BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………./…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
TRƯƠNG THỊ QUỲNH ANH
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH QUẢNG BÌNH
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ CÔNG
THỪA THIÊN HUẾ - NĂM 2017
BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ NỘI VỤ
…………./…………
……/……
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH QUỐC GIA
Lời cảm ơn
Để thực hiện và hoàn thành đề tài luận văn này tôi đã nhận được nhiều
sự hỗ trợ, giúp đỡ và tạo điều kiện từ nhiều cơ quan, tổ chức và cá nhân.
Trước hết tôi xip bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến PGS.TS. Ngô Thành
Can - người hướng dẫn khoa học trực tiếp, đã dành nhiều thời gian, công sức
hướng dẫn tôi trong quá trình nghiên cứu để hoàn thành luận văn.
Tôi xin trân trọng cảm ơn Cơ sở Học viện Hành chính Quốc gia khu
vực miền Trung, Khoa Sau đại học Học viện Hành chính cùng toàn thể các
thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt những kiến thức quý báu, giúp đỡ tôi trong
quá trình học tập và nghiên cứu. Xin chân thành cảm ơn các Sở, ban, ngành,
đơn vị liên quan đã tạo điều kiện cho tôi trong quá trình hoàn thành luận văn
này.
Tuy có nhiều cố gắng, song chắc chắn luận văn sẽ không tránh khỏi
những thiếu sót, hạn chế. Vì vậy, kính mong quý thầy, cô giáo, đồng nghiệp,
đồng môn tiếp tục có những ý kiến đóng góp, giúp đỡ để đề tài được hoàn
thiện hơn.
Tôi xin chân thành cảm ơn.
Học viên
Trương Thị Quỳnh Anh
MỤC LỤC
MỞ ĐẦU....................................................................................................................1
Chương 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH
SỬ - VĂN HOÁ ........................................................................................................9
1.1. Một số khái niệm liên quan .................................................................................9
1.1.1. Khái niệm Di sản văn hóa ................................................................................9
1.1.2. Khái niệm di tích………………………………………………………....11
1.1.3. Khái niệm di tích lịch sử - văn hóa ............................................................... 12
1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa............................. 13
2.3. Phân tích thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình ...................................................................................................... 49
2.3.1. Cơ cấu tổ chức bộ máy quản lý di tích. ........................................................ 49
2.3.2. Nguồn nhân lực quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa. .................. 52
2.3.3. Các hoạt động quản lý nhà nước về di tích lịch sử văn hóa tại Quảng Bình.
.................................................................................................................................. 54
2.4. Đánh giá thực trạng quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình. ..................................................................................................... 69
2.4.1. Kết quả đạt được trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa
bàn tỉnh Quảng Bình................................................................................................ 69
2.4.2. Hạn chế trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên địa bàn tỉnh
Quảng Bình. ............................................................................................................. 74
2.4.3. Nguyên nhân hạn chế trong quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
trên địa bàn tỉnh Quảng Bình. ................................................................................. 77
Tiểu kết chương 2 .................................................................................................... 80
Chương 3. PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ
NHÀ NƯỚC VỀ DI TÍCH LỊCH SỬ - VĂN HÓA TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH
QUẢNG BÌNH....................................................................................................... 81
3.1. Quan điểm và phương hướng hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích
lịch sử - văn hóa. ..................................................................................................81
3.1.1. Quan điểm của Đảng về Di sản văn hóa. ..........................................81
3.1.2. Quan điểm của Nhà nước về quản lý di sản văn hóa. .......................84
3.1.3. Những căn cứ để đưa ra giải pháp quản lý di sản văn hóa. ...............85
3.1.4. Phương hướng hoàn thiện quản lý nhà về di tích lịch sử - văn hóa của
ngành Văn hóa và Thể thao Quảng Bình. ............................................................86
3.2. Giải pháp hoàn thiện quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa trên
địa bàn tỉnh Quảng Bình. .....................................................................................88
3.2.1. Đẩy mạnh vai trò quản lý nhà nước trong quản lý di tích lịch sử - văn
Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch
CNH, HĐH
Công nghiệp hóa, hiện đại hóa
ĐSCVN
Đảng Cộng sản Việt Nam
DSVH
Di sản văn hóa
DT
Di tích
DTLS-VH
Di tích lịch sử - văn hóa
PN-KB
Phong Nha - Kẻ Bàng
KH-CN
Khoa học và công nghệ
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài luận văn
Quảng Bình là một tỉnh ở khu vực Bắc miền Trung – Là vùng đất một
thời là ranh giới giao tranh giữa Đàng Trong và Đàng Ngoài - nơi hội tụ giữa
các yếu tố tự nhiên và văn hóa của hai miền Nam - Bắc. Đây là vùng đất có bề
dày truyền thống lịch sử - văn hóa lâu đời, kết tinh nhiều giá trị văn hóa vật
chất và tinh thần độc đáo.
