếm ưu thế hơn
so với dị hóa”. Salmon và cs (1967) khi so sánh khả năng tăng trọng của lợn nái
mang thai so với lợn nái không mang thai ăn khẩu phần giống nhau đã kết luận
có sự sai khác rất lớn giữa 2 nhóm này (bảng 7).
Bảng 7: Sự thay đổi cơ thể lợn mẹ trong thời gian mang thai
Lợn nái
FI (kg)
W1 (kg)
W2 (kg)
Tăng (kg)
Có chửa
225
230
dưỡng từ con mẹ nên con mẹ thường gầy đi. Trong thời gian có chửa Glycogen
được tích lũy ở gan, mỡ trung tính và Cholesterol trong máu tăng lên, lượng
Hemoglobin trong máu bình thường, máu nhanh đông hơn. Lượng Ca, P trong
máu giảm xuống vào thời gian có chửa sau nhưng lượng K lại tăng lên. Hoạt
động của tim, phổi trở nên khó khăn do áp lực của bào thai đè lên xoang bụng và
ngực. Quá trình lưu thông máu, sự hô hấp và bài tiết đều bị ảnh hưởng. Do vậy ở
thời cuối có chửa con vật thường bị phù nề, khó thở và hay đi tiểu tiện, có thể
mệt mỏi, toát mồ môi.
- Sự biến đổi của bộ máy sinh dục: Buồng trứng tăng thể tích, thể vàng
được duy trì và tiết ra hormone Progesterone có tác dụng an thai và ức chế động
dục thể tích và trọng lượng tử cùng tăng lên tỷ lệ thuận với sự lớn lên của bào
thai, dây chằng bị kéo căng, sừng tử cung tăng lên nhiều lần. Lượng máu lưu
thông đến tử cung để cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho thai. Cổ tử cung luôn
đóng kín để tách biệt âm đạo với tử cung, tránh các tác nhân cơ học, ký sinh
trùng và vi khuẩn.
- Sự biến đổi nội tiết trong cơ thể của thời kỳ mang thai: Progesterone trong
10 ngày đầu tăng nhanh, có tác dụng an thai và ức chế động dục. Một đến hai
ngày trước khi đẻ, Progesterone giảm đột ngột. Oestrogen trong suốt thời kỳ có
chửa duy trì ở mức thấp.
2.2.3.4 Chăm sóc lợn nái mang thai
Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái mang thai là khâu quan trọng quyết định đến
số con sơ sinh/ổ và trọng lượng sơ sinh/con. Việc chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái
chửa phải đảm bảo các trứng đã thụ tinh thành hợp tử phát triển bình thường, hạn
chế sự tiêu biến của hợp tử trong quá trình mang thai.
- Thức ăn dinh dưỡng: Giai đoạn này cần cung cấp đầy đủ dinh dưỡng cho
sự duy trì của lợn mẹ và sự phát triển của bào thai. Ở giai đoạn mang thai cuối
(84 - 114 ngày), bào thai phát triển rất mạnh, nhu cầu dinh dưỡng cho lợn nái là
rất lớn trong khi thai phát triển chèn ép bộ máy tiêu hoá nên lợn không ăn được
13
1,6 - 1,7
2900 - 3000
15
1,8 - 2,0
2800 - 3000
13 - 14
2,2 - 2,4
2800 - 3000
15 - 16
Nguồn: Hội chăn nuôi Việt Nam (2002)
- Chuồng trại: không sử dụng chuồng 2 bậc, không nhốt đông trong một ô
chuồng. Chuồng phải đảm bảo luôn khô sạch, ấm áp mùa đông, thoáng mát mùa
hè. Trước khi đẻ 7 - 10 ngày chuyển lợn mẹ sang chuồng đẻ để cho lợn mẹ làm
quen với chuồng mới. Chuồng phải được quét vôi, khử trùng sạch sẽ.
- Vệ sinh thú y: định kỳ tẩy giun sán trong thời gian có chửa, tẩy lần cuối
trước khi đẻ 2 tuần. Chú ý tắm rửa, diệt ký sinh trùng ngoài da như ghẻ, 1 tuần
trước khi chuyển sang ô chuồng mới. Trước khi đẻ 20 ngày tiêm vắc xin E.coli
phòng bệnh phân trắng cho lợn con về sau.
