I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ N NGC DIP
TUổI CHịU TRáCH NHIệM HìNH Sự
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
LUN VN THC S LUT HC
H NI - 2017
I HC QUC GIA H NI
KHOA LUT
Lấ N NGC DIP
TUổI CHịU TRáCH NHIệM HìNH Sự
TRONG LUậT HìNH Sự VIệT NAM
(Trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)
Chuyờn ngnh: Lut hỡnh s v t tng hỡnh s
Mó s: 60 38 01 04
LUN VN THC S LUT HC
Ngi hng dn khoa hc: TS. NG QUANG PHNG
H NI - 2017
̣
̀ h sƣ ̣ và năng l ực trách nhiêm
hình sự ...........................................................................................................6
1.1.1. Khái niệm tuổi chịu trách nhiê ̣m hin
̀ h sự .......................................................6
1.1.2. Khái niệm năng lực trách nhiê ̣m hình sự .......................................................8
1.1.3. Ý nghĩa của tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự ....................................................9
1.2.
Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiêm
̣ hin
̀ h sƣ ̣ và phân
loại tuổi chịu trách nhiêm
̣ hin
̀ h sƣ ̣ ..............................................................9
1.2.1. Cơ sở của việc quy định tuổi chịu trách nhiê ̣m hin
̀ h sự .................................9
1.2.2. Phân loại tuổi chịu trách nhiê ̣m hin
̀ h sự.......................................................13
1.3.
Khái quát quy định của pháp luật hình sự một số nƣớc về tuổi
chịu trách nhiêm
̣ hin
̀ h sƣ ̣...........................................................................18
Kết luận Chƣơng 1 ..................................................................................................25
Chƣơng 2: QUY ĐỊNH CỦA BỘ LUẬT HÌNH SỰ NĂM 1999 VỀ TUỔI
CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ VÀ THỰC TIỄN ÁP DỤNG
TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH HÀ TĨNH ...........................................................27
2.1.
HÌNH SỰ .............................................................................................................65
3.1.
Các yêu cầu bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật về
tuổi chịu trách nhiệm hình sự ...................................................................65
3.1.1. Yêu cầu pháp chế xã hội chủ nghĩa ..............................................................65
3.1.2. Bảo đảm quyền con người (đặc biệt người chưa thành niên) ......................71
3.1.3. Yêu cầu chống và phòng ngừa tội phạm ......................................................75
3.2.
3.2.1.
3.2.2.
3.2.3.
3.2.4.
3.2.5.
Các giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của pháp luật về
tuổi chịu trách nhiệm hình sự ...................................................................76
Tiếp tục hoàn thiện Bộ luật hình sự năm 2015 ............................................76
Tập huấn nghiệp vụ, hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự năm 2015,
sửa đổi bổ sung năm 2017 ............................................................................89
Tăng cường kiểm tra, giám đốc xét xử, xây dựng án lệ ...............................90
Tăng cường năng lực những người tiến hành tố tụng ..................................91
Tăng cường năng lực những người tham gia tố tụng trong việc truy
cứu trách nhiệm hình sự ...............................................................................93
Kết luận chƣơng 3 ...................................................................................................99
KẾT LUẬN ............................................................................................................101
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO .............................................................104
Tòa án nhân dân
TANDTC:
Tòa án nhân dân tối cao
TNHS:
Trách nhiệm hình sự
TTLT:
Thông tư liên tịch
TW:
Trung ương
VKSNDTC:
Viện kiểm sát nhân dân tối cao
DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu bảng
Tên bảng
lý người phạm tội, vừa đảm bảo trật tự an toàn cho xã hội nhưng phải vừa đạt được
mục đích bảo vệ quyền con người, đặc biệt là quyền của người chưa thành niên, kể
cả khi họ thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội.
Hiện nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được xác định trong pháp luật hình sự của
mỗi quốc gia, mà chỉ đến độ tuổi đó trở về sau, một người thực hiện hành vi phạm
tội mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Chính vì vậy, tuổi là một trong
những yếu tố có đặc tính xã hội ảnh hưởng nhất định đến hành vi phạm tội và khả
năng nhận thức, giáo dục, cải tạo người phạm tội.
