VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
PHẠM THỊ HUYÊN
BẢO ĐẢM QUYỀN CON NGƯỜI CỦA BỊ CÁO
TRONG XÉT XỬ SƠ THẨM VỤ ÁN HÌNH SỰ
TỪ THỰC TIỄN TỈNH HẢI DƯƠNG
Chuyên ngành: Luật hình sự và tố tụng hình sự
Mã số: 60 38 01 04
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
TS. ĐINH THỊ MAI
HÀ NỘI, 2017
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam kết luận văn này là công trình nghiên cứu khoa học độc
lập của tôi. Các tài liệu, tư liệu được sử dụng trong luận văn có nguồn dẫn rõ
ràng, các kết quả nghiên cứu là quá trình lao động trung thực của tôi.
TÁC GIẢ LUẬN VĂN
Phạm Thị Huyên
MỤC LỤC
BLTTHS
Bộ luật tố tụng hình sự
HTND
Hội thẩm nhân dân
HĐND
Hội đồng nhân dân
HĐXX
Hội đồng xét xử
KSV
Kiểm sát viên
MTTQ
Mặt trận tổ quốc
QCN
Quyền con người
TTHS
họ những quyền không ai có thể xâm phạm được, trong những quyền ấy có
quyền được sống, quyền được tự do và mưu cầu hạnh phúc”. Bản tuyên ngôn
nhân quyền của Pháp năm 1791 cũng khẳng định: “Người ta sinh ra tự do và
bình đẳng về quyền lợi và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền
lợi”… Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 có
hiệu lực từ ngày 01/01/2014 đã dành riêng Chương 2, gồm 36 Điều quy định
về quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân về các lĩnh vực
văn hóa, chính trị, kinh tế, xã hội được Hiến pháp và pháp luật công nhận, tôn
trọng, bảo vệ và bảo đảm thực hiện. Để đảm bảo quyền con người thì hệ
thống cơ quan tư pháp nói chung và Tòa án nhân dân nói riêng có vị trí trung
tâm. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005 của Bộ chính trị về Chiến
lược cải cách tư pháp đến năm 2020 xác định: “Tòa án có vị trí trung tâm và
xét xử là hoạt động trọng tâm”. Hoạt động xét xử của TAND nhằm bảo vệ
công lý, chống mọi hành vi phạm tội, bảo đảm trật tự xã hội để người dân yên
tâm sống, học tập và làm việc …đồng thời TAND bảo vệ quyền con người
của bị cáo trong hoạt động xét xử các vụ án hình sự đảm bảo tính khách quan,
chính xác, không làm oan người vô tội, đảm bảo những quyền của bị cáo
được thực hiện.
Để đảm bảo cho việc xét xử bị cáo được khách quan, toàn diện, pháp
luật TTHS quy định TAND thực hiện nguyên tắc hai cấp xét xử, cấp xét xử sơ
thẩm và cấp xét xử phúc thẩm. BLTTHS 2015 là sự kế thừa và phát huy của
1
BLTTHS 2003, nhưng BLTTHS 2015 lại có bước phát triển mới để phù hợp
với sự phát triển của đất nước và yêu cầu mới đặt ra cho pháp luật hình sự
trong quá trình hội nhập và phát triển. Đặc biệt, chú trọng bổ sung thêm
quyền con người của bị cáo như quyền yêu cầu người có thẩm quyền tiến
hành tố tụng kiểm tra, đánh giá chứng cứ; tự mình hỏi người tham gia phiên
dung đề cập đến vấn đề bảo đảm quyền con người trong tố tụng hình sự nói
chung, và bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án
hình sự nói riêng. Cụ thể có nhiều công trình, bài tham luận như: Luận án tiến
sĩ luật học “Bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam
hiện nay” của Nguyễn Huy Hoàng [31]; Luận án tiến sĩ “Bảo đảm quyền con
người của bị cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự của Tòa án
nhân dân cấp tỉnh ở Việt Nam hiện nay” của Võ Quốc Tuấn [58]; GS.TSKH
