LỜI CAM ĐOAN
Tác giả xin cam đoan luận văn này do tự bản thân thực hiện và không sao chép
các công trình nghiên cứu của người khác để làm sản phẩm của riêng mình. Các thông
tin thứ cấp sử dụng trong luận văn là có nguồn gốc và được trích dẫn rõ ràng. Tác giả
hoàn toàn chịu trách nhiệm về tính xác thực và nguyên bản của luận văn.
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đỗ Hải Nam
i
LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, trước tiên tôi xin trân trọng cảm ơn đến tập thể cán
bộ, giảng viên Viện Đào tạo sau đại học – Trường Đại học Hàng hải Việt Nam trong thời
gian qua đã truyền đạt cho tôi những kiến thức quý báu cũng như đã hướng dẫn và giúp
đỡ tôi về các điều kiện trong quá trình thực hiện luận văn.
Tôi xin bày tỏ lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS.Nguyễn Hồng Thái, người đã định
hướng đề tài, khuyến khích và chỉ dẫn tận tình cho tôi trong suốt thời gian thực hiện
nghiên cứu này.
Cuối cùng tôi xin gửi lời tri ân sâu sắc đến gia đình, bạn bè và đồng nghiệp đã
luôn sát cánh, động viên, giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này.
Hải Phòng, ngày tháng năm 2016
Tác giả
Đỗ Hải Nam
ii
:
:
:
:
:
:
:
Ngân Hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
Ngân hàng thương mại
Ngân hàng trung ương
Công nghệ thông tin
Tín dụng bán lẻ
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Ngoại Thương Việt Nam
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Quân Đội
Ngân hàng Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên HSBC Việt Nam
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Công Thương Việt Nam
Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam
Ngân hàng Trách nhiệm Hữu hạn một thành viên ANZ Việt Nam
iv
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số
hiệu
bảng
2.1
2.2
Kết quả mở rộng hoạt động TDBL tại BIDV Đông Hải Phòng
giai đoạn 2013 – 2015
Kết quả thu nhập từ hoạt động tín dụng bán lẻ giai đoạn 20132015
So sánh sản phẩm tín dụng bán lẻ của các NHTM
Phân đoạn khách hàng của chi nhánh tại thời điểm 31/12/2015
Thống kê số lượng mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch
trực thuộc
GDP Hải Phòng trong 3 năm 2012 - 2014
1
43
44
46
48
58
63
68
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ
Số hiệu
2.1
2.2
2.3
Tên hình vẽ
Sơ đồ tổ chức BIDV Đông Hải Phòng
Dư nợ TDBL tại BIDV Đông Hải Phòng
Chính vì vậy, hiện nay, ngành ngân hàng Việt Nam trong thời gian qua đã tập
trung phát triển mô hình ngân hàng bán lẻ. Nhận thức được đây là một thị trường
rộng lớn, chưa được khai phá hết tiềm năng, các ngân hàng trong nước đều đã
xây dựng cho mình các chính sách, sản phẩm mang tính cạnh tranh để nhanh
chóng chiếm lĩnh thị trường.
Hoạt động TDBL là một phần quan trọng trong hoạt động của ngân hàng
bán lẻ, nó chiếm tỷ trọng lớn trong thu nhập của hoạt động ngân hàng bán lẻ,
nâng cao hình ảnh, vị thế của ngân hàng đối với người dân, góp phần vào sự phát
triển ổn định và bền vững của ngân hàng. Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển
Việt Nam trước đây vẫn được biết đến là một ngân hàng chuyên cho vay, tài trợ
3
những dự án lớn mang tính trọng điểm của quốc gia. Trước sự vận đổi không
ngừng cùa nền kinh tế nói chung cũng như nền kinh tế nói riêng, ban lãnh đạo
ngân hàng đã nhanh chóng nhận thấy được tiềm năm của việc phát triền hoạt
động tín dụng bán lẻ và đã có nhiều chính sách, quyết định hỗ trợ hoạt động bán
lẻ cũng như động viên khuyến khích cán bộ công nhân viên trong hệ thống có
những sáng tạo, đóng góp, tìm hướng đi mở rộng hoạt động tín dụng bán lẻ.