Bên cạnh đó, độ tuổi cũng là một trong những căn cứ để làm giảm nhẹ hoặc
miễn trách nhiệm hình sự (TNHS). Việc cân nhắc độ tuổi để truy cứu TNHS và
quyết định hình phạt là một trong những biểu hiện nhân đạo, công bằng và cá thể
hóa hình phạt được thể hiện rõ trong luật hình sự nước ta và được thực tiễn ghi
1
nhận. Chính vì vậy, tuổi chịu trách nhiệm hình sự là yếu tố không thể thiếu trong
quá trình xem xét truy cứu trách nhiệm hình sự đối với một người.
Thực tiễn áp dụng quy định của pháp luật hình sự về chủ thể của tội phạm
nói chung và tuổi chịu TNHS của chủ thể nói riêng giữa các cơ quan tiến hành tố
tụng (THTT), các địa phương có thể còn có sự khác nhau. Vì vậy, làm rõ các quy
định của pháp luật về tuổi chịu TNHS, cũng như thực tiễn áp dụng các quy định về
tuổi chịu TNHS, trên cơ sở đánh giá thực tiễn giải quyết các vụ án liên quan đến
tuổi chịu TNHS trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để có những kiến nghị, giải pháp hoàn
thiện các quy định của pháp luật hiện hành là hết sức cần thiết. Từ những vấn đề
trên, tôi nhận thấy đề tài “Tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong luật hình sự Việt
Nam (trên cơ sở thực tiễn địa bàn tỉnh Hà Tĩnh)” vẫn còn nguyên tính thời sự và
mới mẻ. Đó chính là lý do tôi chọn đề tài này làm luận văn Thạc sĩ Luật học.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Là một trong những chế định quan trọng trong BLHS nhưng đến thời điểm
Đề tài góp phần làm sáng tỏ thêm những vấn đề lý luận về tuổi chịu TNHS,
đồng thời làm rõ các quy định của pháp luật hình sự Việt Nam về tuổi chịu TNHS,
gắn với thực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh để từ đó đưa ra những giải pháp hoàn
thiện quy định của pháp luật về tuổi chịu THNS và bảo đảm áp du ̣ng đúng pháp luâ .̣t
3.2. Nhiệm vụ nghiên cứu
Từ mu ̣c đić h nên trên , với cấ p đô ̣ luâ ̣n văn tha ̣c sỹ luâ ̣t ho ̣c , tác giả tập trung
giải quyết các nhiệm vụ sau đây :
Nghiên cứu các quan điểm về tuổi chịu TNHS, ý nghĩa của độ tuổi với TNHS;
Nghiên cứu quy đinh
̣ của pháp luâ ̣t hình sự hiê ̣n hành về tuổi chịu TNHS;
Nghiên cứu thực tiễn áp dụng các quy định về tuổi chịu TNHS trên địa bàn
tỉnh Hà Tĩnh;
Nghiên cứu pháp luật hình sự một số nước trên thế giới;
4. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận văn nghiên cứu các quan điểm, các công trình có liên quan đến tuổi
chịu TNHS;
Nghiên cứu quy định của pháp luật Việt Nam về tuổi chịu TNHS;
3
Nghiên cứu quy định pháp luật một số nước về tuổi chịu TNHS;
Nghiên cứu thực tiễn truy cứu THNS liên quan đến việc xác định tuổi trên
địa bàn tỉnh Hà Tĩnh (thực tiễn xét xử tại Tòa án).
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu các quan điểm trong nước; trong phạm vi Việt Nam và có
nghiên cứu pháp luật một số quốc gia ; cơ sở th ực tiễn trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh,
thời gian trong 05 năm (từ năm 2011 đến năm 2016).
5. Phƣơng pháp luận và phƣơng pháp nghiên cứu
nhằm hoàn thiện chế định tuổi chịu TNHS trong pháp luật hình sự Việt Nam dưới
góc độ lập pháp hình sự và thực tiễn áp dụng.
