PHẦN A. ĐẶT VẤN ĐỀ
Đầu tư phát triển là hoạt động sử dụng các nguồn lực tài chính , nguồn lực
vật chất , nguồn lực lao động và trí tuệ để xây dựng , sữa chữa nhà cửa và cấu
trức hạ tầng , mua sắm trang thiết bị và lắp đặt chúng trên nền bệ , bồi dưỡng
đào tạo nguồn nhân lực , thực hiện chi phí thường xuyên gắn liền với sự hoạt
động của các tài sản này nhằm duy trì tiềm lực hoạt động của các cơ sở đang
tồn tại và tạo tiềm lực mới cho nền kinh tế xã hội , tạo việc làm và nâng cao đời
sống của mọi thành viên trong xã hội .
Thực hiện đầu tư là một phần không thể thiếu trong chiến lược phát triển kinh
tế xã hội . Quá trình này đòi hỏi phải tiêu hao những nguồn lực của xã hội mà
trong đó vốn là một trong những nguồn lực quan trọng . Trên giác độ vĩ mô ,
vốn được chia làm 2 loại : Vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài .
Hai nguồn vốn này có quan hệ mật thiết với nhau cũng như tác động trực tiếp
đến nền kinh tế của mỗi quốc gia , vùng lãnh thổ .
Tại Việt Nam , chúng ta đang trong giai đoạn quá độ lên chủ nghĩa xã hội .
Để thực hiện mục tiêu công nghiệp hoá , hiện đại hoá , tăng trưởng kinh tế
phấn đấu đến năm 2020 về cơ bản nước ta trở thành một nước công nghiệp thì
việc sử dụng vốn đầu tư để đạt được mục đích này là rất quan trọng . Chính vì
thế , chúng ta cần phải nghiên cứu trên cơ sở lý luận về vai trò và mối quan hệ
giữa 2 nguồn vốn trong nước và nước ngoài trong việc thúc đẩy tăng trương
kinh tế, để từ đó ứng dụng vào thực tiễn Việt Nam .
Với những lý do nêu trên , nhóm 5 chúng em đã thực hiện nghiên cứu để tài
này . Trong quá trình thực hiện đề tài còn nhiều thiếu sót , nhưng với tinh thần
cầu thị và học hỏi , chúng em mong thầy giáo và các bạn chân thành đóng góp
ý kiến để chúng em có thể thực hiện tốt hơn những đề tài sau . Chúng em xin
1
Kinh tÕ §Çu t
Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước và nguồn vốn từ khu
vực dân cư .
b.1 Nguồn vốn nhà nước :
3
Kinh tÕ §Çu t
Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm nguồn vốn từ ngân sách nhà nước,
nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát
triển của doanh nghiệp nhà nước .
Đối với nguồn ngân sách nhà nước : Đây chính là nguồn chi của ngân sách
nhà nước cho đầu tư . Đó là một nguồn vốn đầu tư quan trọng trong chiến
lược phát triển kinh tế – xã hội mỗi quôc gia . Nguồn vốn này được sử dụng
cho các dự án kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội , quốc phòng , an ninh , thực hiện
các dự án nhằm quy hoạch tổng thể phát trỉên kinh tế –xã hội vùng , ngành ,
địa phương .
Vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước : vốn tín dụng đầu tư phát triển
của nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh
tế – xã hội khi mà nước ta đang trong quá trình đổi mới và mở cửa .
Nguồn vốn đầu tư từ doanh nghiệp nhà nước : Được xác định là thành
phần giữ vai trò chủ đạo trong nền kinh tế , các doanh nghiệp nhà nước vẫn
nắm giữ một khối lượng vốn nhà nước khá lớn . Mặc dù vẫn cón một số hạn
chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế nhà nước với sự
tham gia của các doanh nghiệp nhà nước vẫn đóng vai trò chủ đạo trong nền
kinh tế nhiều thành phần .
b.2. Nguồn vốn từ khu vực tư nhân
Nguồn vốn từ khu vực tư nhân bao gồm phần tiết kiệm của dân cư , phần
tích luỹ của các doanh nghiệp dân doanh, các hợp tác xã . Theo đánh giá sơ
bộ , khu vực kinh tế ngoài nhà nước vẫn sở hữu một lượng vốn tiềm năng rất
Nguồn vốn trong nước phục vụ chủ yếu cho việc xây dựng các công trình
công cộng , tập trung phát triển cơ sở hạ tâng trong quy hoạch tổng thể phát
triển nền kinh tế xã hội của đất nước . Như vậy việc sử dụng nó mang tính
chủ động rất cao và không bị phụ thuộc vào các thế lực bên ngoài .