Trong giai đoạn hoạt động từ năm 2012 - 2015, hoạt động tín dụng bán lẻ của chi
nhánh đã có những thành tích đáng tự hào. Tuy nhiên, để có thể giữ được đà tăng
trưởng nhanh và bền vững trong giai đoạn tiếp theo là vô cùng khó khăn khi các
ngân hàng trên địa bàn thành phố cũng đã tập trung phát triển mở rộng hoạt động
tín dụng bán lẻ. Thực tế đòi hỏi phải có những giải pháp, sáng kiến, cách làm mới
nhằm giúp cho hoạt động tín dụng bán lẻ tại chi nhánh tiếp tục phát triển. Nhận
thức được điều đó, tôi đã quyết định chọn đề tài nghiên cứu "Mở rộng hoạt động
TDBL tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam - Chi nhánh Đông Hải
Phòng".
2. Mục đích nghiên cứu
Nhận thấy thị trường bán lẻ ở thành phố Hải Phòng có rất nhiều tiềm năng
NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT NAM – CHI NHÁNH
ĐÔNG HẢI PHÒNG.
Chương 3 MỘT SỐ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ
TẠI BIDV ĐÔNG HẢI PHÒNG
5
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ GIẢI PHÁP MỞ RỘNG HOẠT
ĐỘNG TÍN DỤNG BÁN LẺ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1 Tổng quan về Ngân hàng Thương mại
1.1.1 Khái niệm
NHTM là một định chế tài chính trung gian có vị trí quan trọng trong nền
kinh tế thị trường nói chung và trong hệ thống ngân hàng nói riêng.
Có thể hiểu NHTM theo một trong các khái niệm sau[1] :
- NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt chuyên kinh doanh trên lĩnh vực tiền
tệ tín dụng, trong đó chức năng chủ yếu là làm trung gian tín dụng giữa các doanh
nghiệp, các cá nhân trong nền kinh tế.
- NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và thực hiện các dịch vụ ngân
hàng cho khách hàng ...
- NHTM là tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu và thương
xuyên là nhận tiền gửi của khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền
đó để cho vay, thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán.
NHTM là một Tổ chức tín dụng (TCTD) quan trọng nhất trong các ngân
hàng trung gian.
1.1.2 Chức năng
-
Chức năng trung gian tín dụng: Chức năng trung gian tín dụng được xem là
Chức năng tạo tiền: Tạo tiền là một chức năng quan trọng, phản ánh rõ bản
chất của NHTM. Với mục tiêu là tìm kiếm lợi nhuận như là một yêu cầu chính cho
sự tồn tại và phát triển của mình, các NHTM với nghiệp vụ kinh doanh mang tính
đặc thù của mình đã vô hình trung thực hiện chức năng tạo tiền cho nền kinh tế.
Chức năng tạo tiền được thực thi trên cơ sở hai chức năng khác của NHTM là chức
năng tín dụng và chức năng thanh toán. Thông qua chức năng trung gian tín dụng,
ngân hàng sử dụng số vốn huy động được để cho vay, số tiền cho vay ra lại được
khách hàng sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ trong khi số dư trên tài
khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng vẫn được coi là một bộ phận của tiền
giao dịch, được họ sử dụng để mua hàng hóa, thanh toán dịch vụ… Với chức năng
này, hệ thống NHTM đã làm tăng tổng phương tiện thanh toán trong nền kinh tế,
đáp ứng nhu cầu thanh toán, chi trả của xã hội. Ngân hàng thương mại tạo tiền phụ
thuộc vào tỉ lệ dự trữ bắt buộc của ngân hàng trung ương đã áp dụng đối với nhtm.
do vậy ngân hàng trung ương có thể tăng tỉ lệ này khi lượng cung tiền vào nền kinh
tế lớn.
7
1.1.3 Phân loại NHTM
1.1.3.1 Phân loại dựa vào hình thức sở hữu
a. Ngân hàng thương mại Quốc doanh : Là ngân hàng thương mại được
thành lập bằng 100% vốn ngân sách nhà nước. Trong tình hình hiện nay để tăng
nguồn vốn và phù hợp với xu thế hội nhập tài chính với thế giới các ngân hàng
thương mại quốc doanh Việt Nam đang phát hành trái phiếu để huy động vốn ; đã
và đang cổ phần hóa để tăng sức cạnh tranh với các chi nhánh ngân hàng nước
ngoài và các ngân hàng cổ phần hiện nay.Thuộc loại này gồm:
- Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)- đã cổ phần hóa.
