i
LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình thực tập và làm khóa luận tốt nghiệp này, em đã
nhận được sự quan tâm, hướng dẫn tận tình từ phía các thầy cô khoa kế toán
tài chính Đại học Nha Trang và Ban Giám Đốc, phòng Kế hoạch – tổng hợp
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Khánh Hòa.
Lời đầu tiên em xin được chân thành cảm ơn sâu sắc tới Thạc sĩ Phạm
Thị Phương Uyên, người đã nhiệt tình hướng dẫn, sửa chữa những sai sót,
giúp em hoàn thành khóa luận này.
Em xin được cảm ơn Ban giám hiệu Trường Đại học Nha Trang, quý
thầy cô bộ môn tài chính, khoa Kế toán - Tài chính Đại học Nha Trang…Các
thầy cô đã truyền đạt cho em kiến thức, kỹ năng học tập làm tiền đề cho khóa
luận và làm hành trang cho con đường tương lai.
Em xin cảm ơn Ban Giám Đốc, các phòng ban, các cô chú anh chị
phòng Kế hoạch – Tổng hợp tại Ngân hàng thương mại cổ phần Đầu tư và
Phát triển Việt Nam chi nhánh Khánh Hòa đã tạo điều kiện cho em thực tập,
cung cấp tài liệu để viết khóa luận.
Em muốn được gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn ở bên, là
nguồn động viên, cổ vũ tinh thần cho em trong suốt thời gian qua.
Mặc dù em đã nỗ lực hoàn thành khóa luận với tất cả sự nhiệt tình và
kiến thức của bản thân, nhưng vẫn không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất
mong nhận được sự đóng góp của quí thầy cô và các bạn để bài viết được
hoàn thiện hơn.
Nha Trang, tháng năm 2012
Sinh viên
Vũ Thùy Linh
ii
MỤC LỤC
1.3.2.1 Vai trò của các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh 16
1.3.2.2 Nghiệp vụ kỳ hạn 18
iii
1.3.2.3 Nghiệp vụ tương lai 21
1.3.2.4 Nghiệp vụ quyền chọn 23
1.3.2.5 Nghiệp vụ hoán đổi ngoại hối 25
1.3.2.6 Các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh khác 28
1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh ngoại hối của Ngân
hàng thương mại 29
1.4.1 Môi trường kinh tế trong và ngoài nước 29
1.4.1.1 Môi trường kinh tế quốc tế 29
1.4.1.2 Môi trường kinh tế trong nước 30
1.4.2 Chính sách quản lý ngoại hối và tỷ giá hối đoái 31
1.4.3 Sự phát triển của thị trường ngoại hối 32
1.4.4 Trình độ nhận thức của Ngân hàng và khách hàng. 34
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TRIỂN KHAI KINH DOANH NGOẠI HỐI
PHÁI SINH TẠI NGÂN HÀNG TMCP ĐẦU TƯ VÀ PHÁT TRIỂN VIỆT
NAM CHI NHÁNH KHÁNH HÒA 35
2.1 Giới thiệu khái quát về ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam
chi nhánh Khánh Hòa (BIDV Khánh Hòa) 35
2.1.1 Lịch sử hình thành của NH TMCP ĐT&PT Khánh Hòa 35
2.1.2. Cơ cấu bộ máy tổ chức 37
2.1.2.1 Sơ đồ bộ máy tổ chức tại NH TMCP Đầu tư và Phát triển Khánh Hòa 37
2.1.2.2 Chức năng nhiệm vụ của từng phòng ban 38
2.1.3. Kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng 45
2.1.3.1. Về tình hình huy động vốn 45
2.1.3.2. Về tình hình thực hiện các chỉ tiêu tín dụng 48
2.1.3.3 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu dịch vụ 51
2.1.3.4 Về tình hình kết quả hoạt động kinh doanh 54
phái sinh 94
3.2.1.2 Nâng cao hiệu quả thị trường thông qua việc công khai hóa và minh
bạch hóa thông tin 95
3.2.2 Kiến nghị với cơ quan Chính phủ 96
3.2.2.1 Nới lỏng vai trò điều hành của Nhà nước vào thị trường ngoại hối 96
3.2.2.2 Hỗ trợ, phối hợp với các NHTM trong việc nâng cao nhận thức của