2.2.4
Lợn nái đẻ
2.2.4.1 Các giai đoạn đẻ của lợn
Quá trình phát triển của bào thai đến một giai đoạn nhất định, khi thai đã
phát triển hoàn chỉnh. Lợn nái có những biến đổi trong cơ thể để chuyển bị cho
Lợn nái được đưa lên chuồng đẻ 1 tuần trước ngày đẻ dự kiến, tắm sạch và
sát trùng kỷ. Chuẩn bị lồng úm cho lợn con và các dụng cụ đở đẻ cần thiết như:
Panh, kim chỉ khâu, kéo kìm bấm răng, cồn iod, vải khô, xô đựng, vitaminK. Tất
cả các dụng cụ phải được vệ sinh và sát trùng kỷ.
Lợn con đẻ ra trước tiên phải lâu khô mủi, miệng giúp chúng hô hấp dễ
dàng. Dùng vải khô lau sạch theo chiều từ sau ra trước cho lợn con khô ráo sạch
sẽ, hắt rốn, cắt rốn, cắt đuôi và bấm răng nanh cho lợn. Sau khi đỡ đẻ xong cho
lợn con vào lồng úm, để khô ráo, cho bú sữa đầu càng sớm càng tốt.
16
2.2.5
Lợn nái nuôi con
Sau khi đẻ, lợn mẹ đi vào thời kỳ tiết sữa nuôi con chức năng này là do
tuyến vú đảm nhận, bao gồm hai quá trình cơ bản sinh sữa và thải sữa. Hoạt
động tiết sữa là một quá trình mang tính chất bản năng dưới sự điều hòa của hệ
thống thần kinh và thể dịch.
2.2.5.1 Quá trình hình thành sữa ở lợn
Sự hình thành sữa là một quá trình tổng hợp phức tạp xảy ra trong các tế
bào tuyến, chọn lọc dinh dưỡng từ huyết tương để tổng hợp nên những thành
phần đặc trưng của sữa. Một số thành phần của sữa được lọc từ huyết tương như
γ-globulin, enzime, hormon, khoáng. Các thành phần khác như cazein, lacto, mỡ
sữa phải trải qua quá trình tổng hợp từ tế bào tuyến.
- Mỡ sữa được tổng hợp từ các axit béo mạch ngắn 4-12C (30%). Các axit
béo kết hợp với glyxerin để tạo ra mở trung tính. Một phần mỡ sữa được sử dụng
từ các mở trung tính có trong huyết tương.
- Protein sữa: Chủ yếu là cazein (57 - 58 %), albumin (7,8%), globulin
Protein
Chất béo
Đường sữa
Khoáng
12,3
1,7
2,5
0,5
- 17,77
- 9,5
- 5,0
- 0,8
15,7
5,2
3,5
0,7
4,5 - 9,0
3,0 - 11,0
3.0 - 5,5
0,7 - 1,0
6,0
7,7
4,1
0,9
cai sữa ngày thứ 21 - 42 tùy theo điều kiện thức ăn có được cho lợn con và điều
kiện chăm sóc quản lý.
2.2.5.3 Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con
Chăm sóc nuôi dưỡng lợn nái nuôi con cần đạt được các yêu cầu: Lợn nái
nuôi con tiết nhiều sữa với chất lượng tốt. Cả lợn mẹ và lợn con khỏe mạnh, lợn
con sinh trưởng nhanh. Số con và trọng lượng cai sữa cao. Tỷ lệ đồng đều của
đàn lợn con cao. Lợn mẹ ít bị hao mòn trong giai đoạn nuôi con và sớm động
dục lại sau cai sữa.
- Đặc điểm nổi bật trong giai đoạn này là tiết sữa nuôi con do đó nhu cầu
dinh dưỡng của mẹ quyết định đến sức tiết sữa nuôi con, ảnh hưởng trực tiếp đến
sự sinh trưởng và phát triển của lợn con cũng như tỷ lệ hao mòn của lợn mẹ, vì
vậy cần có chế độ dinh dưỡng thích hợp cho lợn mẹ từ giai đoạn nuôi con đến
khi lợn con cai sữa. Thức ăn cho lợn nái nuôi con phải có chất lượng tốt, cho lợn
ăn tự do (bảng 10).