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank).
thương mại bán buôn, ngân hàng thương mại bán lẻ, ngân hàng thương mại vừa
bán buôn vừa bán lẻ.
- Ngân hàng thương mại bán buôn : Là NHTM tập trung nhắm đến đối
tượng khách hàng là các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các
xí nghiệp lớn. Danh mục sản phẩm ngân hàng loại này cung cấp cho khách hàng
thường không đa dạng tuy nhiên giá trị của từng giao dịch thường là rất lớn.
- Ngân hàng thương mại bán lẻ : Là ngân hàng tập trung khai thác nhóm đối
tượng khách hàng là cá nhân hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng loại
này thường chú trọng đến việc đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng được các nhu cầu
của nhiều khách hàng. Tuy giá trị của từng sản phẩm không lớn nhưng bù lại là
một lực lượng khách hàng rất lớn. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy
động vốn từ mọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng
hoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa.
- Ngân hàng thương mại vừa bán buôn, vừa bán lẻ : Là ngân hàng thực hiện
song song cả hai hoạt động bán buôn và bán lẻ. Ngân hàng này nhắm vào tất cả
các dạng khách hàng từ cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến
các tổng công ty, các tập đoàn lớn. Ví dụ: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển
Việt Nam (BIDV), Ngân hàng TMCP Sài Gòn Thương Tín (Sacombank)…
1.1.4 Nghiệp vụ của NHTM
NHTM là ngân hàng chuyên kinh doanh tiền tệ tín dụng, nó thực hiện các
nghiệp vụ chủ yếu là Nghiệp vụ tài sản nợ và Nghiệp vụ tài sản có.
9
Các nghiệp vụ của NHTM có liên quan trực tiếp đến nội dung của các khoản
mục thuộc bảng tổng kết tài sản của ngân hàng. Bởi vậy, chúng ta nên xem xét khái
quát bảng tổng kết tài sản trước khi nghiên cứu các nghiệp vụ của ngân hàng. Bảng
tổng kết tài sản của NHTM thường được thiết lập theo nội dung sau :
TÀI SẢN CÓ
TÀI SẢN NỢ
II. TÍN DỤNG :
- Vay ngân hàng nước ngoài.
- Tín dụng công nghiệp và thương - Vay ngân hàng Trung ương.
mại.
- Tín dụng nông nghiệp.
- Tín dụng tiêu dùng.
III. VỐN TỰ CÓ (Nguồn vốn chủ
- Tín dụng trung và dài hạn.
sở hữu) :
- Các loại tín dụng khác.
- Vốn điều lệ.
III. ĐẦU TƯ :
- Các quỹ.
- Liên doanh, hùn vốn, lập công ty.
- Các loại vốn khác.
- Chứng khoán Chính phủ.
- Chứng khoán Công ty.
Các quỹ này trích từ lợi nhuận ròng hàng năm để lập quỹ. Ngoài ra, NHTM
phải lập quỹ dự phòng rủi ro, được tính vào chi phí của ngân hàng.
b. Vốn huy động : Là vốn thu hút được qua các nghiệp vụ của ngân hàng,
vốn huy động gồm :
- Tiền gửi : NHTM tập trung huy động vốn tiền tệ của các cá nhân, doanh
nghiệp, công ty … để hình thành quỹ cho vay của mình. Tiền gửi gồm : Tiền gửi
không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm.
11
+ Tiền gửi không kỳ hạn : Là loại tiền gửi mà người sở hữu nó có thể rút ra
sử dụng bất cứ lúc nào mà không cần phải báo trước về thời hạn và khối lượng tiền
cần rút.
+ Tiền gửi có kỳ hạn : Là loại tiền gửi mà chủ sở hữu của nó chỉ có thể rút ra
theo thời đã qui định trước. Trong thực tế do qui luật cạnh tranh chi phối, để thu
hút để thu hút được nhiều tiền gửi của khách hàng, NHTM cho phép khách hàng
rút tiền trước thời hạn nhưng không có lãi suất hoặc lãi suất rất thấp.
Ngoài hai loại tiền gửi trên còn có loại tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi
của các ngân hàng khác dùng cho việc thực hiện các nghiệp vụ ngân hàng đại lý,
thanh toán tiền hàng và chuyển ngân.