Lê Văn Cảm “Những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền con người bằng pháp
luật trong lĩnh vực tư pháp hình sự”[7]; Đề tài khoa học cấp Đại học quốc gia
“Bảo vệ quyền con người bằng pháp luật hình sự và pháp luật tố tụng hình sự
trong giai đọan xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam”; Luận án tiến sĩ
“Bảo vệ quyền con người trong tố tụng hình sự Việt Nam” của Nguyễn
Quang Hiền[32]; Chuyên khảo “Bảo vệ quyền con người trong luật hình sự,
luật tố tụng hình sự Việt Nam" của TS. Trần Quang Tiệp[56]; PGS.TS
Nguyễn Mạnh Kháng, Thực hiện dân chủ trong tố tụng hình sự trong bối cảnh
cải cách tư pháp ở nước ta hiện na[34]; Chuyên khảo “Các nguyên tắc tố tụng
hình sự” của PGS.TS. Hòang Thị Sơn và TS. Bùi Kiên Điện[51]… Các tác
giả cũng đã phân tích làm rõ quyền con người của người bị buộc tội (người bị
tạm giữ, bị tạm giam, bị can, bị cáo) trong tố tụng hình sự Việt Nam, một số
tác giả đi sâu nghiên cứu và các nguyên tắc của BLTTHS liên quan đến quyền
con người, một số tác giả đi sâu phân tích về việc bảo đảm thực hiện quyền
con người… những kết quả của các công trình nghiên cứu này cũng là những
tri thức, hiểu biết quan trọng mà tác giả kế thừa có chọn lọc trong quá trình
3
nghiên cứu đề tài của mình. Tuy nhiên, đến nay chưa có công trình khoa học
nào tiếp cận một cách trọn vẹn, toàn diện, hệ thống, đồng bộ về vấn đề bảo
đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm vụ án hình sự từ thực
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Tập trung nghiên cứu hệ thống các văn bản quy phạm pháp luật liên
quan tới quyền con người, quyền của bị cáo, bảo đảm quyền con người của bị
cáo trong hoạt động xét xử sơ thẩm các vụ án hình sự trên địa bàn tỉnh Hải
Dương. Tác giả chủ yếu dựa trên số liệu thống kê của Viện kiểm sát nhân dân
tỉnh Hải Dương, Tòa án nhân dân tỉnh Hải Dương giai đoạn 2014 - 2016 để
đánh giá.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
- Phạm vi không gian: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi không gian
trên lãnh thổ tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi tòa án: Luận văn nghiên cứu trong phạm vi các tòa án cấp sơ
thẩm trên địa bàn tỉnh Hải Dương.
- Phạm vi hoạt động xét xử của tòa án: trong phạm vi hoạt động xét xử
sơ thẩm các vụ án hình sự.
- Phạm vi thời gian: trong khoảng thời gian từ năm 2014 đến năm 2016.
5. Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
- Trên cơ sở lấy quan điểm cơ bản của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh về Nhà nước và pháp luật XHCN và quan điểm của Đảng Cộng
Sản Việt Nam. Luận văn còn sử dụng những phương pháp nghiên cứu luật
học truyền thống như phương pháp phân tích và tổng hợp, phương pháp hệ
thống, phương pháp thống kê, so sánh, phương pháp lịch sử, tư duy logic,
phương pháp quy nạp, diễn giải… nhằm làm rõ nội dung và phạm vi nghiên
cứu của đề tài.
5
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
Với việc thực hiện đề tài này, tác giả mong muốn góp phần củng cố
thuộc tính nhất định.
Quan niệm phổ biến được thừa nhận cho rằng quyền con người là
những giá trị, nhu cầu và lợi ích khách quan và vốn có của con người được
ghi nhận và bảo vệ bằng pháp luật của quốc gia và các thỏa thuận pháp lý
quốc tế.