Quảng Bình được ví như một bức tranh hoành tráng, có rừng, có biển
với nhiều thắng cảnh nổi tiếng như: Vũng Chùa - Đảo Yến (nơi yên nghỉ của
Đại Tướng Võ Nguyên Giáp), Đèo Ngang, Đá Nhảy, đèo Lý Hòa, cửa biển
Nhật Lệ, biển Hải Ninh, phá Hạc Hải, Cổng Trời,... Đặc biệt, Quảng Bình có
Di sản thiên nhiên thế giới Vườn Quốc gia Phong Nha - Kẻ Bàng với những
hang động đẹp nổi tiếng như: Động Phong Nha, động Thiên Đường và động
Sơn Đoòng - động lớn nhất Thế giới (được tạp chí Business Insider xếp vào
danh sách 12 hang động kỳ vĩ nhất thế giới).
Quảng Bình còn là vùng đất văn vật, có di sản văn hóa Bàu Tró, nhiều di
tích lịch sử như Quảng Bình Quan, Lũy Thầy, thành cổ của thời Trịnh Nguyễn... Trong quá trình phát triển, mảnh đất Quảng Bình đã hình thành
nhiều làng văn hóa nổi tiếng được truyền tụng từ đời này sang đời khác như
''Bát danh hương'' Sơn, Hà, Cảnh, Thổ, Văn, Võ, Cổ, Kim. Đây còn là miền
đất gắn liền với tên tuổi nhiều danh nhân tiền bối, tướng lĩnh tài ba, học rộng,
đỗ cao nổi tiếng trên nhiều lĩnh vực như Dương Văn An, Lễ Thành hầu
Nguyễn Hữu Cảnh, Nguyễn Hàm Ninh, Hoàng Kế Viêm, Đại tướng Võ
Nguyên Giáp.... Quảng Bình còn ôm trong lòng hệ thống di tích các loại hình,
đặc biệt là hệ thống di tích lịch sử, di tích lịch sử - văn hóa (sau đây gọi là
DTLS-VH) gắn với hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc
1
Việc QLNN về di tích tại một số địa phương chưa thực sự được quan
tâm đúng mức. Đây là vấn đề cấp thiết, đòi hỏi phải có sự vào cuộc của các
ngành chức năng. Bởi nếu được bảo vệ và khai thác tốt giá trị di tích sẽ có ý
nghĩa lớn lao trong việc tìm hiểu cội nguồn văn hóa dân tộc góp phần bảo tồn
phát huy những tinh hoa, truyền thống thuần phong mỹ tục, là nền tảng để xây
dựng nền văn hóa Việt Nam vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc. Trái
lại, nếu không nhận thức đầy đủ mối quan hệ mang tính biện chứng, hữu cơ
và sử dụng một cách khoa học thì nguồn tài nguyên ấy cũng sẽ đến lúc cạn
kiệt, khô cứng và rơi vào lãng quên uổng phí những gì vốn có từ giá trị của
nó. Vấn đề đặt ra ở đây là làm thế nào để di tích nói chung, DTLS-VH nói
riêng phải trở thành bộ phận hợp thành nền tảng tinh thần của xã hội, góp
phần vào tăng trưởng kinh tế mang tính bền vững từ những giá trị của DT LSVH mang lại, đó chính là vấn đề cần phải được giải quyết một cách khoa học,
biện chứng.
Hiện nay, vấn đề trùng tu, tôn tạo DTLS-VH cả nước nói chung và tỉnh
QB nói riêng đang càng ngày được Đảng, Nhà nước và chính quyền các cấp
quan tâm. Tuy nhiên thực tiễn công tác QLNN còn có một số vấn đề bất cập
như: đội ngủ cán bộ còn mỏng, nguồn lực để đầu tư cho việc phát huy giá trị
di tích, chống xuống cấp, xử lý lấn chiếm đất đai, khoanh vùng bảo vệ di tích,
việc tuyên truyền, phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách pháp
luật của nhà nước về di tích đến cộng đồng còn chưa đạt kết quả như mong
muốn…
Để khắc phục điều đó, vấn đề QLNN đóng vai trò quyết định. Chính vì
vậy, nghiên cứu một cách hệ thống, toàn diện, cụ thể cả lý luận và thực tiễn
QLNN về DTLS-VH nói chung và tỉnh QB nói riêng đang là đòi hỏi rất cấp
thiết hiện nay.