Nguồn vốn trong nước giữ vai trò quan trọng trong chiến lược phát triển
kinh tế mỗi quốc gia . Nguồn vốn trong nước bao gồm nguồn vốn nhà nước
và nguồn vốn từ khu vực tư nhân . Các quốc gia đang phát triển như Việt
5
Kinh tÕ §Çu t
Nam , khi mà kinh tế tư nhân chưa trở thành một thành phần kinh tế chủ chốt
của nền kinh tế , thì nguồn vốn nhà nước sẽ là nguồn quan trọng khi tiến hành
sự nghiệp công nghiệp hoá . Nguồn vốn nhà nước bao gồm nguồn vốn từ
Ngân sách nhà nước , nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và
nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước . Nguồn vốn nhà
nước thường được sử dụng trong các dự án kết cấu hạ tâng kinh tế xã hội ,
quốc phòng an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh
vực cần tham gia của Nhà nước , chi cho công tác lập và thực hiện các dự án
qui hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội vùng , lãnh thổ , quy hoạch phát
triển xây dựng đô thị và nông thôn .
Đi đôi với quá trình đổi mới và mở cửa , tín dụng đầu tư phát triển của
Nhà nước ngày càng đóng vai trò đáng kể trong chiến lược phát triển kinh tế
xã hội . Nếu như trước đây , vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước chưa
được sử dụng như một công cụ quản lý và điều tiết nền kinh tế thì những năm
gần đây , nguồn vốn này đã có mức tăng trưởng đáng kể và bắt đầu có vị trí
quan trọng trong chính sách đầu tư của chính phủ . Nguồn vốn tín dụng đầu
tư phát triển của Nhà nước có tác động tích cực trong việc giảm đáng kể sự
bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước . Với cơ chế tín dụng , các đơn vị sử dụng
nhọn để đáp ứng đòi hỏi của nền kinh tế cũng như mục tiêu của nhà nước đặt
ra trong mỗi giai đoạn thông qua việc phân bổ nguồn vốn cho các khu vực ,
các địa phương .
Thứ hai : Vốn trong nước được đầu tư vào quốc phòng an ninh góp
phần đảm bảo anh ninh quốc gia
Vốn trong nước thường được sử dụng vào các dự án lớn như: mạng lưới
thông tin quốc gia ,sân bay, các cơ sở sản xuất vũ khí, chi cho quốc phòng an
ninh, xây dựng hệ thống đưòng biên giới vói các quốc gia láng giềng, giải
quyết tranh chấp…
Về mặt lý thuyết đầu tư nước ngoài có đe doạ đến an ninh kinh tế của nước
chủ nhà thông qua thao túng một số ngành sản xuất quan trọng , những hàng
7
Kinh tÕ §Çu t
hoá thiết yếu hoặc đẩy mạnh đầu cơ , buôn lậu , rút chuyển đi nơi khác … Vì
mục tiêu theo đuổi lợi nhuận cao nên không loại trừ các chủ thể này sẽ tác
động , can thiệp một cách gián tiếp vào các vấn đề chính trị của nước chủ nhà
. Do vậy việc viện trợ hay đầu tư nguồn vốn nước ngoài cho nền kinh tế đôi
lúc không chỉ vì mục đích kinh tế mà bao gồm cả mục đích phi kinh tế .
Nguồn vốn trong nước cho phép chính phủ hoàn toàn chủ động trong việc
đàm phán tiếp nhận vốn nước ngoài . Khẳng định chủ quyền kinh tế chính trị
dựa trên tiềm lực nội tại vốn có của mình.
Thứ ba : Nguồn vốn trong nước tạo tiền đề cũng như là cơ sở để thu
hút vốn nước ngoài.