doanh nghiệp, nhà đầu tư 96
KẾT LUẬN 98
v
DANH MỤC BẢNG
Bảng 2.1: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU HUY ĐỘNG VỐN
NĂM 2009 – 2010 – 2011 46
Bảng 2.2 : TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU TÍN DỤNG NĂM
2009 – 2010 – 2011 49
Bảng 2.3: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU DỊCH VỤ 2009-2010-
2011 52
Bảng 2.4: TÌNH HÌNH THỰC HIỆN CÁC CHỈ TIÊU HOẠT ĐỘNG KINH
DOANH NĂM 2009 – 2010 – 2011 54
Bảng 2.5: TÌNH HÌNH HOẠT ĐỘNG KINH DOANH NGOẠI HỐI2009 -
2010 -2011 56
Bảng 2.6: DOANH SỐ THỰC HIỆN CÁC DỊCH VỤ NGOẠI HỐI PHÁI
SINH NĂM 2009 – 2010 – 2011 83 vi
NHTW : Ngân hàng Trung ương
ODA : Vốn viện trợ không hoàn lại
TCTD : Tổ chức tín dụng
TMCP : Thương mại cổ phần
TNHH : Trách nhiệm hữu hạn
WTO : Tổ chức thương mại thế giới
1
MỞ ĐẦU
1. Sự cần thiết của đề tài
Thị trường tài chính quốc tế cùng với sự hỗ trợ của công nghệ thông tin
đang ngày càng phát triển với tốc độ vô cùng nhanh chóng, đi kèm với những
rủi ro, cụ thể trong đó là những rủi ro liên quan đến tỷ giá và lãi suất của thị
trường ngoại hối. Những rủi ro này có thể được bảo hiểm nếu nhà đầu tư quan
tâm đến và sử dụng các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh.
Trên thị trường thế giới, công cụ ngoại hối phái sinh đã phát triển rất
nhanh với đa dạng các sản phẩm ngoại hối phái sinh và sự tham gia ngày càng
tích cực của các thành viên tham gia thị trường. Tuy nhiên, ở Việt Nam thị
trường này chỉ ở mức độ sơ khai, kém phát triển, thể hiện ở doanh thu chỉ
chiếm một phần rất nhỏ trong hoạt động kinh doanh ngoại hối của ngân hàng
thương mại. Việc phát triển các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh tại Việt Nam
không chỉ là yếu tố cần thiết trong xu thế Việt Nam hội nhập kinh tế toàn cầu
ngày càng sâu rộng, mà còn là biện pháp phòng ngừa rủi ro trước áp lực biến
động tỷ giá do sự gia tăng cung cầu ngoại tệ không đều trong thời kỳ mở cửa
kinh tế đất nước. Đồng thời việc phát triển nghiệp vụ ngoại hối phái sinh còn
là cơ hội cho ngân hàng hình thành và mở rộng nghiệp vụ kinh doanh ngoại
6. Kết cấu khóa luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận khóa luận gồm có 3 chương:
3
Chương 1: Tổng quan về thị trường ngoại hối và các công cụ ngoại hối
phái sinh
Chương 2: Thực trạng triển khai công cụ ngoại hối phái sinh tại ngân
hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Khánh Hòa.
Chương 3: Giải pháp phát triển dịch vụ ngoại hối phái sinh tại ngân hàng
TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Khánh Hòa.
7. Đóng góp của đề tài
Về mặt lý luận: Cung cấp lý thuyết chung về công cụ ngoại hối phái
sinh, hành lang pháp lý được áp dụng trên thị trường ngoại hối Việt Nam.
Đồng thời giúp người đọc hiểu thêm về các công cụ phái sinh đang được sử
dụng và cung cấp cho khách hàng hiện nay.
Về mặt thực tiễn: Đánh giá khái quát kết quả hoạt động kinh doanh, tình
hình kinh doanh ngoại hối và hoạt động kinh doanh ngoại hối phái sinh trong
3 năm 2009, 2010 và 2011 tại Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt
Nam chi nhánh Khánh Hòa. Từ đó, giúp người đọc có cái nhìn chính xác về
mức độ phát triển, cũng như tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả sử dụng của
các công cụ ngoại hối phái sinh trên thị trường Việt Nam.