3
Là người con của quê hương QB, công tác trong ngành văn hóa, với
trong thời đại mới. Đồng thời phục vụ cho công tác quảng bá, giới thiệu các
di tích lịch sử, danh lam thắng cảnh gắn với các truyền thuyết, huyền thoại
nhằm thu hút đông đảo du khách đến với du lịch Quảng Bình.
- Lê Hùng Phi (2009), Quản lý di tích , danh thắng gắn với phát triển du
lịch ở Quảng Bình, Luận văn thạc sỹ: Nhằm làm rõ những vấn đề lý luận
chung về mối quan hệ giữa văn hóa với phát triển kinh tế du lịch; Phân tích
thực trạng quản lý di tích và danh thắng gắn với phát triển du lịch ở Quảng
Bình hiện nay và đề xuất những giải pháp góp phần nâng cao chất lượng và
hiệu quả của hoạt động này trong thời gian tới, đáp ứng nhu cầu đổi mới công
tác quản lý văn hóa và du lịch hiện nay.
- Lê Thị Phương Thảo ( 2014), Quản lý và phát triển di tích lịch sử văn hóa trên địa bàn thành phố Đồng Hới tỉnh Quảng Bình, Luận văn cử
nhân;
- Lệ Quang Phạm Ngọc Hiên, Những ngôi chùa của tỉnh QB: Nhằm
giới thiệu về những ngôi chùa hiện nay tại Quảng Bình và những ngôi chùa
chỉ còn lại trrong ký ức, trong tư liệu Hán Nôm. Từ đó khẳng định Quảng
Bình không chỉ là vùng đất của những cuộc giao tranh trong lịch sử thăng
trầm thế sự mà còn là vùng đất tâm linh, vùng đất khát vọng "Từ bi, hỷ xã",
tôn vinh các giá trị Văn hóa tín ngưỡng, giá trị nhân văn "chân-thiện-mỹ".
- Quảng Bình ẩn tích thời gian (3 tập) của Hội Di sản Văn hóa Việt
Nam tỉnh: Tập sách đã bao quát hầu hết những nét đặc trưng, nổi bật nhất của
đời sống văn hóa, con người, địa danh Quảng Bình, các di tích, danh lam,
thắng cảnh, lễ hội, tín ngưỡng, tâm linh và tự nhiên của mảnh đất gió Lào cát
trắng. Đồng thời, bộ ba cuốn sách “Quảng Bình ẩn tích thời gian” đã cung cấp
những kiến thức khái lược và chọn lọc về hình ảnh cho khách du lịch có nhu
cầu tìm hiểu, nghiên cứu về Quảng Bình.
5
Tuy nhiên, chưa có công trình nào nghiên cứu chuyên sâu, có tính hệ
thống về các vấn đề lý luận và thực tiễn quản lý DTLS-VH với những cách
- Đề xuất các giải pháp hoàn thiện QLNN về DTLS-VH trên địa bàn
tỉnh Quảng Bình.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Quản lý nhà nước về DTLS-VH trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Về không gian: Nghiên cứu trên địa bàn tỉnh Quảng Bình
- Về nội dung: Tập trung nghiên cứu nội dung QLNN về các DTLS-VH
có giá trị trên địa bàn tỉnh Quảng Bình.
- Về thời gian: Phân tích thực trạng QLNN về các DTLS-VH từ 2011
– 2016 và đề ra giải pháp cho giai đoạn 2017-2025.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp luận
Theo nguyên lý triết học Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh, quan
điểm của Đảng, Nhà nước về quản lý DSVH.
5.2. Phương pháp nghiên cứu
Quá trình thực hiện đề tài, tác giả Luận văn đã sử dụng các phương
pháp:
- Phương pháp so sánh.
- Phương pháp quan sát khoa học.
- Phương pháp nghiên cứu lý thuyết, thực tiễn.
- Phương pháp thống kê, phân tích, tổng hợp, mô tả.
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm thực tiễn.
- Phương pháp xử lý thông tin xử lý số liệu bảng toán học.