Các nhà đầu tư nước ngoài khi tiến hành đầu tư vào nước sở tại đòi hỏi
nước sở tại phải có một số điều kiện cơ sở vật chất nhất định , điều đó sẽ
khuyến khích họ đầu tư , mặt khác sẽ “tạo niềm tin” cho họ trong việc thu hồi
vốn và làm ăn lâu dài. Việc sử dụng có mục đích và hiệu quả nguồn vốn trong
hội : xóa đói giảm nghèo , phổ cập giáo dục … Nguồn vốn từ ngân sách nhà
nước đảm bảo những cân đối chính yếu trong nền kinh tế , là 1 trong những
công cụ đầu tư trực tiếp của Nhà nước.
Tính an toàn khi sử dụng
Tính an toàn khi sử dụng muốn đề cập đến ở đây là tính an toàn trong cơ
cấu vốn . Khi tỷ trọng vốn vay ( vốn nước ngoài ) là lớn trong tổng vốn đầu
tư thì nó tiềm ẩn rủi ro tín dụng rất cao . Việc chấp nhận tỷ trọng mất cân
đối như vậy nó cũng tiềm ẩn nhiều cơ hội và thách thức . Tuy nhiên trong
đIều kiện các quốc gia đang phát triển khi mà nền kinh tế thị trường cón
phát triển ở một trình độ thấp thì việc sử dụng tỷ trọng lớn vốn trong nước
sẽ đảm bảo an toàn hơn cho nền kinh tế trước những tác động của nền kinh
tế khác , cũng như tác động của khủng hoảng kinh tế thế giới .
Đảm bảo tính ổn định
Trong thực tế hầu hết các quốc gia trên thế giới đều có tỷ trọng vốn trong
nước luôn lớn và ổn định qua các thời kỳ . Việc sử dụng vốn trong nước một
cách ổn định như vậy sẽ giúp các nhà hoạch định chính sách dễ dàng hơn
trong việc lập quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, và dự đoán được tốc độ
phát triển của nền kinh tế .
9
Kinh tÕ §Çu t
Mặt khác , nguồn vốn nhà nước còn phục vụ công tác quản lý và điều tiết vĩ
mô . Thông qua nguồn tín dụng đầu tư , Nhà nước thực hiện việc khuyến
khích phát triển kinh tế xã hội của ngành , vùng , lĩnh vực theo định hướng
chiến lược của mình . Nguồn vốn này không chỉ thực hiện mục tiêu tăng
trưởng kinh tế mà còn thực hiện cả mục tiêu phát triển xã hội . Việc phân bổ
và sử dụng vốn tín dụng đầu tư còn khuyến khích phát triển những vùng kinh
tế khó khăn , giải quyết các vấn đề xã hội như xoá đói giảm nghèo , phổ cập
công nghiệp hoá đối với các nước nghèo . Trong đIều kiện hiện nay , khi mà
với những thành tựu của khoa học kỹ thuật , các nước có thể tiến hành nhanh
chóng không chỉ bằng khả năng tích luỹ trong nước mà còn kết hợp tận dụng
khả năng của thời đại . Nguồn vốn đầu tư xét trên góc độ vĩ mô bao gồm
nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài . Bên cạnh nguồn vốn trong
nước còn có thể huy động nguồn vốn nước ngoài , nhiều khi với khối lượng
lớn . Tuy nhiên , vốn trong nước có vai trò quan trọng , vốn nước ngoài có
khả năng thúc đẩy sự phát triển song không phải là yếu tố thúc đẩy sự phát
triển . Tuy vậy những luận điểm sau sẽ chứng minh vai trò và tính quan trọng
của vốn nước ngoài
Vốn đầu tư nước ngoài góp phần giải quyết những khó khăn do thiếu
vốn
Các nước đang phát triển hầu hết đều rơi vào cái “ vòng luẩn quẩn “ là :
Thu nhập thấp dẫn đến tiết kiệm thấp , vì vậy đầu tư thấp dẫn đến thu nhập
thấp . Nhiều quốc gia lâm vào tình trạng trì trệ của sự nghèo đói bởi họ
không lựa chọn được “ cú huých” nhằm phá vỡ một mắt xích của cái “
vòng luẩn quẩn” này . Khó khăn lớn nhất của các nước đang phát triển đó là
vốn đầu tư và kỹ thuật , vốn đầu tư dùng để đổi mới công nghệ , năng cao
năng suất lao động … từ đó tạo tiền đề để tăng thu nhập và tích luỹ . Tuy
nhiên , nếu chỉ trong chờ vào nội bộ nguồn vốn trong nước sẽ không tránh
khỏi sự tụt hậu đối với thế giới . Vẫn biệt nguồn vốn trong nước là quyết
11
Kinh tÕ §Çu t
định , nguồn vốn nước ngoàI chỉ nhằm bổ sung , nhưng nguồn vốn nước
ngoài sẽ là “cú huých” quan trọng góp phần phá vỡ cái vòng luẩn quẩn đó.