4
CHƯƠNG1: TỔNG QUAN VỀ THỊ TRƯỜNG NGOẠI HỐI
VÀ CÔNG CỤ NGOẠI HỐI PHÁI SINH
1.1 Thị trường ngoại hối
1.1.1 Khái niệm về ngoại hối và thị trường ngoại hối
1.1.1.1 Khái niệm ngoại hối
Ngoại hối (the foreign exchange) bao gồm các phương tiện thanh toán sử
Khác với thị trường hàng hóa hay chứng khoán có địa điểm tập trung
nhất định, thị trường ngoại hối là không biên giới. Thị trường hối đoái quốc tế
là thị trường toàn cầu và diễn ra liên tục và nó trở thành thị trường duy nhất
và không ngủ. Tuy nhiên ở từng địa điểm nó mang thêm những đặc thù riêng
do ảnh hưởng của các quy định mang tính quốc gia được áp dụng. Các nhà
kinh doanh trên thị trường ngoại hối có xu hướng cân bằng tỷ giá giữa các vị
trí khác nhau trên thế giới để dần dần tiến tới thị trường duy nhất. Nếu có sự
khác biệt trong thị trường ngoại hối nơi mà giá niêm yết của những đồng tiền
thay đổi theo giá trị thị trường sẽ điều chỉnh tỷ giá. Cơ chế điều chỉnh này xảy
ra là kết quả của Arbitrage quốc tế.
Một thị trường liên ngân hàng
Trung tâm của thị trường ngoại hối là thị trường liên ngân hàng với các
thành viên chủ yếu là các NHTM, các nhà môi giới ngoại hối và các NHTW.
Giao dịch ngoại hối trên thị trường Interbank chiếm khoảng 85% tổng giao
dịch ngoại hối toàn cầu. Thị trường hối đoái liên ngân hàng được tổ chức qua
hệ thống ngân hàng trong nước, là nơi tập hợp cung cầu ngoại tệ với đồng bản
6
tệ. Đồng thời ở đó tỷ giá giữa các đồng ngoại tệ có trong giao dịch cũng như
lượng ngoại tệ đưa ra giao dịch đều được xác định cụ thể.
Một thị trường nhạy cảm với các sự kiện kinh tế, chính trị, xã hội, tâm
lý…nhất là đối với các chính sách tiền tệ của các nước phát triển.
Đây là hệ quả tất yếu của đặc tính liên kết toàn cầu của thị trường ngoại
hối. Một khi xảy ra các sự kiện về kinh tế, chính trị, xã hội đều khiến cho các
nhà kinh tế có những phân tích, nhận định về tác động của nó tới hoạt động
kinh tế quốc tế, về xu thế phát triển của nền kinh tế…sự tác động này được
xem như tác động của bàn tay vô hình trong nền kinh tế mở.
Tính tập trung cao và đồng tiền được sử dụng nhiều nhất là USD
Mặc dù các thành viên tham gia thị trường trải khắp toàn cầu nhưng hầu
hết các giao dịch vẫn diễn ra ở ba thị trường lớn nhất thế giới: London, New
qua một trung gian môi giới để có được thông tin tiến hành đấu giá, thỏa
thuận mua bán ngoại tệ.
1.1.3.2 Những nhà môi giới ngoại hối (Foreing Exchange brokers)
Ngày nay, ngoài hình thức mua bán ngoại hối trực tiếp giữa các ngân
hàng khác nhau, thì hình thức giao dịch gián tiếp thông qua nhà môi giới
ngoại hối cũng đang phát triển. Phương thức giao dịch thông qua môi giới có
ưu điểm ở chỗ: nhà môi giới thu thập hầu hết lệnh đặt mua và lệnh đặt bán
ngoại tệ từ các ngân hàng khác nhau, trên cơ sở đó cung cấp tỷ giá chào mua
và tỷ giá chào cho bán cho khách hàng một cách nhanh chóng, rộng khắp với
giá tay trong (inside rate). Tuy nhiên giao dịch qua môi giới cũng có nhược
8
điểm là: các ngân hàng phải trả cho nhà môi giới một khoản phí (gọi là
brokerage fee), làm cho chênh lệch tỷ giá thu hẹp lại.