- Vốn huy động khác : NHTM còn huy động vốn bằng cách phát hành
Chứng chỉ tiền gửi ( là phiếu nợ ngắn hạn dưới một năm) và Trái phiếu ngân hàng
(là phiếu nợ có kỳ hạn từ một năm trở lên).
c. Vốn vay : Một NHTM trong quá trình hoạt động kinh doanh ngoài huy
động tiền gửi của các cá nhân, công ty, doanh nghiệp để tạo nguồn vốn kinh doanh
ra còn có thể vay NHTM khác hoặc vay của NHTM nước ngoài, nhưng vẫn không
đủ cho nhu cầu sử dụng thì có thể vay của Ngân hàng Trung ương.
Như vậy, nguồn vốn của NHTM bao gồm : Vốn tự có, vốn huy động, vốn
vay và vốn khác. Trong đó, vốn huy động chiếm tỷ trọng lớn trong toàn bộ nguồn
- Giấy tờ có giá ngắn hạn : Như tín phiếu kho bạc, tín phiếu NHNN, các loại
giấy tờ khác đến hạn thanh toán có thể chuyển thành tiền mặt được.
b. Nghiệp vụ cho vay (hay còn gọi là tài sản có tín dụng) :
NHTM sử dụng phần lớn số nguồn vốn của mình vào việc cho vay đối với
các doanh nghiệp và cá nhân nên gọi là tài sản có tín dụng.
Trong nghiệp vụ tài sản Có thì nghiệp vụ cho vay chiếm tỷ trọng lớn nhất.
Như vậy, lợi nhuận của NHTM chủ yếu sinh ra từ nghiệp vụ này.
Nghiệp vụ cho vay của NHTM chủ yếu là cho vay ngắn hạn (cho vay với
thời hạn tối đa là 12 tháng). Việc cho vay ngắn hạn giúp NHTM giữ được khả năng
thanh toán.
Cho vay là nghiệp vụ kinh doanh sinh lời chủ yếu của các NHTM. Hoạt
động này rất đa dạng và phong phú, bao gồm :
13
- Cho vay thông thường : Là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở
hợp đồng tín dụng giữa ngân hàng cho vay và khách hàng đi vay, bao gồm :
+ Cho vay có tài sản thế chấp : NHTM cho khách hàng vay với điều kiện
khách hàng có các bất động sản làm tài sản thế chấp để vay vốn.
+ Cho vay có tài sản cầm cố : NHTM cho vay với điều kiện khách hàng có
các động sản làm tài sản cầm cố tại ngân hàng để vay vốn.
+ Cho vay có bảo lãnh : Là việc NHTM cho khách hàng vay với điều kiện
phải có người thứ ba đứng ra bảo lãnh, trong trường hợp người vay không trả được
nợ thì người bảo lãnh phải trả thay.
+ Cho vay tín chấp : Khách hàng vay vốn của ngân hàng không có tài sản
thế chấp, cầm cố hoặc bảo lãnh của người thứ ba, mà với uy tín của khách hàng để
ngân hàng cho vay.
- Chiết khấu thương phiếu : Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn, trong đó người
vay tạm thời chuyển nhượng quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân
hàng để lấy một số tiền nhỏ hơn mệnh giá của thương phiếu.
Thư tín dụng ; Nghiệp vụ ủy thác (tạm thời quản lý hộ tài sản, bảo quản chứng
khoán và các vật có giá trị) ; Mua bán công trái, kim khí quý, ngoại tệ ; Phát hành,
đăng ký hộ cổ phiếu mới phát hành ; Cho thuê két sắt ; Cung cấp thông tin và tư
vấn về kinh doanh ; Tư vấn quản trị doanh nghiệp ; Thanh lý tài sản của các doanh
nghiệp bị phá sản ; Thực hiện các ủy nhiệm về chuyển tiền thừa kế tài sản …
Qui mô nghiệp vụ này càng phát triển, càng tạo điều kiện thuận lợi cho
khách hàng và càng nâng cao uy tín của NHTM. Mặt khác càng tăng thêm thu
nhập cho ngân hàng mà không phải ứng trước vốn cho khách hàng, tránh được các
rủi ro.