Luận văn có giá trị là tư liệu tham khảo cho các nhà lập pháp - hoạch định
chính sách, các nhà tâm lý - xã hội học, các nhà khoa học - thực tiễn, sinh viên, học
viên cao học và nghiên cứu sinh chuyên ngành luật hình sự.
7. Bố cục của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Danh mục tài liệu tham khảo và phầ n mu ̣c lu ̣c , luận văn
gồm có 3 Chương.
Chương 1: Mô ̣t số vấn đề lý luận về tuổi chịu trách nhiệm hình sự trong Luật
hình sự Việt Nam.
Chương 2: Quy định của Bộ luật hình sự năm 1999 về tuổi chịu trách nhiệm
hình sự và thực tiễn áp dụng trên địa bàn tỉnh Hà Tĩnh.
Chương 3: Các yêu cầu và giải pháp bảo đảm áp dụng đúng quy định của
pháp luật về tuổi chịu trách nhiệm hình sự.
5
Chƣơng 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN
VỀ TUỔI CHỊU TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
TRONG LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM
1.1. Khái niệm tuổi chịu trách nhiêm
̣ hin
̣
̀ h sƣ ̣ và năng l ực trách nhiêm
hình sự
1.1.1. Khái niệm tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự
Mă ̣c dù còn có nhiề u cách hiể u , cách định nghĩa khác nhau , song nhin
̀ chung
tròn được xác định bằng cách lấy ngày sinh nhật gần nhất của người đó để tính.
Trong một số trường hợp đặc biệt, khi luật hình sự dẫn chiếu sang ngành luật
khác thì chúng ta áp dụng cách tính tuổi của ngành luật đó.
Thứ ba, tuổi chịu TNHS tính từ thời điểm người đó sinh ra đến thời điểm
người đó thực hiện hành vi phạm tội.
Thời điểm đầu để xác định tuổi của người phạm tội là ngày người đó được
sinh ra. Thời điểm sinh được xác định dựa vào các loại giấy tờ có giá trị pháp lý
gắn liền với nhân thân của người đó như giấy chứng sinh, giấy khai sinh, chứng
minh thư nhân dân, cá loại văn bằng, chứng chỉ.... Nhưng trên thực tế, không phải
khi nào chúng ta cũng có các loại giấy tờ trên để xác định tuổi. Trong nhiều
trường hợp, chúng ta không có cơ sở pháp lý vững chắc để xác định ngày sinh của
người phạm tội. Trong những trường hợp này, chúng ta phải xác định ngày sinh
của người phạm tội theo nguyên tắc có lợi cho người thực hiện hành vi phạm tội.
Thời điểm sau để xác định độ tuổi đó là thời điểm hành vi nguy hiểm cho xã hội
được thực hiện. Có nghĩa là: Hành vi được thực hiện ngày nào thì ngày đó được sử
dụng để tính tuổi của người thực hiện hành vi phạm tội. Đối với những trường hợp
hành vi phạm tội là hành vi kéo dài hoặc hành vi có tính liên tục mà tuổi của
người phạm tội có tính chất “giáp ranh” ảnh hướng để việc xác định trách nhiệm
hình sự, ta cần xem xét cụ thể để tách hành vi đó ở các độ tuổi khác nhau để xem
xét trách nhiệm hình sự được chính xác.
Trên cơ sở phân tích về tuổi chịu TNHS như trên, có thể rút ra định nghĩa về
tuổi chịu TNHS như sau: Tuổi chịu trách nhiệm hình sự là độ tuổi được luật hình sự
quy định nhằm xác định khi một người phát triển đến độ tuổi đó mới có thể phải
7
chịu trách nhiệm hình sự, cũng như mức độ trách nhiệm hình sự phải chịu về hành
vi phạm tội do mình gây ra.