1.1.3.3 Định chế tài chính phi ngân hàng (Non - bank financial institutions)
Các định chế tài chính không có tính cách ngân hàng bao gồm những
công ty tài chính và những công ty bảo hiểm. Những công ty này ngày càng
đóng vai trò quan trọng hơn trên thị trường hối đoái nhất là từ thập niên 1980
trở đi. Họ đã cung ứng một loạt các dịch vụ: cung cấp ngoại tệ và giúp đỡ
phòng tránh rủi ro hối đoái cho các nhà đầu tư, người vay mượn, các nhà xuất
nhập khẩu…
1.1.3.4 Nhóm khách hàng mua bán lẻ (Retail clients hay bank customers)
Nhóm khách hàng này gồm công ty nội địa và đa quốc gia, những nhà
đầu tư quốc tế và những ai có nhu cầu mua bán ngoại hối nhằm hai mục đích:
Thứ nhất, chuyển đổi tiền tệ: Thay vì việc phải thực hiện vay hoặc mua
ngoại tệ, các nhà đầu tư nước ngoài sẽ thực hiện hợp đồng hoán đổi ngoại tệ.
Với cách làm này sẽ tiết kiệm được thời gian và chi phí lãi vay.
Thứ hai, phòng ngừa rủi ro tỷ giá: Các doanh nghiệp lớn (các công ty đa
quốc gia) thường mua hoặc bán trực tiếp mà không thông qua trung gian, do
số lượng giao dịch lớn nên họ tham gia thị trường hối đoái với mục đích chủ
tiền với nhau.
Tỷ giá hối đoái giữa hai đồng tiền là giá cả của một đơn vị tiền tệ nước
này thể hiện bằng số lượng đơn vị tiền tệ của nước khác.
10
Ví dụ: Bảng 1.1: Tỷ giá giữa đồng Việt Nam so với các ngoại tệ mạnh do
ngân hàng Đầu tư và phát triển Việt Nam công bố ngày 09/05/2012 :
Ngoại tệ Mua
Bán
Ký hiệu Tên Tiền mặt và Séc Chuyển khoản
USD USD 20.820,00 20.830,00
20.880,00
USD1 USD1 20.810,00 - -
EUR EUR 26.866,00 26.947,00
27.227,00
GBP GBP 33.244,00 33.478,00
33.853,00
HKD HKD 2.645,00 2.664,00 2.711,00
CHF CHF 22.243,00 22.400,00
22.713,00
JPY JPY 256,68 259,27 262,71
)
11
1.2.2 Các thuật ngữ liên quan đến tỷ giá hối đoái
1.2.2.1 Đồng yết giá và đồng định giá
Tỷ giá thường được thể hiện là một cặp đồng tiền (currency pair), đồng
thời thể hiện mối quan hệ giữa hai đồng tiền đó.
Khi công bố giá trên thị trường, tỷ giá được mô tả ngắn gọn như sau:
A/B hoặc 1A= xB
Trong đó: A: Đồng tiền yết giá B: Đồng tiền định giá
1.2.2.2 Tỷ giá mua và tỷ giá bán
Khi công bố tỷ giá ra thị trường, các NHTM luôn công bố tỷ giá theo hai
chiều (two-way price) cho các khách hàng mua của mình. Tỷ giá công bố bao
gồm tỷ giá mua (Bid Rate) và tỷ giá bán (Ask/Offer Rate) được áp dụng cho
cả người mua và người bán. Hình thức yết giá này gọi là yết giá hai chiều.
Ví dụ: USD/VND: 20.800 -20.860 hoặc yết gọn USD/VND: 20.800/860
Trong đó các tỷ giá viết trước : 20.800 là tỷ giá mua, còn tỷ giá viết sau
20.860 là tỷ giá bán.Với cách viết này thì NH sẽ mua vào USD bằng VND
theo tỷ giá mua và bán ra USD lấy VND theo tỷ giá bán.