Hiệu ứng bổ sung và thay thế của vốn nước ngoài :
Các nhà đầu tư nước ngoài là những người rất giỏi trong việc đánh giá
những thay đổi của thị trường . Vì vậy nguồn vốn nước ngoài được đem vào
đầu tư sử dụng thường được đầu tư sử dụng và những ngành , lĩnh vực đem
lại hiệu quả kinh tế cao như công nghiệp chế tạo máy , công nghiệp đIện tử
… Nguồn vốn nước ngoài đã góp phần tạo dựng mô hình kinh tế của nước ta
vừa mang tính thị trường vừa có sự định hướng của nhà nước
Tính minh bạch công khai
Việc sử dụng nguồn vốn nước ngoài đặc biệt là nguồn FDI đòi hỏi tính
minh bạch công khai rất cao . Việc tạo dựng một cơ chế công khai minh bạch
như vậy nó sẽ kích thích các nguồn khác hoạt động có hiệu quả , tăng cường
cơ chế tự giám sát tự điều chỉnh . Góp phần nâng cao tính cạnh tranh các
nguồn lực cũng như tính cạnh tranh của nền kinh tế.
Nguồn vốn nước ngoài sẽ tạo điều kiện để phát triển nguồn nhân lực và
tạo việc làm đồng thời khai thác một cách có hiệu quả các nguồn tài
nguyên thiên nhiên
Đầu tư nước ngoài giúp cho các nước sở tại khai thác 1 cách có hiệu quả
nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên ; từ đó góp phần mở rộng tích luỹ
và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế . Các nước đang phát triển nói chung
và nước ta nói riêng thường có thế mạnh về tài nguyên thiên nhiên ; nhiều
loại khoáng sản với trữ lượng lớn . Tuy nhiên , điều kiện cơ sở vật chất kỹ
thuật ở các nước đang phát triển còn lạc hậu , cho nên các nước này không
có điều kiện để khai thác tận dụng triệt để nguồn này . Thường các nước
đang phát triển khai thác dưới dạng thô để xuất khẩu rồi lại nhập khẩu sản
phẩm đã tinh chế. Điều này gây ra sự lãng phí , kém hiệu quả rất lớn . Chính
vì thế , đầu tư nước ngoài sẽ mang công nghệ tiên tiến trên thế giới vào
nước sở tại , góp phần chuyển giao công nghệ để họ có thể tiếp thu , học tập
13
Kinh tÕ §Çu t
Kinh tÕ §Çu t
Xuất nhập khẩu có quan hệ nhân quả với tăng trưởng kinh tế . Mối quan
hệ này được thể hiện : Xuất nhập khẩu cho phép khai thác lợi thế so sánh ,
hiệu quả kinh tế theo qui mô , thực hiện chuyên môn hoá sản xuất , nhập
khẩu bổ sung các hàng hoá , dịch vụ khan hiếm cho sản xuất và tiêu dùng ;
xuất nhập khẩu còn thúc đẩy trao đổi thông tin , dịch vụ , tăng cường kiến
thức Marketing cho các doanh nghiệp nội địa . Tất cả các yếu tố này sẽ đẩy
nhanh tốc độ tăng trưởng .
Thông qua FDI , các nước đang phát triển có thể tiếp cận được với thị
trưòng thế giới bởi vì hầu hết các hoạt động FDI đều do các công ty xuyên
quốc gia thực hiện ( TNCs ) ; mà các công ty này có lợi thế trong việc tiếp
cận với khách hàng bằng những hợp đồng dài hạn dựa trên cơ sở uy tín và
thanh thế của họ về chất lượng , kiểu dáng sản phẩm …
Đầu tư nước ngoài giúp cho các nước sở tại khai thác 1 cách có hiệu quả
nguồn lao động và tài nguyên thiên nhiên ; từ đó góp phần mở rộng tích luỹ
và nâng cao tốc độ tăng trưởng kinh tế .
