lời mở đầu
Xu thế hiện nay của thế giới là tự do hoá thơng mại và đầu t, trong đó, đầu
t trực tiếp nớc ngoài là một hoạt động có vị trí ngày càng quan trọng đối với cả nớc
đầu t và nớc tiếp nhận đầu t. Khai thác sử dụng đầu t nớc ngoài một cách có hiệu
quả đang là mục tiêu đợc u tiên hàng đầu của nhiều nớc trên thế giới, nhất là đối
với các nớc đang phát triển.
Kể từ khi Luật đầu t trực tiếp nớc ngoài của Việt Nam ban hành năm 1987,
không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn mà nguồn vốn này đã đóng góp
cho sự phát triển kinh tế Việt Nam. Nói cách khác, Việt Nam không thể thiếu
nguồn vốn này cho sự phát triển kinh tế nếu muốn hoà nhập vào nền kinh tế thế
giới và không muốn tụt hậu.
Sau hàng loạt sự kiện xảy ra trong thập kỷ 90, đặc biệt là sự sụp đổ của các
nớc Xã hội chủ nghĩa Đông Âu và Liên Xô cũ và cuộc khủng hoảng tài chính tiền
tệ châu á năm 1997, nền kinh tế Việt Nam rơi vào tình trạng hụt hẫng do mất đi
các thị trờng truyền thống và sự suy giảm của các hoạt động kinh tế đối ngoại. Do
đó, xuất hiện một yêu cầu mới là cần phải thờng xuyên mở rộng và nâng cao hiệu
quả quan hệ hợp tác, đầu t với nhiều nớc trên thế giới, nhất là với những nớc phát
triển cao, có công nghệ kỹ thuật tiên tiến nh các nớc EU. Tuy nhiên, cho đến nay
dù các nhà đầu t EU đã trở thành một trong ba nhà đầu t lớn nhất ở Việt Nam nhng
về tài chính cũng nh kỹ thuật, lợng vốn đầu t trực tiếp mà họ đa vào Việt Nam vẫn
cha tơng xứng với tiềm năng sẵn có.
Trớc tình hình đó, việc nghiên cứu, tìm hiểu thực trạng hoạt động đầu t trực
tiếp của EU vào Việt Nam, phân tích những thành công cũng nh trở ngại của hoạt
động này không những sẽ giúp chúng ta hình dung đầy đủ hơn bức tranh đầu t nớc
ngoài ở Việt Nam hiện nay, mà còn góp phần cung cấp những hiểu biết để đa ra
những chính sách, kiến nghị góp phần tích cực vào việc thúc đẩy hơn nữa hoạt
động này. Đây sẽ là những căn cứ quan trọng để hoạch định chính sách kinh tế
đối ngoại của Việt Nam với các nớc EU.
Với những lý do đó, tôi chọn đề tài "Đầu t trực tiếp nớc ngoài của EU vào
Việt Nam - Thực trạng và giải pháp" để nghiên cứu cho khoá luận tốt nghiệp. Để
viết bài, tôi đã sử dụng các phơng pháp luận sau: phơng pháp phân tích và tổng
khác nhau, vì vậy mới có sự di chuyển vốn giữa các quốc gia mà các bên mang
quốc tịch. ĐTQT là một quá trình diễn ra trong một thời gian dài, có thể từ 5 đến
20 năm và có thể lên tới 50 năm hoặc lâu hơn. Vốn ĐTQT đợc biểu hiện dới nhiều
hình thức, có thể là tiền mặt, giấy tờ có giá trị, máy móc thiết bị, nguyên vật liệu,
quyền sử mặt dụng đất, bằng phát minh, sáng chế, bí quyết kỹ thuật hay nhãn hiệu
hàng hoá, kinh nghiệm quản lý hay danh tiếng của công ty, v.v Lợi ích mà hoạt
động ĐTQT đem lại cũng rất đa dạng, không chỉ là lợi ích kinh tế mà còn có cả lợi
ích chính trị văn hoá - xã hội, lợi ích về môi trờng. ĐTQT đợc chia ra thành hai
loại hình đầu t cơ bản: Đầu t gián tiếp và đầu t trực tiếp. Với phạm vi đề án này,
3
tôi chỉ đề cập đến loại hình đầu t trực tiếp trong ĐTQT, hay còn gọi là đầu t trực
tiếp nớc ngoài (ĐTTTNN).
ĐTTTNN (Foreign Direct Investment FDI) là một hình thức di chuyển vốn
quốc tế, trong đó ngời chủ sở hữu vốn đồng thời là ngời trực tiếp quản lý và điều
hành hoạt động sử dụng vốn.
Thực chất, ĐTTTNN là việc các công ty nớc ngoài đầu t vốn vào nớc sở tại,
nhằm xây dựng các cơ sở sản xuất và làm chủ toàn bộ hoặc từng phần cơ sở đó.
Nói khác đi, đây chính là hình thức mà chủ đầu t nớc ngoài đóng góp một số vốn
đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, và điều đó cho phép họ trực tiếp tham
gia điều hành dự án đầu t có toàn bộ hoặc một phần số vốn của họ.