7
Luận văn có sử dụng các số liệu, tài liệu đã công bố trong và ngoài
nước có liên quan đến đề tài.
nghĩa rộng là của cả nhân loại nói chung. Phần mở đầu của Luật Di sản Văn
hóa (sau đây gọi là DSVH) của Việt Nam đã viết: " DSVH Việt Nam là tài
sản quý giá của cộng đồng các dân tộc Việt Nam và là một bộ phận của di sản
văn hóa nhân loại, có vai trò to lớn trong sự nghiệp dựng nước và giữ nước
của nhân dân ta" [37].
Theo nghĩa Hán Việt, DSVH là những tài sản văn hóa có giá trị của quá
khứ còn tồn tại trong cuộc sống đương đại và tương lai. Di là để lại, còn lại,
dịch chuyển, chuyển lại. Sản là tài sản, là những gì quý giá, có giá trị.
Luật DSVH của Việt Nam tại Điều 1 đã nêu rõ "DSVH bao gồm DSVH
phi vật thể và DSVH vật thể, là sản phẩm tinh thần, vật chất có giá trị lịch sử,
văn hóa, khoa học,được lưu truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác ở nước
Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam" [29].
Đây có thể xem là khái niệm về DSVH được sử dụng chung nhất ở
nước ta hiện nay và tương tự như khái niệm về DSVH được sử dụng trên thế
giới. Điều đó có nghĩa DSVH là của cải, là tài sản quốc gia mà mọi công dân
phải có nghĩa vụ bảo vệ, giữ gìn. DSVH là yếu tố cốt lõi của văn hóa, chuyển
tải bản sắc văn hóa của một cộng đồng xã hội. Vì thế, bảo tồn và phát huy giá
trị DSVH là vấn đề quan trọng của chính sách văn hóa nhằm hướng tới xây
dựng nền văn hóa Việt Nam tiến tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, góp phần vào
9
việc giữ gìn và làm phong phú cho kho tàng DSVH nhân loại, là động lực tích
cực để xây dựng và phát triển đất nước.
- Phân loại di sản văn hoá: Việc tiến hành phân loại DSVH là một nhu
cầu thiết thực, khoa học, góp phần hỗ trợ, nâng cao hiệu quả trong nghiên
cứu, đặc biệt đối với công tác tu bổ, bảo tồn các DSVH. Luật DSVH năm
2001 và được điều chỉnh tại Luật DSVH năm 2009 ghi rõ:
"DSVH phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộng đồng hoặc cá
từ thế hệ này sang thế hệ khác được phát triển và sáng tạo mới trên nền của di
sản cũ; Tính nhạy cảm, dễ bị ảnh hưởng dưới các tác động khác nhau của con
người, của điều kiện thời tiết, các phản ứng hóa học…
1.1.2. Khái niệm di tích
Giáo trình Bảo tồn di tích lịch sử - văn hóa của Trường Đại học Văn
hóa đưa ra khái niệm khoa học về di tích như sau: Là những không gian vật
chất cụ thể, khách quan, trong đó chứa đựng các giá trị điển hình lịch sử; do
tập thể hoặc cá nhân con người hoạt động sáng tạo ra trong lịch sử để lại.
Như vậy, di tích là dấu vết của quá khứ còn lại lưu trong lòng đất hoặc trên
mặt đất có ý nghĩa về mặt văn hóa và lịch sử.
Tại Chương 3, Điều 11 của Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày 21/9/2010
quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật DSVH về phân loại di tích thì
di tích được phân thành 4 loại: Di tích lịch sử (di tích lưu niệm sự kiện, di tích
lưu niệm danh nhân); Di tích kiến trúc nghệ thuật; Di tích khảo cổ; Danh lam
thắng cảnh.
Căn cứ vào giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học, di tích được chia thành 3
loại: Di tích cấp tỉnh - là di tích có giá trị tiêu biểu của địa phương do UBND
tỉnh ra quyết định công nhận; Di tích quốc gia - là di tích có giá trị tiêu biểu
của quốc gia do Bộ BHTTDL ra quyết định công nhận; Di tích quốc gia đặc
biệt - là di tích có giá trị đặc biệt tiêu biểu của quốc gia” [39] do Thủ tướng
11
Chính phủ ra quyết định công nhận trên cơ sở lựa chọn các di tích quan trọng
đã được Bộ VHTTDL xếp hạng là di tích quốc gia.