1.1.2. Khái niệm năng lực trách nhiê ̣m hình sự
xã hội đã tồn tại trước khi có việc thực hiện tội phạm mà các quan hệ xã hội đó bị
sự xâm hại của tội phạm gây nên (hoặc đe dọa thực tế gây nên) thiệt hại. Đồng thời,
trong quá trình thiết lập lại trật tự ấy tất cả các công dân và những người có chức vụ
9
cũng như các cơ quan nhà nước và các tổ chức xã hội phải có nghĩa vụ tuân thủ
nghiêm chỉnh các đòi hỏi của luật hình sự [6, tr.16].
Để thực hiện nhiệm vụ bảo vệ chế độ xã hội, trật tự xã hội, Nhà nước dùng
nhiều biện pháp khác nhau vừa có tính thuyết phục vừa có tính cưỡng chế để đấu
tranh, ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật. Tùy theo tính chất, mức độ của
các vi phạm pháp luật mà nhà nước lựa chọn sử dụng các chế tài thích hợp như:
Dân sự, hành chính, kinh tế, hình sự... mà trong đó chế tài hình sự là nghiêm khắc
nhất nhằm xử lý bất kỳ người nào có hành vi xâm phạm nghiêm trọng các lợi ích
của Nhà nước, của xã hội và của công dân.
Bộ luật hình sự năm 1999 quy định: “Chỉ người nào phạm một tội đã được
Bộ luật hình sự quy định mới phải chịu trách nhiệm hình sự” [39, Điều 2]. Như vậy,
cơ sở của trách nhiệm hình sự là việc một người đã thực hiện một tội được quy định
trong Bộ luật hình sự để xác định xem có một tội phạm quy định trong Bộ luật hình
sự đã được thực hiện hay không. Hay nói cách khác, có cơ sở để truy cứu TNHS
hay không. Trước hết, chúng ta cần phải xem xét các yếu tố khách quan, chủ quan
bắt buộc sau đây của tội phạm:
- Trên thực tế có xảy ra hành vi nguy hiểm cho xã hội được mô tả trong cấu
thành các tội phạm cụ thể của Bộ luật hình sự hay không và hành vi đó có nguy
hiểm cho xã hội hay không? Đây là yếu tố bắt buộc thuộc mặt khách quan của tội
phạm. Nếu xác định được không có hành vi nguy hiểm cho xã hội xảy ra hoặc hành
vi đó không có dấu hiệu của tội phạm hoặc thậm chí tuy có dấu hiệu của tội phạm
nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể thì cũng không được thực
hiện việc truy cứu trách nhiệm hình sự.
có những quy định về độ tuổi chịu TNHS nhưng trong đó có những tội danh mà bất
kỳ lứa tuổi nào cũng phải chịu đó là tội mưu phản, mưu loạn, mưu đại nghịch sẽ bị
tru di tam tộc. Điều nay thể hiện chính sách hình sự của chế độ quân chủ chuyên
chế là phải tận diệt mọi mầm họa ảnh hưởng đến sự tồn vong của triều đình, bảo vệ
các bậc quân vương. Ở nước ta, trong các giai đoạn phát triển khác nhau, cũng xuất
phát từ chính sách hình sự và xác định khách thể bảo vệ khác nhau mà tuổi chịu
TNHS cũng khác nhau.
Trong giai đoạn hiện nay, để bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa, quyền làm chủ
của nhân dân, bảo vệ quyền bình đẳng giữa đồng bào các dân tộc, bảo vệ lợi ích của
Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức, bảo vệ trật tự pháp luật
11
xã hội chủ nghĩa, chống mọi hành vi phạm tội, Nhà nước đã xác định cụ thể khách
thể bảo vệ của luật hình sự. Từ thực tiễn đấu tranh đối với những hành vi xâm phạm
khách thể được luật hình sự bảo vệ cho thấy, người từ dưới 14 tuổi thực hiện hành
vi xâm phạm vào quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ là rất ít. Hơn nữa, nghiên
cứu những trường hợp khách thể bảo vệ của luật hình sự bị những người ở lứa tuổi
này xâm hại cho thấy, việc họ thực hiện hành vi đó phần lớn mang tính bột phát và
cảm tính ở những điều kiện hoàn cảnh cụ thể, mà khi rơi vào hoàn cảnh đó, bất kỳ
ai ở lứa tuổi đó cũng sẽ thực hiện như vậy. Vì vậy, hành vi nguy hiểm của họ không
xuất phát hoàn toàn từ bản chất con người họ. Hơn nữa nhận thức và tri thức của lứa
tuổi này còn rất hạn chế, vì vậy việc trừng trị họ bằng các chế tài hình sự là chưa
cần thiết mà cần có các biện pháp khác để tiếp tục nuôi dưỡng giáo dục họ hình
thành nhân cách. Từ thực tiễn đó luật hình sự Việt Nam hiện hành xác định người
dưới 14 tuổi không phải chịu TNHS về bất kỳ hành vi nguy hiểm nào do họ gây ra.