Mối quan hệ giữa nghiệp vụ tài sản nợ và tài sản có : Để NHTM có khả năng
cho vay, trước hết ngân hàng phải có nguồn vốn dưới dạng vốn tự có và vốn tiền
gửi. Do vậy, nghiệp vụ tài sản nợ là cơ sở để phát triển nghiệp vụ tài sản có, nghiệp
vụ tài sản nợ xuất hiện trước nghiệp vụ tài sản có ; qui mô nghiệp vụ tài sản nợ
quyết định qui mô nghiệp vụ tài sản có (huy động được nhiều thì nguồn vốn mới
lớn vì vậy cho vay được nhiều). Nghiệp vụ tài sản có xuất hiện sau, số lượng
nghiệp vụ tài sản có phụ thuộc vào số lượng nghiệp vụ tài sản nợ nhưng trong một
15
chừng mực nhất định thì nghiệp vụ tài sản có tác động đến quyết định nghiệp vụ tài
sản nợ. Sự phát triển của nghiệp vụ tài sản có góp phần tăng nguồn vốn cho vay
của NHTM và ngược lại.
1.2 Tổng quan về hoạt động tín dụng bán lẻ tại NHTM
1.2.1 Khái niệm về hoạt động tín dụng bán lẻ
Hiện nay, ở nước ta vẫn chưa có khái niệm thống nhất về tín dụng bán lẻ.
Trong Luật các tổ chức tín dụng, các loại hình cấp tín dụng được quy định chung,
chưa có định nghĩa và giải thích rõ ràng. Tại khoản 2 Điều 50 Luật các tổ chức tín
dụng có ghi “Tổ chức tín dụng cho các tổ chức, cá nhân vay ngắn hạn, trung dài
hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, đời sống” được
bao hàm cả hai nội dung: tín dụng bán buôn và tín dụng bán lẻ.
đến các người vay cuối cùng, chủ yếu là các cá nhân, hộ gia đình, các doanh
nghiệp nhỏ và vừa.Theo các chuyên gia kinh tế của Học viện Công nghệ Châu Á –
AIT, dịch vụ ngân hàng bán lẻ là cung ứng sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tới từng
cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng lưới chi nhánh,
khách hàng có thể tiếp cận trực tiếp với sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua
các phương tiện điện tử viễn thông và công nghệ thông tin. Theo định nghĩa trên,
tín dụng bán lẻ được hiểu là những hình thức cho vay, những khoản vay trực tiếp
từng khách hàng cá nhân riêng lẻ, các doanh nghiệp nhỏ và vừa thông qua mạng
lưới chi nhánh, được công nghệ thông tin hỗ trợ triển khai các sản phẩm, giao dịch
trực tuyến, lưu giữ và xử lý cơ sở dữ liệu tập trung…[12]
Theo Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam – BIDV, cấp tín dụng bán lẻ
là việc cấp tín dụng cho khách hàng bán lẻ bằng các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu,
bảo lãnh và các nghiệp vụ khác. Trong đó, khách hàng bán lẻ là cá nhân (cá nhân
Việt Nam và cá nhân nước ngoài), hộ gia đình có nhu cầu sử dụng sản phẩm, dịch
vụ của BIDV.[8]
Tóm lại, kết hợp các quan điểm trên, và theo quan điểm học viên có thể rút
ra khái niệm về tín dụng bán lẻ như sau: tín dụng bán lẻ là hình thức cung cấp trực
tiếp các sản phẩm tín dụng, bảo lãnh có quy mô nhỏ cho các khách hàng là cá
nhân, hộ gia đình và các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Đây là khái niệm được đa số
các ngân hàng thương mại cổ phần sử dụng hiện nay.
17
1.2.2 Vai trò
a, Đối với nền kinh tế
Hoạt động tín dụng nói chung có vai trò quan trọng trong quá trình thúc đẩy
kinh tế phát triển, bên cạnh đó hoạt động tín dụng bán lẻ có một số vai trò đặc thù
như sau:
Góp phần đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, sử dụng hiệu quả
nguồn vốn, để các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hộ gia đình mở rộng sản xuất hàng
c, Đối với khách hàng
Phát huy tối đa nội lực khách hàng cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp
nhỏ và vừa, khai thác hết tiềm năng về lao động, đất đai, hàng hóa, máy móc,
nhà xưởng… một cách hợp lý và có hiệu quả nhất.
Góp phần nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người dân, tạo điều
kiện nâng cao dân trí, hình thành những thói quen sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân
hàng hiện đại, phù hợp với yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước.