1.2.3 Phương pháp yết tỷ giá
Hiện nay, trên thế giới có hai phương pháp yết tỷ giá: Yết giá trực tiếp
và yết giá gián tiếp. Yết giá trực tiếp hay còn gọi là yết giá kiểu Châu Âu, yết
giá gián tiếp hay còn gọi là yết giá kiểu Mỹ. Phương pháp yết giá được thể
hiện cụ thể như sau:
Yết giá trực tiếp
Theo phương pháp này người ta biểu thị một đơn vị cố định ngoại tệ
bằng một lượng biến đổi nội tệ. Như vậy, đồng ngoại tệ là đồng yết giá, đồng
nội tệ là đồng định giá.
Căn cứ vào việc quản lý ngoại hối
Tỷ giá chính thức (Official Exchange Rate): Tỷ giá do NHNN công bố
hàng ngày. Tỷ giá này thường dùng làm tỷ giá tham chiếu cho các NHTM và
làm tỷ giá tính toán trong công tác kế toán và kế hoạch. Tỷ giá này không áp
dụng trong giao dịch mua bán ngoại tệ. Trong giao dịch mua bán ngoại tệ,
người ta thường dùng tỷ giá của NHTM.
Tỷ giá cố định (Fix Exchange Rate): Là tỷ giá NHTW công bố cố định
(không biến động) trong phạm vi x% nào đó.
Tỷ giá tự do (Tỷ giá chợ đen –Black Market Rate): Là tỷ giá giao dịch
trên thị trường không chính thức, không thông qua hệ thống ngân hàng.
Tỷ giá thả nổi (Floating Exchange Rate): Là tỷ giá hình thành theo quan
hệ cung cầu thị trường mà không có sự can thiệp, quản lý của Nhà nước.
Tỷ giá thả nổi có quản lý (Managed Floadting Exchange Rate): Là tỷ giá
hình thành theo quan hệ cung cầu của thị trường, có sự quản lý, điều tiết của
Nhà nước nhằm ổn định thị trường.
Căn cứ vào phương tiện thanh toán quốc tế
Tỷ giá séc (Check Exchange rate): Là tỷ giá mua bán các loại séc.
Tỷ giá hối phiếu (Draft Exchange rate): Là tỷ giá mua bán các loại hối
phiếu trả ngay hoặc hối phiếu có kỳ hạn bằng ngoại tệ.
Tỷ giá chuyển khoản (Tranfers Exchange rate): Là tỷ giá mà NHTM áp
dụng để mua và bán ngoại tệ chuyển khoản với khách hàng,
Tỷ giá tiền mặt (Cash Exchange): Là tỷ giá NHTM áp dụng để mua
ngoại tệ tiền mặt của khách hàng.
14
Căn cứ vào thời điểm bán ngoại hối
Tỷ giá mở cửa (Opening rate): Là tỷ giá ở thời điểm đầu giờ giao dịch.
Thông thường tỷ giá đóng cửa của ngày hôm trước là tỷ giá mở cửa của ngày
hôm sau.
Tỷ giá đóng cửa (Closing rate): Là tỷ giá ở thời điểm cuối giờ giao dịch.
trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường. Thị trường ngoại hối giao ngay
là thị trường phi tập trung (không giao dịch trên sở giao dịch), bao gồm các
NHTM, các công ty tài chính lớn, những nhà môi giới ngoại hối và cả
NHTW, trong đó các NHTM đóng vai trò chủ chốt. Các thành viên trong thị
trường ngoại hối liên hệ với nhau thông qua điện thoại, telex, mạng vi tính và
hệ thống SWIFT. Các ngân hàng và các nhà môi giới có mối liên hệ khăng
khít, hoạt động của họ ở một số trung tâm tài chính lớn hầu như là 24h/ngày
nhằm nắm bắt kịp thời mọi diễn biến của thị trường ngoại hối toàn cầu.
1.3.2 Các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh
Nghiệp vụ ngoại hối phái sinh là nghiệp vụ mua bán ngoại tệ dựa trên tỷ
giá bắt nguồn từ tỷ giá giao ngay và các mức chênh lệch lãi suất giữa hai đồng
tiền chứ không phải hình thành trực tiếp từ quan hệ cung cầu trên thị trường.