Liên Hợp Quốc đặt quyền con người là vấn đề quan tâm hàng đầu, với
mục tiêu hướng tới là duy trì hòa bình, bình đẳng, thiết lập trật tự xã hội và an
ninh thế giới, chính vì thế đã có hàng trăm văn kiện quốc tế về quyền con
người được soạn thảo và công bố. Ngay trong phần mở đầu của Hiến chương
đã nêu rõ “... sự tin tưởng vào những quyền cơ bản, nhân phẩm và giá trị của
con người, ở quyền bình đẳng giữa nam và nữ, ở quyền bình đẳng giữa các
nước lớn và nhỏ”. Các quốc gia thành viên của Liên Hợp Quốc cam kết “thực
hiện sự hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề quốc tế về kinh tế,
văn hóa và nhân đạo và khuyến khích phát triển sự tôn trọng các quyền của
con người và các tự do cơ bản cho tất cả mọi người không phân biệt chủng
tộc, nam nữ, ngôn ngữ hoặc tôn giáo”[54, tr.78].
Theo từ điển Bách khoa toàn thư Việt Nam thì Quyền con người là
tổng hợp các quyền và các tự do cơ bản để đánh giá về địa vị pháp lý của cá
7
nhân. Nhưng có ý kiến cho rằng “Quyền con người là những đặc quyền (nhân
phẩm, nhu cầu, lợi ích và năng lực vốn có của con người) được thừa nhận và
bảo hộ bằng luật quốc tế và pháp luật quốc gia. Quyền con người là quyền của
tất cả mọi người[ 58].
Theo Đại từ điển Tiếng Việt, “nhân quyền” chính là “quyền con người”.
Điều 50 Hiến pháp năm 1992 của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, lần đầu tiên tuyên bố rằng: “... ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt
Nam, các quyền con người về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa và xã hội
Điều 60 BBLTTHS 2015: “Bị can là người hoặc pháp nhân bị khởi tố về hình
sự. Quyền và nghĩa vụ của bị can là pháp nhân được thực hiện thông qua
người đại diện theo pháp luật của pháp nhân theo quy định của Bộ luật này”.
Theo quy định của pháp luật tư cách tham gia tố tụng của bị can chấm dứt khi
cơ quan điều tra ra quyết định đình chỉ điều tra trong giai đoạn điều tra; Viện
kiểm sát ra quyết định đình chỉ vụ án trong giai đoạn truy tố; Tòa án đình chỉ
vụ án trong giai đoạn chuẩn bị xét xử; và thay đổi tư cách tham gia tố tụng “bị
cáo” kể từ khi tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 50 BLTTHS năm 2003 quy định [43]:
Bị cáo là người đã bị Toà án quyết định đưa ra xét xử. Bị cáo tham gia tố
tụng kể từ khi có quyết định đưa vụ án ra xét xử đến khi bản án hoặc quyết
định của Tòa án có hiệu lực pháp luật.
Quy định pháp lý đầu tiên về bị cáo được thể hiện trong bản hướng dẫn
về trình tự tố tụng sơ thẩm về hình sự kèm theo thông tư số 16/TATC ngày 27
tháng 9 năm 1974 của TANDTC, cụ thể: “bị cáo là người bị truy cứu trách
nhiệm hình sự trước Tòa án nhân dân. Trong giai đoạn xét xử Tòa án nhân
dân chỉ được đưa một người ra xét xử với tư cách bị cáo nếu VKSND đã truy
tố người đó trước TAND, nếu VKS không truy tố thì TAND không được xét
xử một người với tư cách là bị cáo trừ những người mà TAND xét xử về
những việc hình sự nhẹ”.
9
Đến BLTTHS năm 1988 quy định tại khoản 1 Điều 34 cho tới nay
BLTTHS 2003 quy định tại khoản 1 Điều 50, thì thuật ngữ bị cáo được quy
định ngắn gọn nhưng đầy đủ nội dung bao hàm: “Bị cáo là người đã bị Toà
án quyết định đưa ra xét xử”.