Lứa tuổi từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi là lứa tuổi đã hình thành cơ bản về
nhân cách, các xử sự của họ đã thể hiện tính độc lập cao hơn rất nhiều so với lứa
tuổi dưới 14. Tuy nhiên hoạt động của họ vẫn đang nằm dưới sự giám sát của gia
đình, nhà trường và xã hội. Vì vậy, tỉ lệ lứa tuổi này xâm phạm vào các quan hệ
hình sự, các nhà làm luật cần phải căn cứ vào cả hai yếu tố là cơ sở tâm sinh lý học
và cơ sở thực tiễn công tác đấu tranh phòng chống tội phạm để đưa ra những quy
chuẩn phù hợp, đúng đắn.
1.2.2. Phân loại tuổi chịu trách nhiê ̣m hình sự
Con người từ khi sinh ra đã có ý thức nhưng không phải có ý thức là có năng
lực TNHS mà phải qua một quá trình phát triển về tâm, sinh lý trong điều kiện xã
hội nhất định thì năng lực đó mới hình thành. Chúng ta đã biết, năng lực TNHS là
năng lực tự nhận thức về tính nguy hiểm của hành vi và khả năng điều khiển hành
vi của con người.
Mỗi người có sự phát triển bình thường về tâm, sinh lý đến một giai đoạn
nhất định trong đời sống sẽ hoàn thiện năng lực này và khi đó họ được coi là chủ
thể của tội phạm. Giai đoạn hoàn chỉnh này trong đời sống của mỗi cá nhân được
luật hình sự mỗi nước trên thế giới quy định không giống nhau. Việc làm này phù
hợp với sự phát triển tâm, sinh lý (thể chất, trí tuệ) của con người ở mỗi quốc gia
vào từng giai đoạn lịch sử cụ thể.
13
BLHS 1999 quy định:
Tuổi chịu trách nhiệm hình sự: 1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên
phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm. 2. Người từ đủ 14
tuổi trở lên, nhưng chưa đủ 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về
tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm
trọng [39, Điều 12].
Bộ luật hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 quy định:
1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi
tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. 2. Người
từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm
rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong
Lứa tuổi
Giai
đoạn
Thời kỳ
Hoạt động chủ
đạo
Đặc trƣng tâm lý
Nhi đồng Học tập phát triển - Lĩnh hội nền tảng của tri
từ 6-7 tuổi trí tuệ
thức và phương pháp,
đến
11-12
công cụ nhận thức;
Tuổi học
tuổi
sinh
- Ham tìm tòi, khám phá;
- Hiếu động.
Nét “trội” trong
mục tiêu cần chú
ý giáo dục
- Phương pháp học
tập và phẩm
chất trí tuệ;
- Sử dụng công cụ
- Ý thức nghề
nghiệp;
- Hoài bão xã hội;
- Tình bạn, tình yêu.
- Tình bạn thân và mối
tình đầu.