Nghiệp vụ kinh doanh ngoại hối phái sinh là một loại hình bảo hiểm rủi
ro tài chính khi thực hiện các hợp đồng kinh tế mà bản chất là phân tán rủi ro
tiềm ẩn. Mặc dù, xuất hiện lần đầu tiên với tư cách là một công cụ phòng
chống rủi ro nhưng cùng với sự lớn mạnh và phức tạp của thị trường tài chính
các công cụ phái sinh cũng được sử dụng nhiều hơn để tìm kiếm lợi nhuận và
thực hiện các cuộc đầu cơ.
16
1.3.2.1 Vai trò của các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh
Ngân hàng thương mại tham gia giao dịch ngoại hối phái sinh với hai tư
cách: Một là, thực hiện lệnh mua bán ngoại tệ của khách hàng để kiếm hoa
hồng. Hai là, kinh doanh ngoại tệ bằng nguồn vốn của chính mình để kiếm lợi
nhuận và phòng ngừa rủi ro ngoại hối cho bản thân các ngân hàng.
Các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh là một kênh liên kết giữa ngân hàng
và khách hàng.Ở tư cách thứ nhất, các nghiệp vụ ngoại hối phái sinh là một
dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng thường là các doanh nghiệp
xuất nhập khẩu có nhu cầu ngoại tệ để thanh toán các hợp đồng ngoại thương.
Nhờ đáp ứng được những nhu cầu cần thiết của khách hàng nên các giao dịch
động thứ ba, ngân hàng tiến hành nghiệp vụ phòng ngừa rủi ro ngoại hối. Như
vậy rủi ro ngoại hối thực chất chỉ liên quan đến trạng thái ngoại hối mở đối
với những hoạt động mua bán mang tính chất đầu cơ. Trạng thái ngoại hối mở
thường được thực hiện trong các giao dịch giữa các ngân hàng với nhau trên
thị trường ngoại hối đặc biệt là đối với các ngân hàng thương mại và ngân
hàng đầu tư lớn là ngân hàng tạo thị trường bằng cách niêm yết tỷ giá mua
bán hai chiều “Bid-Ask” đối với ngoại tệ giao dịch.
Khía cạnh thứ hai của rủi ro ngoại hối mà các ngân hàng phải chiu là sự
không cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ đối với từng loại ngoại tệ. Tài
sản có bằng ngoại tệ là các khoản mục trên trên bảng tổng kết tài sản, như:
các khoản cho vay bằng ngoại tệ; chứng khoán bằng ngoại tệ; tiền gửi bằng
ngoại tệ ở các ngân hàng khác; tiền mặt bằng ngoại tệ,…tài sản nợ bằng ngoại
18
tệ là các khoản mục trên bảng tổng kết tài sản, như: phát hành các chứng chỉ
tiền gửi bằng ngoại tệ; phát hành trái phiếu và các hình thức huy động vốn
khác bằng ngoại tệ. Sự không cân xứng giữa tài sản có và tài sản nợ của ngân
hàng sẽ dẫn tới rủi ro tỷ giá biến động không có lợị.
Để phòng ngừa những rủi ro ngoại hối này, các ngân hàng thương mại có
thể sử dụng các biện pháp phòng ngừa nội bảng bằng cách sử dụng các hợp
đồng như hợp đồng kỳ hạn, hợp đồng tương lai, hợp đồng hoán đổi hay quyền
chọn. Thực ra hai tư cách này trong một NHTM là rất khó tách biệt để biết
khi nào họ thực hiện tư cách gì. Ví dụ, một khách hàng đặt lệnh cho ngân
hàng mua một lượng ngoại tệ nào đó, trong khi Ngân hàng thương mại cũng
cần bán một lượng ngoại tệ đó thì họ sẵn sàng bán số ngoại tệ đó cho khách
hàng và ngược lại. Tuy nhiên dù với tư cách nào, bất kỳ NHTM nào nếu
mong mốn tồn tại lâu dài trong thị trường cạnh tranh ngày càng gay gắt đều
tìm cách thu hút khách hàng về phía mình bằng cách tìm kiếm cơ hội có lợi
cho khách hàng và cho chính mình.
1.3.2.2 Nghiệp vụ kỳ hạn