Như vậy Có thể nới rằng vốn là 1 trong những nguồn lực quan trọng
trong quá trình đầu tư thực hiện các dự án , nhằm mục đích phát triển kinh tế
xã hội của một đất nước , vùng , lãnh thổ . Trên góc độ vĩ mô , vốn được chia
làm 2 loại : Nguồn vốn trong nước và nguồn vốn nước ngoài . Phân chia 2
nguồn vốn một cách khái quát như vậy ta sẽ phân tích được mối quan hệ của
chúng đối với quá trình phát triển kinh tế xã hội . Dựa trên phương pháp duy
vật biện chứng , nguyên lý về mối quan hệ phổ biến cũng như những lý
thuyết cơ bản về đầu tư ta có thể khẳng định : cả 2 nguồn vốn này đều đóng
một vai trò quan trọng . Tuy nhiên mức độ quan trọng và ảnh hưởng của
chúng đến nền kinh tế là không giống nhau . Và trong mối quan hệ này
vốn trong nước là quyết định , vốn nước ngoài là quan trọng .
16
Kinh tÕ §Çu t
hàng năm khoảng 400 tỷ đồng, các công ty Nhà nước còn được Nhà nước đầu
tư bổ sung vốn kinh doanh từ các khoản phải nộp ngân sách , khoản tiền thu
sử dụng vốn nhà nước mỗi năm khoảng 1500 tỷ đồng ; các doanh nghiệp
thuộc một số ngành trọng điểm như dầu khí , cơ khí đóng tầu , đIện tử được
đầu tư lại hàng chục tỷ đồng thuế thu nhập doanh nghiệp để bổ sung vốn.
Tuy nhiên, hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, hiệu quả sử dụng vốn
Nhà nước của các công ty Nhà nứơc chưa cao, chưa tương xứng với các
nguồn lực đầu tư của Nhà nước.Cụ thể tính đến 31/12/04,trong số gần 4000
công ty nhà nước thì số lượng thua lỗ , hoà vốn khoảng 800 đơn vị , chiếm
20%. Đồng thời qua giám sát tình hình hoạt động sản xuất kinh doanh của
một số tổng công ty lớn cho thấy hiệu quả hoạt động còn thấp chưa tương
xứng với tiềm năng nhà nước đầu tư , trong đó nhiều tổng công ty có số lỗ luỹ
kế lớn như : Tổng công ty cà fê 610 tỷ đồng , Tổng công ty giấy 200 tỷ đồng ,
các tổng công ty xây dựng giao thông 810 tỷ đồng .
Nhu cầu vốn đầu tư phát triển của đất nước rất lớn , nhưng khả năng đáp
ứng lại có hạn , không đủ để tạo ra sự chuyển dịch nhanh cơ cấu kinh tế tăng
thêm sức mạnh cạnh tranh , hạn chế khả năng phát triển của đất nước. Nguồn
vốn ngân sách Nhà nước có tác dụng định hướng nhằm tạo ra cơ cấu đầu tư
ngày càng hợp lý ; nhưng hàng năm vẫn phải chi 15% -17% cho trả nợ trong
nước và một phần nợ nước ngoài , đảm bảo những khoản chi thường xuyên.
Vì vậy nguồn vốn đầu tư từ ngân sách còn rất eo hẹp chỉ bằng 15% -20%
tổng nguồn vốn .
Một vấn đề lớn đang đặt ra là việc sử dụng vốn Nhà nước vẫn thiếu tập
trung, bị co kéo quá nhiều mục tiêu, bố trí dàn trải cho nhiều dự án, công
trình , dự án triển khai chậm, khối lượng đầu tư dở dang lớn (trên 65%). Thực
không được bố trí kế hoạch.