Trong hoạt động ĐTTTNN, nớc đi đầu t đợc gọi là nớc chủ nhà, còn nớc tiếp
nhận vốn đầu t đợc gọi là nớc sở tại.
Hoạt động ĐTQT nói chung và hoạt động ĐTTTNN nói riêng hình thành
không chỉ đơn thuần là do mong muốn của các nhà đầu t hay của các quốc gia đi
đầu t, mà đó chính là một tất yếu khách quan.
2. Tính tất yếu khách quan của hoạt động đầu t trực tiếp nớc ngoài
ĐTTTNN hình thành là do sự cần thiết khách quan và khả năng sẵn có của
các quốc gia, thể hiện ở một số điểm sau :
- Do sự gặp gỡ lợi ích giữa các bên trong hoạt động ĐTTTNN:
+ Đối với bên đi đầu t: Do có nhiều vốn và cạnh tranh khốc liệt nên tỷ
ĐTTTNN là vốn tự có của chủ đầu t đợc quy định theo luật đầu t. Sau khi góp vốn
hợp lệ, nhà đầu t nớc ngoài có quyền tham gia vào việc quản lý và điều hành dự án
đầu t. ở Việt Nam, Luật đầu t nớc ngoài quy định tỷ lệ góp vốn của bên nớc ngoài
tối thiểu không dói 30% vốn pháp định và không quy định giới hạn vốn tối đa. ở
Mỹ tỷ lệ này đợc quy định là 10%, một số nớc khác là 20%.
* Quyền quản lý dự án đầu t phụ thuộc vào mức độ góp vốn của mỗi bên, và
sự hoạt động dới bất cứ hình thức nào của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài
phải tuân thủ pháp luật ở nớc sở tại. Chẳng hạn, nếu vốn góp của nhà đầu t là
100% thì nhà đầu t nớc ngoài có toàn quyền quản lý doanh nghiệp, và quyền này
sẽ bị giảm đi nếu tỷ lệ vốn góp giảm xuống.
* Lợi nhuận mà chủ đầu t nớc ngoài thu đợc phụ thuộc vào kết quả hoạt
động sản xuất kinh doanh và đợc chia theo tỷ lệ góp vốn trong vốn pháp định.
Phần lợi nhuận này thờng đợc các nhà đầu t chuyển về nớc sau khi đã nộp một
khoản thuế hoặc cũng có thể đợc sử dụng để tái đầu t ở nớc sở tại.
* Hoạt động ĐTTTNN đợc thực hiện thông qua việc xây dựng doanh nghiệp
mới, mua lại toàn bộ hay từng phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc mua cổ
5
phiếu để thôn tính hay sáp nhập các doanh nghiệp vốn với nhau. Hoạt động
ĐTTTNN thực hiện ở nớc sở tại, nên toàn bộ quá trình từ đăng ký, triển khai, đến
vận hành và kết thúc dự án ĐTTTNN phải chịu sự điều chỉnh của Bộ luật tơng
ứng, thờng là luật đầu t nớc ngoài. Ví dụ ở Việt Nam, hoạt động ĐTTTNN chịu sự
điều chỉnh của Luật đầu t nớc ngoài tại Việt Nam ban hành năm 1987, ngoài ra
còn có trên 90 văn bản dới luật do Chính phủ và các Bộ ban hành nhằm quy định
chi tiết việc thi hành đầu t tại Việt Nam, chẳng hạn nh Thông t số 12/BKH của Bộ
Kế hoạch - Đầu t và Nghị định 24/CP của Chính phủ Việt Nam ban hành năm
2000.
Ngoài ra, hoạt động ĐTTTNN còn mang một số đặc điểm mới sau:
* Hiện tợng đa cực và đa biên trong ĐTTTNN là hiện tợng đặc thù không
chỉ gồm nhiều bên với tỷ lệ vốn góp khác nhau mà còn có các hình thức khác nhau
của t bản nh t bản t nhân và Nhà nớc cùng tham gia.
kện và lắp ráp tại chỗ, khiến cho giá thành một chiếc xe máy giảm đáng kể mà
chất lợng vẫn không bị hạn chế.
- Thứ ba, các chủ đầu t nớc ngoài có thể tận dụng đợc nguồn nhân công giá
rẻ, giúp họ giảm chi phí và nâng cao năng suất lao động. Bởi vì, ở những nớc tiếp
nhận vốn (thờng là nớc chậm và đang phát triển) thì mức sống cũng nh mức lơng
là rất thấp, nguồn lao động lại dồi dào, do đó làm giảm đáng kể chi phí đầu vào
cho các doanh nghiệp ĐTTTNN. Có thể lấy trờng hợp Nhà máy bia Đông Nam á
(bia Halida và Carlbergs) của Đan Mạch tại Việt Nam làm ví dụ. Nhờ nắm bắt đ-
ợc thị hiếu của ngời Việt Nam nên Nhà máy đã có doanh thu vợt vốn đầu t vốn
đầu t ban đầu mặc dù vốn thực hiên mới chỉ đạt 50%.