Khái niệm bị cáo tiếp tục được mở rộng để phù hợp với xu hướng phát
triển, hội nhập quốc tế của thời đại. Chính vì vậy BLTTHS 2015 ra đời quy
thuộc thẩm quyền của Tòa án cấp dưới mà mình lấy lên để xét xử. Theo
BLTTHS 2003 [43], thì tại phiên tòa sơ thẩm, hội đồng xét xử nhân danh nhà
nước có thẩm quyền tiến hành xem xét, công khai, đánh giá các tài liệu chứng
cứ được thu thập trong quá trình điều tra và xuất trình tại phiên tòa, căn cứ
vào bản cáo trạng mà VKS đã truy tố. Những người tham gia tố tụng được
quyền tranh luận, đưa ra quan điểm, ý kiến và được đại diện VKS đối đáp
theo quy định.
Quyền con người và bảo đảm quyền con người luôn là vấn đề quan
tâm hàng đầu của mỗi quốc gia. Trong lĩnh vực pháp luật, vấn đề quyền
con người làm nền tảng trong việc nghiên cứu và ban hành các quy phạm.
Và trong lĩnh vực tố tụng hình sự cũng vậy, việc giải quyết vụ án hình sự
không thể tách rời vấn đề bảo đảm quyền con người, đặc biệt là quyền của
người bị buộc tội [56, tr. 35]. Bởi lẽ để buộc tội và truy cứu trách nhiệm
hình sự đối với một người phải dựa trên những căn cứ luật định và phải do
những người, những cơ quan có thẩm quyền tiến hành theo trình tự, thủ tục
mà pháp luật quy định để nhằm mục đích không để lọt tội phạm đồng thời
đảm bảo không làm oan người vô tội.
Bảo đảm quyền con người xét cho cùng chính là việc ghi nhận và thực
hiện những cam kết trong pháp luật quốc tế về các quyền con người vào trong
pháp luật mỗi quốc gia. Không thể bảo đảm quyền con người nếu chỉ dựa vào
quyền tự nhiên của con người, bởi tự thân những quyền tự nhiên không thể tự
mình vận hành trong một xã hội rộng lớn ở phạm vi quốc tế và phạm vi quốc
11
gia. Phải thông qua Nhà nước, thì những cam kết quốc tế về quyền con người
mới hình thành nên những địa vị pháp lý của con người, đồng thời quyền con
người chỉ được bảo đảm khi được quy định bằng pháp luật và có cơ chế bảo
đảm, vận hành bởi pháp luật [57, tr. 38]. Do đó, bảo đảm quyền con người là
và các cơ quan khác được pháp luật quy định.
1.2. Bảo đảm quyền con người của bị cáo trong xét xử sơ thẩm hình sự
1.2.1. Các quyền con người, quyền công dân của bị cáo trong xét xử sơ
thẩm vụ án hình sự
BLTTHS 2003, ghi nhận các nguyên tắc về bảo đảm quyền con người
nói chung và bảo đảm quyền của bị cáo nói riêng, như: Tôn trọng và bảo vệ
các quyền cơ bản của công dân (Điều 4); Bảo đảm quyền bình đẳng của mọi
công dân trước pháp luật (Điều 5); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về thân
thể của công dân (Điều 6); Bảo đảm quyền bất khả xâm phạm về chỗ ở, an
toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của công dân; Bảo hộ tính mạng,
sức khỏe, danh dự, nhân phẩm, tài sản của công dân (Điều 7); Bảo đảm quyền
bất khả xâm phạm về chỗ ở, an toàn và bí mật thư tín, điện thoại, điện tín của
công dân (Điều 8); Không ai bị coi là có tội khi chưa có bản án kết tội của òa
án đã có hiệu lực pháp luật (Điều 9); Bảo đảm quyền bào chữa của người bị
tạm giữ, bị can, bị cáo (Điều 11); Bảo đảm quyền bình đẳng trước tòa án [43].