Nghị định 43/CP, qui định đối tượng vay vốn bao gồm một số dự
án đẩu tư tại các vùng khó khăn của một số ngành, nghề ưu đãi theo qui
định hiện hành của Luật khuyến khích đầu tư trong nứơc (sửa đổi) như:
18
Kinh tÕ §Çu t
sản xuất điện, khoáng sản, ché tạo máy công cụ, xây dựng cơ sở chế
biến nông sản, lâm sản, thuỷ sản, sản xuất hàng xuất khẩu, cơ sở hạ
tầng…Tuy nhiên, trong quá trình triển khai thực hiện cho phép mở
rộng nhiều đối tượng được vay vốn tín dụng ưu đẫi của Nhà nước. Ví
dụ như:
+Các dự án phát triển kinh tế trang trại theo Nghị quyết số
03/2002/NQ-CP ngày 2/2/2000;
+Cơ chế tài chính đóng tàu biển theo Quyết định số 117/2000/QĐTTg ngày 10/10/2000;
+Các dự án về sản phẩm cơ khí trọng điểm theo Nghị Quyết số
11/2000/NQ-CP của Chính phủ và theo Quyết định số 67/2000/QĐBCN ngày 20/11/2000 của Bộ Công nghiệp.
Và một số dự án khác. Cho tới nay, về cơ bản đối tượng qui định
trong Nghị định 43/CP đã thay đổi theo hướng mở rộng một cách quá
tràn lan.
Thứ hai : Có quá nhiều đầu mối thực hiện cho vay
Hiện có nhiều loại hình tín dụng ưu đãi khác nhau với nhiều lĩnh
vực, đối tượng khác nhau và thông qua nhiều tổ chức cho vay thực
hiện, cụ thể:
+Tín dụng đầu tư theo kế hoạch Nhà nước do 4 ngân hàng thương
mại quốc doanh, Tổng cục đầu tư phát triển (trước đây), Quỹ hỗ trợ
đầu tư quốc gia (trứơc đây) và Quỹ Hỗ trợ phát triển (hiện nay).
+Chương trình cho vay giải quyết việc làm, phủ xanh đất trống đối
Thứ tư : Cơ chế, chính sách không ổn định và đôi khi chưa hợp lý
+Thủ tục hành chính cho vay vốn nhiều phiền hà và khác nhau ở
các Tổ chức cho vay, các thời điểm cho vay. Chưa phân định được
chức năng cụ thể của từng cấp quản lý nên nhiều khâu quản lý còn lỏng
lẻo, nhiều khâu lại chồng chéo nhất là khâu thẩm định dự án.
20
Kinh tÕ §Çu t
+Cơ chế bảo đảm tiền vay còn chưa thông nhất, các doanh nghiệp
Nhà nước được dùng tài sản hình thành từ vốn vay để thế chấp, nhưng
các thành phần kinh tế khác thì phải có ít nhất 50% tài sản để đảm bảo
tiền vay.
+Điều kiện vay vốn quy định trong Nghị định 43/CP chưa phù hợp,
các dự án muốn vay vốn tín dụng phải hoàn thành thủ tục đẩu tư, nên
phần lớn các doanh nghiệp ngoài quốc doanh đều gặp vướng mắc về
thẩm quyền quyết định đầu tư, cấp đất đầu tư.
Thứ năm : Hiện còn quá nhiều mức lãi suất
Về mức lãi suất, theo qui định tại Nghị định 43/CP, lãi suất tín dụng
sẽ được điều chỉnh khi lãi suất cơ bản tăng, giảm 10%. Thực tế việc
điều chỉnh lãi suất tín dụng ưu đãi còn rất chậm so với biến động lãi
suất cơ bản, làm ảnh hưởng đến việc giải ngân. Hiện tồn tại nhiều loại
lãi suất như:
- 0% cho chương trình kiên cố hoá kênh mương
- 0,2-0,3%/tháng cho các chương trình trồng rừng
-3,5%/năm cho các chương trình cơ khí trọng đIểm
-5%/năm cho chương trình đóng tàu biển và cơ khí Hà Nội
-7%/năm cho các dự án giảI ngân từ 1/1/2000
Có vốn là rất quan trọng nhưng nếu không được đầu tư vào những
ngành, những sản phẩm có hiệu quả và có sức cạnh tranh thì sẽ làm
tăng gánh nặng nợ nần và sẽ kìm hãm tốc độ tăng trưởng, phát triển của
nền kinh tế.