- Thứ t, do xây dựng đợc các doanh nghiệp trong lòng nớc sở tại mà các chủ
ĐTTTNN tránh đợc hàng rào bảo hộ mậu dịch của nớc đó, đồng thời có thể nắm
bắt đợc thông tin về thị trờng, nh quan hệ cung cầu, thị hiếu của khách hàng và kịp
thời cải thiện mẫu mã chất lợng sản phẩm. Đây là lợi thế hơn hẳn so với việc xuất
khẩu sản phẩm sang thị trờng nớc sở tại.
- Thứ năm, ĐTTTNN giúp các nhà đầu t chuyển giao công nghệ lạc hậu,
gây ô nhiễm môi trờng, chuyển giao những máy móc, thiết bị lão hoá sang các nớc
đang và kém phát triển. Ví dụ nh những nớc chuẩn bị chuyển sang sử dụng công
nghệ nguồn nh Nhật Bản, Đài Loan, Hàn Quốc thì những n ớc chậm và đang
phát triển trở thành thị trờng nhập khẩu những công nghệ thế hệ cũ của các nớc
này.
- Thứ sáu, ĐTTTNN còn giúp nớc chủ nhà bành trớng sức mạnh về kinh tế,
nâng cao uy tín chính trị trên trờng quốc tế... Thờng những nớc có tiềm lực kinh tế
7
lớn và có ảnh hởng lớn trong nền kinh tế thế giới nh Mỹ, Đức, Pháp, Nhật Bản
là những nớc đầu t đầu t ra nớc ngoài lớn nhất thế giới.
Tuy vậy, ĐTTTNN cũng thể hiện tính 2 mặt của nó ngay cả với nớc chủ
nhà. Mặt tiêu cực của hoạt động này thể hiện ở việc làm giảm một nguồn vốn đáng
kể ở nớc đi đầu t. Vốn là 1 nguồn lực quan trọng của mọi quốc gia việc di chuyển
nó ra khỏi biên giới không chỉ khiến cho nớc đi đầu t mất đi nguồn lực này nà còn
thu nhập, thuế chuyển lợi nhuận về nớc, thuế xuất nhập khẩu, thuế VAT nhà
nhà đầu t nớc ngoài phải nộp cho nớc sở tại. Đây là một trong những nguồn bổ
sung lớn vào ngân sách quốc gia của các nớc phát triển.
* Tạo ra môi trờng cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển kinh tế, thơng
mại. ở các nớc phát triển, cơ chế thị trờng rất phát triển và có tính cạnh tranh cao,
khi các nhà ĐTTTNN thâm nhập vào sẽ mở rộng thêm sân chơi này, làm tăng
động lực phát triển kinh tế.
* Giúp trao đổi kinh nghiệm quản lý và chiến lợc cạnh tranh trong kinh
doanh.v.v... Đó chính là kết quả đợc tạo ra do mối quan hệ giữa các doanh nghiệp
nớc sở tại và các doanh nghiệp ĐTTTNN. Cũng nhờ đó mà các doanh nghiệp nớc
sở tại tích trữ đợc những kinh nghiệm về đầu t và thâm nhập thị trờng nớc ngoài.
2.2. Nớc sở tại là nớc chậm và đang phát triển
Bên cạnh dòng vốn đổ xô vào các nớc t bản phát triển, còn có một lu lợng
vốn lớn chảy vào các nớc chậm và đang phát triển. Đối với những nớc này, tác
động của hoạt động ĐTTTNN đợc đánh giá trên hai mặt cơ bản: mặt tích cực và
mặt tiêu cực.
Hoạt động ĐTTTNN ngày càng chứng tỏ đợc vai trò quan trọng đặc biệt
của nó đối với những nớc chậm và đang phát triển, thể hiện ở những điểm sau:
- Thứ nhất, ĐTTTNN bổ sung nguồn vốn quan trọng cho đầu t phát triển,
khai thác và nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong nớc, tạo ra thế và
lực phát triển mới.
Vốn là một yếu tố quan trọng của tăng trởng, đặc biệt trong giai đoạn đầu
phát triển kinh tế. Nhiều nhà kinh tế đã giải thích sự nghèo khó của các nớc chậm
và đang phát triển thông qua cái "vòng luẩn quẩn" mà các nớc này đang phải đối
mặt. Đó là: Do sản lợng và thu nhập thấp, nên tích luỹ và đầu t phát triển thấp, do
đầu t phát triển thấp nên trình độ khoa học công nghệ thấp, dẫn đến năng suất lao
động thấp, kết quả là sản lợng và thu nhập thấp... Cái "vòng luẩn quẩn" này cứ tiếp
diễn và quốc gia đó sẽ không phát triển nếu nh không có một "cú huých" từ bên
ngoài. Đó chính vốn ĐTTTNN.
9
1996-2002 đạt trên 18,775 tỷ USD, tăng hơn 15 lần so với 8 năm trớc và chiếm
23% kim ngạch xuất khẩu cả nớc (Nguồn: Vụ Đầu t nớc ngoài - Bộ KH & ĐT).