Điều 31 Hiến pháp 2013 [42], quy định những nguyên tắc bảo đảm các
quyền con người, quyền công dân trong đó có các quyền của bị cáo trong lĩnh
vực hình sự, tố tụng hình sự nhằm bảo vệ con người trước vòng xoáy tố tụng
hình sự mà các cơ quan bảo vệ pháp luật đại diện cho Nhà nước thực hiện khi
có tội phạm xảy ra. Cụ thể: Người bị buộc tội được coi là không có tội cho
đến khi được chứng minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa
án đã có hiệu lực pháp luật; Người bị buộc tội phải được Tòa án xét xử kịp
thời trong thời hạn luật định, công bằng, công khai; Trường hợp xét xử kín
theo quy định của luật thì việc tuyên án phải được công khai; Không ai bị kết
13
án hai lần vì một tội phạm; Người bị bắt, tạm giữ, tạm giam, khởi tố, điều tra,
truy tố, xét xử có quyền tự bào chữa, nhờ luật sư hoặc người khác bào chữa;
hành án thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm mà bị xử lý kỷ luật hoặc bị
truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đảm bảo cho sự vô tư của những người tiến hành tố tụng, Điều 14
BLTTHS 2003 quy định: Thủ trưởng, Phó Thủ trưởng Cơ quan điều tra, Điều
tra viên, Viện trưởng, Phó Viện trưởng Viện kiểm sát, Kiểm sát viên, Chánh
án, Phó Chánh án Toà án, Thẩm phán, Hội thẩm, Thư ký Tòa án không được
tiến hành tố tụng hoặc người phiên dịch, người giám định không được tham
gia tố tụng, nếu có lý do để cho rằng họ có thể không vô tư trong khi thực
hiện nhiệm vụ của mình.
Điều 63 BLHS 2003 quy định những vấn đề phải chứng minh trong vụ
án hình sự
Khi điều tra, truy tố và xét xử vụ án hình sự, Cơ quan điều tra, Viện
kiểm sát và Toà án phải chứng minh: Có hành vi phạm tội xảy ra hay không,
thời gian, địa điểm và những tình tiết khác của hành vi phạm tội; Ai là người
thực hiện hành vi phạm tội; có lỗi hay không có lỗi, do cố ý hay vô ý; có năng
lực trách nhiệm hình sự hay không; mục đích, động cơ phạm tội; Những tình
tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị can, bị cáo và
những đặc điểm về nhân thân của bị can, bị cáo; Tính chất và mức độ thiệt hại
do hành vi phạm tội gây ra.
Điều 85 BLTTHS 2015, đã bổ sung thêm những vấn đề phải chứng
minh trong vụ án hình sự: “…Nguyên nhân và điều kiện phạm tội; Những
tình tiết khác liên quan đến việc loại trừ trách nhiệm hình sự, miễn hình phạt”,
để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự và tạo sự công bằng cho người bị
buộc tội. Song song với việc thu thập tài liệu chứng cứ liên quan đến việc
buộc tội thì cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng phải thu thập
tài liệu chứng cứ liên quan đến việc gỡ tội để tránh oan sai.
15
cáo không trở ngại cho việc xét xử và họ đã được giao giấy triệu tập hợp lệ thì
tòa án có thể xét xử vắng mặt họ.
- Quyền được giải thích về quyền và nghĩa vụ: trách nhiệm của người
tiến hành tố tụng khi làm việc với người bị buộc tội trong các giai đoạn tố
tụng là phải giải thích cho họ về quyền và nghĩa vụ pháp lý của họ. Tại phiên
tòa, chủ tọa phiên tòa phải giải thích quyền và nghĩa vụ cho bị cáo trong thủ
tục bắt đầu phiên tòa. Việc đảm bảo quyền này của bị cáo có ý nghĩa rất lớn
trong việc đảm bảo quyền con người của bị cáo; giúp họ hiểu rõ quyền và
nghĩa vụ của mình để thực hiện cũng như cũng như góp phần nhanh chóng
kịp thời giải quyết vụ án, xác minh sự thật vụ án.