B_ Về tình hình thu hút vốn trong nứơc cho đầu tư phát triển
Năm 2004, nền kinh tế nước ta tiếp tục tăng trưởng khá ; nhiều chỉ tiêu đề
ra chỉ đạt và vượt kế hoạch .Bức tranh kinh tế – xã hội đã sáng dần lên .Năm
2005, nhìn lại những gì đạt được và hướng tới tương lai thì thực sự có cả cơ
22
Kinh tÕ §Çu t
hội và thách thức , cần phải có bước đột phá cả về tốc độ và chất lượng tăng
trưởng.
Nguồn lực huy động cho đầu tư phát triển đa dạng. Nguồn vốn trong nước
– nhất là vốn đầu tư của dân tăng khá - nhiều năm liền chiếm tỷ trọng
cao(hơn 70%). Người dân ngày càng có nhiều cơ hội chủ động và linh hoạt
lựa chọn các kênh khác nhau đầu tư vốn hay tiền nhàn rỗi của mình . Các
nguồn lực trong dân đang được giải phóng và phát huy mạnh mẽ . Tính đến
hết năm 2004, cả nước có khoảng 160.000 doanh nghiệp tư nhân và trên 2
triệu hộ kinh doanh , nghĩa là sau 5 năm thực hiện Luật Doanh nghiệp , có
hơn 110.000 doanh nghiệp mới ra đời với tổng vốn đầu tư trị giá ước trên 10
tỷ USD. Đây là mức kỷ lục trong những năm gần đây. Nguyên nhân đạt được
mức huy động cao như vậy là do có chính sách huy động huy động tối đa
nguồn nội lực và cải thiện môi trường kinh doanh trong nước, nhất là việc
thực hiện Luật Doanh nghiệp , nhờ đó đã khuyến khích được khu vực tư nhân
bỏ vốn vào sản xuất kinh doanh .
Tổng thu ngân sách Nhà nước đạt gần 167.000 tỷ đồng , vượt 11.8% dự
toán , tăng 17.4% so với năm 2003 . Cơ cấu thu ngân sách có nhiều tiến bộ ;
( xấp xỉ bằng tỷ trọng của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài,
khô ng kể dầu khí ) , tăng 4,4% so với năm 2000.Trong tháng 1 năm 2005, giá
trị sản xuất công nghiệp của khu vực doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã tăng
44,8% so với cùng kỳ năm trước, cao hơn tốc độ tăng chung của toàn ngành
là 32,4%.
Trong lĩnh vực thương nghiệp, vị thế của kinh tế dân doanh còn lớn hơn
nhiều vì chiếm đến 84% tổng mức bán lẻ hàng hoá và dịch vụ xã hội. Hiện
nay, nguồn vốn của dân còn toả đi nhiều hướng khác và xu thế này ngày càng
tăng, chẳng hạn như đầu tư vào thị trường bảo hiểm.Theo thống kê, hết năm
2004, cả nước đã có đến 7,4 triệu hợp đồng bảo hiểm nhân thọ còn hiệu lực,
với tổng vốn đầu tư trên 8500 tỷ đồng, lớn hơn 6.5 lần so với năm 2000và có
dự báô răng năm 2005 có thể tăng lên đến 9 triệu hợp đồng .
24
Kinh tÕ §Çu t
Cổ phần ,cổ phiếu của các doanh nghiệp cổ phần cũng đang trở thành một
kênh thu hút hàng nghìn tỷ đồng vốn của người dân . Cả nước hiện có gần
2000 doanh nghiệp nhà nước đã được cổ phần hoá và 26 công ty niêm yết
chứng khoán . Công trái quốc gia (trái phiếu chính phủ , trái phiếu công
trình , tráI phiếu địa phương do một số tỉnh , thành phố phát hành ) cũng đã
thu hút gần 9000 tỷ đồng vốn của dân trong năm 2004.
Các kênh đầu tư khác như gửi tiết kiệm băng ngoại tệ , nội tệ hay bằng
vàng hoặc đầu tư vào bất động sản (như mua căn hộ cao cấp , mua đất làm
nhà, làm trang trại …), xổ số … cũng thu hút nguồn vốn rất lớn trong dân.
Ngoài ra, còn phải kể đến một kênh đầu tư đặc biệt mà người dân đang hết
sức
quan tâm là đầu tư vốn cho ngưới thân đi xuất khẩu lao động . Hoặc đầu tư
cho con em đi du học nước ngoài cũng là một hướng đầu tư mới nổi .