Ngoài ra, khu vực ĐTNN đã góp phần mở rộng thị trờng trong nớc; thúc đẩy các
10
hoạt động dịch vụ phát triển nhanh, đặc biệt là khách sạn, du lịch, các dịch vụ thu
ngoại tệ, dịch vụ t vấn pháp lý, công nghệ; tạo cầu nối cho các doanh nghiệp trong
nớc tham gia xuất khẩu tại chỗ hoặc tiếp cận với các thị trờng quốc tế.
- Thứ ba, ĐTTTNN góp phần chuyển đổi cơ cấu kinh tế ở các nớc chậm
và đang phát triển theo hớng công nghệp hoá, hiện đại hoá và đa nền kinh tế
các nớc này tham gia vào phân công lao động quốc tế một cách mạnh mẽ.
Hoạt động ĐTTTNN tập trung chủ yếu vào các ngành quan trọng của nền
kinh tế, chẳng hạn nh các lĩnh vực: công nghiệp chế tạo, công nghiệp lắp ráp có
trình độ công nghệ tơng đối cao. Khi tỷ trọng ngành công nghiệp ổn định trong
nền kinh tế đã tăng lên thì các nớc này có thể tham gia vào việc phân công lao
động quốc tế thông qua việc chuyên môn hoá sản xuất những mặt hàng có lợi thế
so sánh đối với phần còn lại của thế giới.
Đối với Việt Nam, hoạt động ĐTTTNN trong những năm đầu (ngoài dầu
khí) tập trung nhiều vào lĩnh vực kinh doanh bất động sản (khách sạn, văn phòng
cho thuê...), nhng trong thời kỳ 1996-2002 tập trung chủ yếu vào lĩnh vực sản xuất
vật chất với cơ cấu ngành nghề hợp lý hơn, hớng vào sản xuất, chế biến xuất khẩu,
xây dựng kết cấu hạ tầng; trong đó, ĐTTTNN trong các ngành công nghiệp và xây
dựng chiếm 56% vốn đăng ký và 73% vốn thực hiện (so với tỷ lệ tơng ứng là
52,7% và 56% thời kỳ 1991-1995). Cơ cấu ĐTNN trong lĩnh vực dịch vụ chuyển
dịch mạnh, trong thời kỳ 1996-2002, các dự án kinh doanh bất động sản giảm
52%, trong khi các dự án xây dựng hạ tầng kỹ thuật (viễn thông, dịch vụ kỹ thuật)
tăng 1,4 lần 8 năm trớc (Nguồn: Vụ Đàu t nớc ngoài - Bộ KH & ĐT).
- Thứ t, hoạt động ĐTTTNN giúp tạo ra nhiều công ăn việc làm và phát
triển nguồn nhân ở các nớc chậm và đang phát triển.
Thông qua việc đầu t mới, hoặc mở rộng quy mô của các đơn vị kinh tế,
ĐTTTNN đã tạo ra phần lớn công ăn việc làm cho ngời lao động, qua đó làm tăng
công nghệ chế tạo máy biến thế, cáp thông tin, cáp điện,... Nhìn chung trang thiết
bị đồng bộ, có trình độ cao hơn hoặc bằng các thiết bị tiên tiến đã có trong nớc và
thuộc loại phổ cập ở các nớc trong khu vực. Vấn đề bảo vệ môi trờng cũng đợc các
doanh nghiệp ĐTTTNN rất quan tâm. Bên cạnh đó, các dự án ĐTTTNN sử dụng
nhiều lao động đợc khuyến khích đầu t, nhất là trong lĩnh vực gia công, chế biến,
sản xuất hàng xuất khẩu nh dệt may, giày dép, đầu t vào KCN, KCX,....
-Thứ sáu, ĐTTTNN góp phần mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại, chủ
động hội nhập kinh tế khu vực và Thế giới.
Đối với những nớc chậm và đang phát triển, việc thoát khỏi thế cô lập và
mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại là một chiến lợc hợp lý trong xu thế toàn cầu
hoá nền kinh tế Thế giới. Thông qua hoạt động ĐTTTNN, các nớc này có cơ hội
tiếp cận với các nớc phát triển, các công ty xuyên quốc gia (TNCs), qua đó cũng
đa đợc hình ảnh của mình ra Thế giới. Với vai trò này của ĐTTTNN, có thể lấy
12
Việt Nam làm một ví dụ điển hình. Cho đến hết năm 2002, đã có trên 70 quốc gia
và vùng lãnh thổ có dự án ĐTTTNN ở Việt Nam, và trên 80 TNCs nằm trong danh
sách 500 TNCs hàng đầu trên Thế giới đầu t ở Việt Nam. Bên cạnh đó, ĐTTTNN
đã góp phần phá thế bao vây cấm vận, mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại tạo
thuận lợi cho Việt Nam gia nhập ASEAN, ký Hiệp định khung với EU, bình thờng
hoá quan hệ và ký Hiệp định thơng mại song phơng với Mỹ; tăng cờng thế và lực
của nớc ta trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế). Chính những đổi mới của nền
kinh tế nói chung, về môi trờng kinh doanh trong lĩnh vực ĐTNN nói riêng những
năm qua cũng góp phần quan trọng trong việc khôi phục và gia tăng nguồn vốn
ODA cho Việt Nam từ năm 1993 đến nay (Nguồn: Vụ Đầu t nớc ngoài - Bộ KH &
ĐT).