Bảng 10: Chế độ dinh dưỡng cho lợn nái nuôi con
Lợn ngoại và lợn lai ngoại x ngoại
Lợn nái lai nội ngoại (lợn lai F1)
Mức ăn : Tự do
Mức ăn : Tự do
Năng lượng trao đổi : 2800 – 3000 Năng lượng trao đổi: 2900 – 3000
(Kcal/kg thức ăn)
(Kcal/kg thức ăn)
Protein thô (%) : 17 - 19
Protein thô (%) : 15 - 17
Nguồn: Hội chăn nuôi Việt Nam (2002)
- Chuồng trại: Phải bảo đảm vệ sinh, thông thoáng, ấm về mùa đông mát về
mùa hè, tránh được sự thay đổi của thời tiết, Cần kiểm soát nhiệt độ chuồng
nuôi trong tuần đầu. Nhiệt độ thích hợp cho nái là 200C trong khi heo sơ sinh cần
lượng (kg)
(ngày)
dạ dày (l)
m
l
Ruột già
m
l
1
1
25
3,8
0,7
0,8
0,04
2
10
73
6,0
3,1
2,1
32
108
2500
18,6
10,7
4,3
6,6
69
115
3170
18,7
13,3
20,6
6,8
15,7
Nguồn: Braude (1970)
Mặc dù bộ máy tiêu hoá phát triển rất nhanh nhưng chưa hoàn thiện. Khả
năng tiêu hoá của lợn con còn rất kém do số lượng và hoạt lực các men trong
đường tiêu hoá của lợn con hạn chế. Dịch vị của lợn con dưới một tháng tuổi
hoàn toàn không có HCl tự do, vì lượng axit tiết ra ít và nó nhanh chóng liên kết
với các niêm dịch làm cho hàm lượng HCl tự do rất ít hoặc hoàn toàn không có
trong dạ dày của lợn con bú sữa. Vì thiếu HCl tự do trong dạ dày nên hệ vi sinh
vật dễ lên men gây nên hiện tượng tiêu chảy ở lợn con.
2.3.1.3 Khả năng điều hoà thân nhiệt kém
Cơ thể lợn con thường sinh ra nhiệt năng lớn, nhiệt lượng của cơ thể liên
tục toả ra bên ngoài do sự chênh lệch giữa thân nhiệt và nhiệt độ môi trường.
Nhiệt độ cơ thể luôn có xu hướng giảm do: Lông của lợn con thưa, lớp mỡ dưới
da mỏng, diện tích bề mặt so với khối lượng cơ thể cao nên khả năng chống lạnh
kém, lượng mỡ và glycogen dự trữ trong cơ thể thấp nên khả năng cung cấp năng
lượng chống lạnh bị hạn chế. Hệ thần kinh điều khiển thân nhiệt nằm chưa hoàn
thiện. Trong giai đoạn này sở dĩ lợn con có khả năng điều hoà thân nhiệt là do sự
hoạt động rất mạnh của hệ tuần hoàn cũng như sự thay đổi tư thế của lợn. Cần
phải sưởi ấm đảm bảo cho lợn con không bị lạnh. Sau 3 tuần tuổi, khả năng điều
hòa thân nhiệt của lợn con bắt đầu ổn định.
2.3.1.4 Đặc điểm về khả năng miễn dịch
Lợn con khi sinh ra trong máu hầu như không có kháng thể. Song lượng
kháng thể có trong máu lợn con được tăng rất nhanh sau khi lợn con được bú sữa
đầu, cho nên nói rằng ở lợn con khả năng miễn dịch là hoàn toàn thụ động. Nó
phụ thuộc vào lượng kháng thể hấp thụ nhiều hay ít từ sữa mẹ. Quá trình hấp thu
2.3.2
Lợn con sau cai sữa
2.3.2.1 Đặc điểm sinh lý lợn con sau cai sữa
- Trong vòng 20 ngày đầu sau khi lợn con cai sữa, từ chổ lợn con đang phụ
thuộc vào lợn mẹ và thức ăn bổ sung, khi cai sữa lợn con phải sống độc lập và tự
lấy dinh dưỡng để nuôi cơ thể.