* Về hình thức quản lý di tích được chia thành 3 loại:
- Di tích do nhà nước trực tiếp quản lý: là các di tích quốc gia đặc biệt
và di tích quốc gia do các Ban quản lý di tích được Nhà nước thành lập trực
tiếp quản lý. Nhà nước cấp lương, chi phí cho hoạt động thường xuyên, các
chi phí sửa chữa... trực tiếp cho Ban quản lý di tích.
khảo cổ có giá trị tiêu biểu; Công trình kiến trúc, nghệ thuật, quần thể kiến
trúc, tổng thể kiến trúc đô thị và địa điểm cư trú có giá trị tiêu biểu cho một
hoặc nhiều giai đoạn phát triển kiến trúc, nghệ thuật [39].
1.1.4. Khái niệm quản lý nhà nước về di tích lịch sử - văn hóa
QLNN về DTLS-VH là hoạt động chấp hành, điều hành của các cơ
quan quản lý nhà nước được tiến hành trên cơ sở pháp luật và thi hành pháp
luật để điều chỉnh hành vi hoạt động của cá nhân, tổ chức trong việc bảo
quản, tu bổ và phục hồi DTLS-VH.
Chủ thể QLNN về trùng tu DTLS-VH là các cơ quan nhà nước có thẩm
quyền trong việc quản lý trùng tu DTLS-VH.
Đối tượng QLNN về trùng tu DTLS-VH là các cá nhân hoặc tổ chức có
liên quan đến lĩnh vực trùng tu DTLS-VH.
Khách thể QLNN về trùng tu DTLS-VH là trật tự quản lý trong toàn bộ
quá trình trùng tu DTLS-VH cũng như các hành vi của các cá nhân, tổ chức
trong quá trình trùng tu DTLS-VH nhằm gìn giữ, bảo vệ và khai thác các giá
trị của di tích phục vụ sự phát triển xã hội, đáp ứng nhu cầu về vật chất và
tinh thần cho cộng đồng.
Như vậy, QLNN về DTLS-VH chính là sự định hướng, tạo điều kiện tổ
chức, điều hành việc bảo vệ, gìn giữ các di tích, làm cho các giá trị của di
tích được phát huy theo chiều hướng tích cực. Trong đó tập trung các nội
13
dung:
- Bảo quản DTLS-VH: là hoạt động nhằm phòng ngừa và hạn chế
những nguy cơ làm hư hỏng mà không làm thay đổi những yếu tố nguyên gốc
vốn có của DTLS-VH. Bảo quản di tích gồm các hoạt động như bảo dưỡng
thường xuyên cho di tích, bảo quản cấp thiết và bảo quản phòng ngừa.
- Tu bổ DTLS-VH: là hoạt động nhằm tu sửa, gia cố, tôn tạo DTLS-VH
với mục đích đưa công trình đã hư hỏng về nguyên gốc, đảm bảo tính bền
vụ của tổ chức, cá nhân và chủ sở hữu đối với DSVH. Đồng thời, chỉ rõ
những việc được làm và không được làm, những hành vi bị nghiêm cấm, cơ
chế khen thưởng, tôn vinh những người có công, xử phạt các hành vi vi phạm
di tích; trách nhiệm của các Bộ, ban, ngành có liên quan ở trung ương và
UBND các cấp trong việc bảo tồn DSVH.
Trên cơ sở Luật DSVH số 32/2009/QH12, Chính phủ và Bộ VHTTDL
đã ban hành các văn bản hướng dẫn như : Nghị định 98/2010/NĐ-CP ngày
21/9/2010 của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật
DSVH và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật DSVH (thay thế Nghị
định 92/2002/NĐ-CP ngày 11/11/2002); Nghị định 70/2012/NĐ-CP ngày
18/9/2012 của Chính phủ về thẩm quyền, trình tự, thủ tục lập, phê duyệt quy
hoạch, dự án bảo quản, tu bổ, phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam
thắng cảnh; Quyết định số 13/2004/QĐ-BVHTT ngày 01/4/2004 của Bộ
trưởng Bộ Văn hóa - Thông tin về việc ban hành Định mức dự toán bảo quản,
tu bổ và phục hồi di tích lịch sử - văn hóa, danh lam thắng cảnh; Thông tư
09/2011/TT-BVHTTDL ngày 14/7/2011 của Bộ VHTTDL quy định về nội
dung hồ sơ khoa học để xếp hạng di tích lịch sử - văn hóa và danh lam thắng
cảnh; Thông tư số 18/2012/TT-BVHTTDL ngày 28/12/2012 của Bộ
VHTTDL quy định chi tiết một số quy định về bảo quản, tu bổ, phục hồi di
tích; Thông tư số 17/2013/TT-BVHTTDL ngày 30/12/2013 của Bộ VHTTDL
15