-Thứ bảy, ĐTTTNN giúp các nớc chậm và đang phát triển từng bơc thực
hiện việc đầu t ra nơc ngoài để mở rộng thị trờng.
Đây chính là một đặc điểm mới của hoạt động ĐTTTNN hiện nay (nh đã
trình bày trong phần I, 2). Tình hình phổ biến trên thế giới hiện nay là các nớc
phát triển không chỉ đầu t ra nớc ngoài mà còn là nớc tiếp nhận ĐTTTNN lớn nhất
11/1998/CT-TTg và Quyết định số 53/1999/QĐ-TTg của Thủ tớng Chính phủ)
nhằm cải thiện môi trờng đầu t. Những chính sách tập trung vào tháo gỡ khó khăn
do tác động của khủng hoảng kinh tế cho các doanh nghiệp ĐTNN (nh miễn giảm
thuế, tiền thuê đất, cho dãn, hoãn, tiến độ hoặc thay đổi mục tiêu dự án, giảm chi
phí đầu t); đơn giản hoá thủ tục đầu t, mở rộng quyền tự chủ của các doanh nghiệp
ĐTTTNN, khuyến khích ĐTTTNN vào những ngành, lĩnh vực, địa bàn cần thu hút
vốn ĐTTTNN..., đợc các nhà đầu t đánh giá cao.
Mặc dầu ĐTTTNN đem lại những lợi ích lớn cho các nớc chậm và đang
phát triển nhng những lợi ích đó luôn đi kèm với những tác động tiêu cực. Mặt trái
của hoạt động ĐTTTNN thể hiện ở những khía cạnh sau:
- Một là, ĐTTTNN dẫn đến tình trạng đầu t tràn lan, huỷ hoại tài nguyên
môi trờng nếu nh công tác quy hoạch ở nớc sở tại kém hiệu quả. Chính phủ của
các nớc chậm và đang phát triển có vai trò quyết định trong việc điều tiết cơ cấu
đầu t theo ngành, vùng... có lợi cho việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế. Tuy nhiên,
việc làm trên đôi khi lại đi trái với lợi ích của các chủ đầu t ngoại quốc, vì các dự
án ĐTTTNN thờng chỉ quan tâm đến lợi nhuận hơn là những lợi ích cho xã hội.
Do vậy, các nớc chậm và đang phát triển phải luôn thận trọng trong quá trình quy
hoạch đầu t, thẩm định và quản trị các dự án ĐTTTNN.
- Hai là, cơ cấu đầu t nớc ngoài ở các nớc chậm và đang phát triển thờng
bất hợp lý. Nếu nớc sở tại không chủ động điều chỉnh đợc cơ cấu đầu t theo
ngành, vùng... theo ý muốn đây sẽ là nguy cơ của sự phát triển không đều giữa các
ngành các ngành, vùng kinh tế.
14
- Ba là, công nghệ chuyển giao trong ĐTTTNN thờng là công nghệ lạc
hậu, cũ kỹ, giá cao, gây ô nhiễm môi trờng và đợc chuyển giao một cách nhỏ giọt,
khiến cho các nớc sở tại luôn phải chạy theo công nghệ của nớc ngoài, gây tốn
kém thời gian và tiền của.
- Bốn là, khả năng góp vốn của các nớc chậm và đang phát triển còn hạn
chế. Đối với các nớc này, vốn góp trongliên doanh với doanh nghiệp nớc ngoài th-
ờng là giá trị quyền sử dụng đất nên tỷ lệ vốn góp không đáng kể. Trong khi đó
sản xuất kinh doanh của các bên đợc tiến hành theo nội dung và các điều lệ của
hợp đồng.
Theo Luật đầu t nớc ngoài ở Việt Nam, Hợp đồng hợp tác kinh doanh là
hình thức đầu t trong đó bên Việt Nam và bên nớc ngoài cùng nhau thực hiện hợp
đồng đợc ký kết giữa hai bên về việc cùng phối hợp với nhau trong sản xuất hoặc
tiêu thụ một loại sản phẩm hay dịch vụ nào đó với sự quy định rõ trách nhiệm,
nghĩa vụ và quyền lợi của mỗi bên trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Thông th-
ờng, hình thức này chiếm tỷ trọng khiêm tốn trong tổng số vốn ĐTTTNN. Do hình
thức này khó thực hiện trên thực tế và hiệu quả đem lại thờng không cao.
2. Doanh nghiệp liên doanh
Doanh nghiệp liên doanh (DNLD) là một tổ chức kinh doanh quốc tế của
các bên tham gia có quốc tịch khác nhau trên cơ ở cùng góp vốn, cùng kinh doanh,
cùng quản lý, và cùng phân phối kết quả kinh doanh nhằm thực hiện các cam kết
trong hợp đồng liên doanh và điều lệ DNLD phù hợp với khuôn khổ luật pháp nớc
sở tại.