22
- Lợn con có tốc độ sinh trưởng nhanh, đặc biệt là các tổ chức như xương,
cơ bắp và bộ máy tiêu hoá, cũng như cơ năng hoạt động của nó.
- Sức đề kháng của lợn con còn kém, nhạy cảm với các yếu tố môi trường
xung quanh nên lợn con rất dể bị nhiễm bệnh tật, đặc biệt là các bệnh về đường
tiêu hoá.
- Lợn con sống độc lập nên thường xảy ra hiện tượng nhớ mẹ, nhớ đàn và
có thể cắn xé lẫn nhau để tranh dành thứ bậc trong đàn.
- Đây là giai đoạn nuôi có hiệu quả nhất bởi vì lợn con có khả năng tăng
trọng nhanh, khả năng tích luỹ nạc cao và các đặc điểm tốt như: Có tỷ lệ nuôi
sống cao, có tốc độ sinh trưởng phát dục nhanh, tiêu tốn thức ăn thấp, tỷ lệ lợn
mắc bệnh thấp.
2.3.2.2 Cai sữa lợn con
- Cai sữa lợn con phải đảm bảo các yêu cầu: Sau khi cai sữa lợn con phải có
tốc độ sinh trưởng phát triển nhanh, sau khi cai sữa không mắc các bệnh về
đường tiêu hoá và rút ngắn thời gian lợn con bú sữa mẹ,
- Những nguyên tắc để cai sữa con thành công:
+ Thời gian phải phù hợp với đặc điểm sinh lý của lợn con. Khi cai sữa lợn
con đã có khả năng tự độc lập sống một mình.
bằng các vắc xin như tụ huyết trùng, phó thương hàn, viêm phổi, lở mồm long
móng, dịch tả lợn. Trong thời gian này chúng ta phải tẩy giun sán cho lợn con
bằng các loại thuốc dể tẩy và ít gây ngộ độc cho lợn con.
2.3.2.4 Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản ở lợn nái (phần này
viết đơn giản quá).
- Yếu tố di truyền:
+ Giống: Các giống khác nhau có khả năng sinh sản khác nhau, do mỗi
giống đều có đặc trưng sinh sản riêng. Thông thường các giống nội có khả năng
sinh sản tốt hơn các giống ngoại, một số công thức lai do tạo được ưu thế lai về
các tính trạng sinh sản nên có khả năng sinh sản tốt hơn bố mẹ. Trong cùng một
giống tuổi và lứa đẻ khác nhau cũng có năng suất sinh sản không giống nhau.
Nghiên cứu của Venex (1985) sự khác nhau về tuổi động dục đầu biến động đến
200 %. Số con đẻ ra trong 2 lứa đầu lên đến 200 - 300 %.
24
+ Sự tiêu biến của hợp tử: Trong tháng chữa thứ nhất có 20 - 30 % trứng
thụ thai bị biến mất (theo Trần Cừ, Nguyễn Khắc Khôi, 1985).Theo Self (1952)
thì 30 % số trứng rụng bị chết trong 25 ngày đầu có chữa và sau đó đên lúc đẻ
chết thêm 11 % nữa.
- Yếu tố dinh dưỡng:
Dinh dưỡng là yếu tố rất quan trọng, để đảm bảo khả năng sinh sản tốt của
lợn nái cần có chế độ nuôi dưỡng hợp lý, có giống tốt mà dinh dưỡng kém thì
vẫn không phát huy được khả năng sinh sản của lợn. Theo Zimmerman dinh
dưỡng tốt sẽ rút ngắn thời gian thành thục về tính từ 4-16 ngày so với mức chỉ
đáp ứng được 60-70% nhu cầu dinh dưỡng. Phần lớn các chỉ tiêu sinh sản đều có
hệ số di truyền thấp (Legault, 1970; Hutehentetal, 1981), vì vậy chăm sóc nuôi
dưỡng tốt là biện pháp hiệu quả để nâng cao khả năng sinh sản của lợn nái. Tuy
nhiên khẩu phần ăn nếu quá thừa protein cũng làm cho khả năng thụ thai giảm.