(Nguồn: Phạm Minh Hạc (1992), Tâm lý học, Nxb Giáo dục, Hà Nội)
15
Với kết quả nghiên cứu về tâm, sinh lý tuổi trên đây, tuổi 14 là độ tuổi bắt
đầu của thời kỳ thanh xuân, đã có những hoạt động xã hội nhất định như hoạt động
đội thiếu niên, giao lưu bạn bè trong lớp… Ở tuổi 14, bước đầu đã hình thành thế
giới quan như cách nhìn nhận về gia đình, xã hội và những quan niệm của cá nhân
về những vấn đề xung quanh… Ở độ tuổi này, đã bắt đầu có ý thức về nghề nghiệp,
ý thức về chính bản thân họ và ý thức về trách nhiệm và nghĩa vụ. Họ có thể hiểu
một số vấn đề mà pháp luật ngăn cấm, pháp luật cho phép… song ở độ tuổi đủ 14
đến 15 tuổi mức độ nhận thức còn rất hạn chế. Đến độ tuổi từ 15 đến dưới 16 con
người đã có một số hoạt động mang tính nghề nghiệp, có nhận thức nhất định về các
chuẩn mực đạo đức xã hội, có thể hiểu được một số quyền của xã hội như quyền,
nghĩa vụ của mình trong tập thể, trong trường học… đặc biệt là sự nhận thức về bản
thân họ, về hành vi mà họ đã thực hiện. Tuy vậy, hoạt động tâm lý trong thời kỳ này
vẫn đang trong thời kỳ dần dần hoàn thiện. Cho nên đặc điểm tâm lý trong thời kỳ
này dễ biến động, dễ bị ảnh hưởng bởi các yếu tố khách quan, tính chủ động thấp,
dễ bị kích động, rủ rê, lôi kéo của bạn bè. Vì vậy, việc nhận thức, đánh giá các
chuẩn mực đạo đức, các chuẩn mực của hành vi dễ bị thay đổi, dễ lẫn lộn giữa đúng
và sai… Chính vì đặc điểm tâm lý này mà có ảnh hưởng đến năng lực TNHS, ảnh
hưởng đến mức độ lỗi. Cho nên, luật hình sự Việt Nam chỉ buộc người từ đủ 14 tuổi
18
tuổ i trở lên.
1.2.2.5. Tuổi làm giảm nhẹ trách nhiệm hình sự
Tại điểm m khoản 1 Điều 46 BLHS quy định: Người phạm tội là người già là
một trong những tình tiết được giảm nhẹ TNHS.
Khi con người đến một độ tuổi nhất định thì các hoạt động của cơ thể đều bị
giảm sút, thiếu năng động. Pháp luật quy định giảm nhẹ hình phạt của người già
không phải vì hành vi của họ ít nguy hiểm hơn người trẻ mà chủ yếu xuất phát từ
tinh thần nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, bắt một người già chịu một hình
phạt nghiêm khắc là không cần thiết nữa.
Căn cứ để xác định người phạm tội là già hay trẻ là độ tuổi, tuyệt nhiên
không được căn cứ vào tình trạng sức khỏe. Theo các tài liệu về y sinh học quốc tế
quy định thì người từ 60 tuổi đến 74 tuổi là người có tuổi; từ 75 tuổi đến 89 tuổi là
người già, từ 90 tuổi trở lên là người già sống lâu. Tất nhiên, đó chỉ là quy định về y
sinh học, còn về pháp luật, thực tiễn các Tòa án đã coi người từ 70 tuổi trở lên phạm
tội là người già và họ được giảm nhẹ khi quyết định hình phạt.
Bộ luật hình sự không phân biệt người già phạm tội nào thì được giảm nhẹ
trách nhiệm hình sự hơn tội nào nhưng thực tiễn xét xử cho thấy, người già phạm
các tội mà tội đó bị ảnh hưởng trực tiếp đến tuổi già thì được giảm nhẹ trách nhiệm
hơn những tội không liên quan gì đến tuổi già.
17
Mức độ giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của tình tiết này phụ thuộc vào độ tuổi.
Tuổi càng cao thì mức giảm càng nhiều. Tuy căn cứ để xác định tình tiết này là độ tuổi
nhưng mức độ giảm nhẹ trách nhiệm còn tùy thuộc vào sức khỏe của từng người. Sức
khỏe càng yếu mức giảm càng nhiều. Nếu tình trạng sức khỏe của người già lại thuộc
trường hợp là “Người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển
hành vi của mình” thì họ được coi là phạm tội có cả hai tình tiết giảm nhẹ.