Khác với hình thức Hợp tác kinh doanh trên cơ sở hợp đồng, hình thức
DNLD có một số đặc trng cơ bản sau:
- Đặc trng về pháp lý:
+ Trớc hết, DNLD là một pháp nhân của nớc sở tại. Do đó, doanh
nghiệp này phải hoạt động theo luật pháp của nớc sở tại. Hình thức pháp lý của
liên doanh là do các Bên thoả thuận phù hợp với các quy định của Pháp luật nớc sở
tại. Ví dụ, ở Việt Nam hiện nay mới chỉ cho phép các DNLD hoạt động với hình
thức công ty TNHH. ở nhiều nớc, DNLD còn đợc phép hoạt động dới hình thức
công ty trách nhiệm vô hạn, các hiệp hội góp vốn...
16
+ Bên cạnh đó, quyền quản lý doanh nghiệp còn phụ thuộc vào tỷ lệ
vốn góp, có nghĩa là bên nào có tỷ lệ góp vốn cao thì sẽ nắm vững vị trí chủ chốt
và quan trọng trong bộ máy quản lý.
+ Sau nữa, quyền lợi và nghĩa vụ của các Bên đợc ghi trong hợp đồng
liên doanh và điều lệ của DNLD.
kinh doanh của doanh nghiệp.
So với DNLD, DN 100% VNN có một số đặc trng khác biệt sau:
- Đặc trng về pháp lý:
+ DN 100% VNN cũng là pháp nhân của nớc sở tại, nhng toàn bộ
doanh nghiệp lại thuộc sở hữu của ngời nớc ngoài.
+ Hình thức hợp pháp của DN 100% VNN là do nhà đầu t nớc ngoài
lựa chọn trong khuôn khổ luật pháp nớc sở tại. Ví dụ, ở Việt Nam, hình thức hợp
pháp của DN 100% VNN là công ty TNHH.
+ Quyền quản lý doanh nghiệp do nhà đầu t nớc ngoài hoàn toàn chịu
trách nhiệm.
- Đặc trng về kinh tế - tổ chức:
+ Mô hình tổ chức của DN 100% VNN là do nhà đầu t nớc ngoài lựa
chọn trong khuôn khổ pháp luật nớc sở tại
+ Về kinh tế, nhà đầu t nớc ngoài chịu trách nhiệm về mọi kết quả
kinh doanh của doanh nghiệp và đợc hởng toàn bộ kết quả kinh doanh sau khi đã
hoàn thành nghĩa vụ tài chính đối với nớc sở tại.
- Đặc trng về kinh doanh:
Khác với DNLD, nhà đầu t nớc ngoài có toàn quyền quyết định mọi vấn đề
trong DN 100% VNN. Môi trờng kinh doanh ở nớc sở tại thờng xuyên tác động,
chi phối rất lớn đến kết quả và quy mô của họat động kinh doanh của DN 100%
VNN.
- Đặc trng về văn hoá - xã hội:
Trong DN 100% VNN cũng có sự gặp gỡ, cọ xát giữa các nền văn hoá khác
nhau, nhng sự khác biệt chỉ phát sinh trong quan hệ giữa nhà đầu t nớc ngoài với
ngời lao động là dân bản sứ bên mức độ và tính chất cọ xát ít hơn so với DNLD.
Với những đặc trng trên, DN 100% VNN có u điểm là hạn chế đợc những
mâu thuẫn, bất đồng của nhà đầu t đối với nớc sở tại, do đó, nhà đầu t có thể độc
lập điều hành hoạt động của doanh nghiệp một cách có hiệu quả. Nhợc điểm lớn
nhất của hình thức này là nhà đầu t phải đối mặt với một thị trờng mới lạ, chứa
đựng nhiều rủi ro và nhà đầu t cũng cha có kinh nghiệm, kiến thức về phong tục,
IV. Những yếu tố ảnh hởng đến hoạt động đầu t trực tiếp n-
ớc ngoài
Những yếu tố tác động đến hoạt động ĐTTTNN có thể là những yếu tố
nằm ngay bên trong nớc sở tại (yếu tố chủ quan), cũng có thể là những yếu tố từ
bên ngoài (yếu tố khách quan)
19
1. Những yếu tố chủ quan
Thực chất những yếu tố chủ quan chính là những yếu tố thuộc về môi trờng
đầu t ở nớc sở tại, dới cách này hay cách khác, chúng tác động một cách mạnh mẽ
lên dòng vốn ĐTTTNN. Nó thể hiện ở những điểm sau:
- Thứ nhất là những yếu tố thuộc về môi trờng chính trị, nh thể chế chính
trị (thể chế quân chủ, cộng hoà, hay xã hội chủ nghĩa, ); những chính sách phát
triển kinh tế (chính sách tài chính tiền tệ, chính sách điều chỉnh tỷ giá hối đoái,
chính sách dự trữ ngoại tệ chính sách tài khoá ). Hoạt động ĐTTTNN phải đối
mặt với 3 loại rủi ro về chính trị, đó là: việc tịch thu hành chính, các quy định
không mong đợi, những quy định ngoài ý muốn. Ngời ta cũng đã đa ra đợc 8 tiêu
thức đánh giá rủi ro chính trị, đó là: sự ổn định của hệ thống chính trị; sự xung đột
nội bộ sắp xảy ra; sự đe doạ từ bên ngoài; mức độ kiểm soát hệ thống kinh tế; sự
tin cậy của quốc gia nh một đối tác kinh doanh; sự bảo đảm hiến pháp; hiệu quả
của quản lý hành chính; những mối quan hệ về lao động.