1.2.3 Đặc điểm của hoạt động tín dụng bán lẻ
- Lãi suất của các khoản tín dụng cá nhân phần lớn đều cao hơn các khoản
tín dụng doanh nghiệp của ngân hàng thương mại (NHTM). Điều này xuất phát từ
các khoản tín dụng cá nhân có chi phí cao và rủi ro cao nhất trong các loại cho vay
của NHTM. Mức lợi nhuận từ trên mỗi khoản tín dụng cá nhân cao, số lượng lớn,
vì vậy toàn bộ lợi nhuận thu về từ hoạt động này là đáng kể trong tổng thu nhập
của NHTM.
- Đối tượng của TDBL là các cá nhân, hộ gia đình nên đa số các khách hàng
đã có sự tích lũy vốn từ trước khi cho vay, hơn nữa các khoản vay thường là tiêu
dùng nên nhu cầu vốn của họ không lớn. Vì vậy quy mô của các khoản vay nhỏ
hơn tương đối so với tín dụng bán buôn, tuy nhiên đối tượng khách hàng có thể
mở rộng vì số lượng khách hàng có nhu cầu vay vốn cá nhân là rất lớn.
- Thị trường rộng và không ngừng tăng trưởng: sự phát triển của xã hội, của
quy mô dân số ngày càng tăng, nhu cầu cải thiện chất lượng cuộc sống của dân cư
thúc đẩy gia tăng nhu cầu cho loại sản phẩm cá nhân.
- Nhu cầu vay thường phụ thuộc vào chu kỳ kinh tế, nó tăng lên trong thời
kỳ kinh tế tăng trưởng và giảm đi khi có suy thoái.
19
- Khả năng trả nợ vay phụ thuộc vào thu nhập của khách hàng cũng như ý
thức đạo đức của khách hàng vay. Những biến động đến từ tình hình tài chính, sức
khỏe, công việc dẫn đến mất khả năng chi trả hay khách hàng chây ỳ, ko trả nợ làm
chức hưởng lương và có việc làm ổn định. Đây là nguồn khách hàng lớn.
Sản phẩm cho vay tiêu dùng tín chấp
Cho vay tiêu dùng không có tài sản bảo đảm là sản phẩm tín dụng không yêu
cầu tài sản bảo đảm dành cho các khách hàng cá nhân có thu nhập thường xuyên,
ổn định... nhằm đáp ứng nhu cầu tiều dùng đa dạng của bản thân và gia đình.
Sản phẩm cho vay mua ô tô phục vụ mục đích tiêu dùng
Sản phẩm cho vay mua ô tô hướng tới đối tượng là người có thu nhập
tương đối cao trong xã hội, có nhu cầu sở hữu và sử dụng một chiếc ô tô đẹp phục
vụ mục đích tiêu dùng, đi lại. Đây là một sản phẩm tiềm năng, được rất nhiều ngân
hàng chú trọng phát triển do nhu cầu sử dụng ô tô trong dân cư đang tăng trưởng
rất nhanh chóng.
Sản phẩm cho vay cá nhân, hộ gia đình sản xuất kinh doanh
Sản phẩm cho vay sản xuất kinh doanh là sản phẩm tín dung nhằm đáp
ứng nhu cầu bổ sung nguồn vốn lưu động thiếu hụt thạm thời cho việc sản xuất
kinh doanh như mua vật tư hàng hóa, chi phí nhân công, nhiên liệu nộp thuế...;
thông thường thông qua theo hình thức cho vay hạn mức hoặc theo món. Ngoài ra,
nó còn bổ sung vốn nhằm đầu tư mới hoặc sửa chữa nâng cấp máy móc thiết bị,
văn phòng, nhà xường phục vụ nhu cầu sản xuất của hộ kinh doanh.
Sản phẩm cho vay chứng minh tài chính
Sản phẩm này nhằm hỗ trợ khách hàng xác minh khả năng chi trả những nhu
cầu sinh hoạt cá nhân hàng ngày trong thời gian học tập, du lịch, khám chữa bệnh
của người nước ngoài, cụ thể là cung cấp bằng chứng về số tiền mà khách hàng cần
phải chuẩn bị để đi du lịch, du học, hoặc khám chưa bệnh cho đại sứ quán để xin
visa nhập cảnh.
Sản phẩm cho vay hỗ trợ du học sinh đi du học
Sản phẩm cho vay dưới hình thức trả định kỳ nhằm hỗ trợ người vay có đủ
khả năng chi trả học phí, sinh hoạt phí khi bản thân người vay hoặc nhân thân
người vay học tập ở nước ngoài
21