- Quyền đề nghị thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định,
người phiên dịch: trong quá trình tham gia tố tụng, nếu có căn cứ cho rằng
người tiến hành tố tụng người giám định, người phiên dịch không vô tư trong
quá trình giải quyết vụ án thì bị cáo có quyền đề nghị thay đổi. Quyền này thể
hiện sự công bằng, bình đẳng trong TTHS.
- Quyền đưa ra tài liệu, đồ vật, yêu cầu: BLTTHS 1988 quy định, bị
cáo có quyền đưa ra “chứng cứ và những yêu cầu”, khắc phục khó khăn cho
bị báo về việc xác định thế nào là “chứng cứ” để đưa ra và giao nộp cho cơ
quan tiến hành tố tụng, BLTTHS 2003 quy định mở rộng hơn mang tính hoàn
thiện và phù hợp với thực tế.
- Quyền tự bào chữa hoặc nhờ người khác bào chữa: quyền bào chữa
là một trong những nguyên tắc cơ bản của TTHS, bị cáo khi thực hiện quyền
này sẽ đưa ra căn cứ để gỡ tội cho bản thân hoặc nhờ người bào chữa cho
mình nếu không thể tự mình bào chữa. Người bào chữa phải là người có đủ
điều kiện theo quy định của pháp luật.
- Quyền trình bày ý kiến, tranh luận tại phiên tòa: Bị cáo khi thực hiện
quyền này sẽ đưa ra tài liệu, đồ vật, quan điểm của mình để tranh luận lại với
17
18
chủ thể có thẩm quyền giải quyết theo quy định của pháp luật, để đảm bảo
quyền lợi ích hợp pháp cho bị cáo và đảm bảo cho pháp luật được thực hiện
nghiêm chỉnh, thống nhất.
Khoản 2 Điều 64 BLTTHS 2015, bổ sung một số quyền mới của bị cáo
như sau:
- Quyền được “Trình bày ý kiến về chứng cứ, tài liệu, đồ vật liên quan
và yêu cầu người có thẩm quyền tiến hành tố tụng kiểm tra, đánh giá”. Khi
tiến hành xét xử công khai, các chứng cứ, tài liệu, đồ vật được thu thập được
đưa ra để tiến hành kiểm tra, đánh giá công khai tại phiên tòa. Bị cáo được
quyền trình bày về chứng cứ, tài liệu này để xác định các chứng cứ, tài liệu,
đồ vật đó có căn cứ chứng minh trong vụ án hình sự không. Căn cứ buộc tội
hay gỡ tội, có ý nghĩa đánh giá là tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS hay
không và giá trị của nó trong việc xác định sự thật của vụ án.
- Quyền được “Trình bày lời khai, trình bày ý kiến, không buộc phải
đưa ra lời khai chống lại chính mình hoặc buộc phải nhận mình có tội”. Phải
đối mặt với cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng, không phải bị
cáo nào cũng giữ được thái độ bình tĩnh và tư duy sáng suốt để trả lời những
câu hỏi của HĐXX, quyền này đảm bảo được quyền “im lặng” của bị cáo khi
thấy có lý do gì đó mà không thể trả lời ngay câu hỏi của cơ quan tiến hành tố
tụng, người tiến nhành tố tụng.
- Quyền “Đề nghị chủ tọa phiên tòa hỏi hoặc tự mình hỏi người tham
gia phiên tòa nếu được chủ tọa đồng ý; tranh luận tại phiên tòa”. Thực hiện
quyền này thể hiện tính chủ động cho bị cáo, giúp bị cáo thực hiện quyền bào
chữa của mình được tốt hơn, việc hỏi cũng như đối chất trực tiếp tại phiên tòa
sẽ là căn cứ quan trọng làm cho việc xét xử được khách quan, toàn diện.
- Quyền được “Xem biên bản phiên tòa, yêu cầu ghi những sửa đổi, bổ
sung vào biên bản phiên tòa”. Đảm bảo sự khách quan, công bằng trong tố
20