- Thứ hai là những yếu tố thuộc môi trờng kinh tế. Trong đó bao gồm:
chiến lợc phát triển kinh tế của nớc sở tại; cơ cấu kinh tế; thể chế kinh tế của nền
kinh tế (thể chế kinh tế thị trờng, cơ chế tập trung hay nền kinh tế hỗn hợp); trình
độ phát triển kinh tế; quy mô của nền kinh tế (thu nhập bình quân, GDP )v.v.
Những yếu tố trên có thể tạo thuận lợi, hoặc gây rủi ro cho nhà đầu t nớc ngoài.
Những trờng hợp xảy ra rủi ro là do suy thoái kinh tế, lạm phát, cán cân thanh toán
thâm hụt. Vì vậy một môi trờng kinh tế phát triển và ổn định là động lực lớn thu
hút vốn ĐTTTNN.
Một trong những yếu tố quan trọng của môi trờng kinh tế là thị trờng. Quy
mô và khả năng tăng trởng về thị trờng ở nớc sở tại có ảnh hởng lớn đến quyết
các nhân tố cơ bản khác. Nếu hệ thống cơ sở hạ tầng tốt sẽ là một yếu tố hấp dẫn
các nhà đầu t nớc ngoài. Điều này cũng giải thích tại sao dòng vốn ĐTTTNN lại
đổ dồn vào các nớc công nghiệp phát triển, nh Mỹ và Tây Âu, nơi có điều kiện về
cơ sở hạ tầng rất phát triển.
- Thứ sáu là yếu tốt con ngời. Đây là nhân tố tham gia trực tiếp và gián tiếp
vào hoạt động của doanh nghiệp có vốn đầu t nớc ngoài. Một bộ phận nằm trong
đội ngũ cán bộ quản lý, một bộ phận nằm trong đội ngũ lao động. Nếu nh nguồn
nhân lực ở nớc sở tại có chất lợng thấp thì sẽ gây khó khăn cho các nhà đầu t trong
việc đào tạo cán bộ quản lý cũng nh công nhân. Vì vậy, một quốc gia có đợc đội
ngũ lao động chất lợng và trình độ cao sẽ trở thành nơi hấp dẫn đối với các hoạt
động ĐTTTNN.
- Thứ bảy là vai trò quản lý của Nhà nớc. Yếu tố này thờng ảnh hởng gián
tiếp đến hoạt động ĐTTTNN. Ví dụ nh sự can thiệp quá sâu của Nhà nớc luôn tạo
ra cảm giác không an toàn cho nhà đầu t và làm giảm mức độ cạnh tranh trên thị
trờng. Chủ đầu t nớc ngoài luôn muốn duy trì sự điều tiết tối thiểu của Chính phủ
21
nớc sở tại đối với các công ty t nhân. Đồng thời, niềm tin của họ sẽ tăng lên khi
chính sách quản ý vĩ mô của Nhà nớc ổn định và có thể dự báo đợc, vì luật chơi
không thay đổi giữa cuộc chơi. Bên cạnh đó, một Chính phủ trung thực và có
hiệu quả, có khả năng duy trì trật tự luật pháp của nớc sở tại cũng là chỗ dựa tinh
thần vững chắc cho nhà đầu t. Vì vậy, các chính sách quản lý vĩ mô khi đa ra cần
phải hợp lý và tạo thuận lợi cho nhà đầu t, bảo vệ môi trờng cạnh tranh và giảm
thiểu tiêu cực trong thi hành luật pháp.
- Thứ tám là độ mở của nền kinh tế so với khu vực và thế giới. Nhà đầu t n-
ớc ngoài đầu t vào nớc sở tại không chỉ với mục đích chiếm lĩnh thị trờng này, mà
còn dựa vào nớc sở tại nh là một điểm tựa để xâm nhập các thị trờng. Vì vậy các
nhà đầu t nớc ngoài luôn tìm kiếm những nớc có cơ chế thông thoáng, tự do hoá về
mậu dịch và đầu t. Do đó, các quốc gia hiện nay luôn hớng đến chính sách tự do
hoá một cách toàn diện, hội nhập vào nền kinh tế thế giới một cách sâu, rộng nh là
một chiến lợc tăng sức hút với vốn ĐTTTNN.
ĐTTTNN. Xác định đợc vai trò của ĐTTTNN đối với nền kinh tế nên hầu hết các
quốc gia đều chú tâm đến việc thu hút nguồn vốn này. Điều đó dẫn đến sự cạnh
tranh gay gắt giữa các quốc gia thu hút vốn. Sự cạnh tranh này sẽ dẫn đến sự giảm
sút trong ĐTTTNN ở những nớc có môi trờng đầu t kém hấp dẫn. Hiện nay,
Trung Quốc đang nổi lên một hiện tợng hút vốn ĐTTTNN mạnh trên thế giới, và
điều đó có ảnh hởng đến các quốc gia khác.
- Bốn là các xu hớng vận động của dòng vốn ĐTTTNN trên Thế giới.
Những xu hớng mới trong đầu t trực tiếp nớc ngoài có tác động mạnh mẽ tới dòng
vốn ĐTTTNN vào các quốc gia tiếp nhận. Chẳng hạn, xu hớng thay đổi trong địa
bàn đầu tứ sẽ khiến dòng vốn đầu t chuyển dời sang một trung tâm hút vốn nào đó,
và những quốc gia thuộc khu vực này có cơ hội tiếp nhận một khối lợng lớn vốn
đầu t nớc ngoài. Phần này sẽ đợc nghiên cứu kỹ hơn ở mục V.
Bên cạnh việc bị chi phối bởi những nhân tố trên, sự vận động của dòng vốn
ĐTTTNN còn chịu sự chi phối của những xu hớng nhất định.
V. Các xu hớng vận động của dòng vốn đầu t trực tiếp nớc
ngoài trên thế giới
Hoạt động ĐTTTNN ngày càng gia tăng và liên tục biến động, đặc biệt là
trong những năm gần đây. Vì vậy, việc định hình xu hớng biến động và dự báo sự
thay đổi của hoạt động này trong tơng lai có ý nghĩa quan trọng đối với việc hoạch
định chính sách về thu hút vốn ĐTTTNN của mỗi quốc gia. Sau đây là một số xu
hớng nổi bật.
23
1. Xu hớng tự do hoá trong đầu t trực tiếp nớc ngoài
Tự do hoá đầu t là một xu hớng, trong đó hoạt động ĐTTTNN đợc tạo
những điều kiện ngày càng thuật lợi cả về mặt pháp lý cũng nh mặt hành chính và
về các điều kiện cần thiết khác cho quá trình đầu t trực tiếp đợc triển khai. Nội
dung của xu hớng tự do hoá đầu t là việc Chính phủ áp dụng các biện pháp cần
thiết nhằm hoàn thiện các môi trờng pháp lý, ổn định môi trờng kinh tế vĩ mô, cải
cách các thủ tục hành chính cũng nh áp dụng các đòn bẩy kinh tế... để khuyến
khích hoạt động ĐTTTNN vào một quốc gia nhất định.
69%, năm 1970 là 67,6%, năm 1980 là 73,65, năm 1986 chiếm 83,2%. Chỉ tính
riêng năm 1999, các nớc công nghiệp phát triển đã thu hút đợc 657,9 tỷ USD
trong tổng số 865,5 tỷ USD vốn ĐTTTNN, chiếm tỷ trọng 76% (Nguồn: Giáo
trình sau đại học, Môn: Kinh tế quốc tế). Sở dĩ có tình trạng nêu trên là do các
nguyên nhân chủ yếu sau:
* Do tác động của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ làm xuất hiện
những ngành sản xuất mới có hàm lợng khoa học - công nghệ cao và cần quy mô
vốn đầu t lớn. Bên cạnh đó, các nớc công nghiệp phát triển nắm độc quyền về
những ngành công nghiệp mũi nhọn (điện tử, ngời máy, vật liệu mới...) và có khả
năng tiếp nhận vốn ĐTTTNN trong lĩnh vực này. Vì vậy, các nhà đầu t đã chọn
các nớc công nghiệp phát triển để thực hiện các dự án đầu t của mình.
* Khối lợng lợi nhuận siêu ngạch thu đợc từ những ngành công nghiệp mũi
nhọn là rất lớn nên đã tạo ra sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với dòng vốn đầu t
ĐTTTNN vào các nớc công nghiệp phát triển.
* Môi trờng đầu t ở các nớc này mang tính đồng bộ, ổn định và thuận lợi
hơn so với các nớc đang phát triển về mọi mặt.
* Do chính sách bảo hộ mậu dịch của các nớc công nghiệp phát triển ngày
càng chặt chẽ và tinh vi, vì vậy để thâm nhập những thị trờng này thì việc lựa chọn
hình thức ĐTTTNN là cách thức tối u.
* Do tiến bộ khoa học, kỹ thuật, công nghệ tiên tiến nên ý nghiã của yếu tố
lao động và nguyên liệu rẻ giảm đi.
Dòng vốn còn lại bên cạnh dòng vốn chảy vào các nớc t bản chủ yếu đổ xô
vào các nớc đang phát triển ở Châu á, ở đây xuất hiện những quốc gia d thừa vốn
và bắt đầu thực hiện đầu t ra nớc ngoài, đây là một xu hớng mới trong ĐTTTNN
hiện nay.
25