VIỆN HÀN LÂM
KHOA HỌC XÃ HỘI VIỆT NAM
HỌC VIỆN KHOA HỌC XÃ HỘI
CÙ HOÀNG DŨNG
QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TUÝ
TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM CHỮA BỆNH – GIÁO DỤC
LAO ĐỘNG XÃ HỘI TỈNH LONG AN
Chuyên ngành: Công tác xã hội
Mã số: 60. 90. 01. 01
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH CÔNG TÁC XÃ HỘI
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC
PGS.TS: HỒ VIỆT HẠNH
HÀ NỘI, 2017
1
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận vănThạc sĩ
Công tác xã hội về “Quản lý công tác xã hội đối với người nghiện ma túy từ thực
tiễn Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội tỉnh Long An” là hoàn toàn
trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác trong cùng lĩnh vực.
Tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về lời cam đoan này./.
2
1.2. Lý luận về quản lý công tác xã hội đối với người nghiện ma túy......................18
1.3. Các yếu tố tác động đến quản lý công tác xã hội đối với người nghiện ma túy
.....................................................................................................................................30
Chương 2: THỰC TRẠNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI
NGHIỆN MA TÚY TẠI TRUNG TÂM CHỮA BỆNH-GIÁO DỤC LAO ĐỘNG
XÃ HỘI TỈNH LONG AN …...................................................................................33
2.1. Thực trạng các yếu tố ảnh hưởng đến quản lý công tác xã hội đối với người
nghiện ma tuý tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hội.....................33
2.2. Thực trạng công tác lập kế hoạch quản lý công tác xã hội đối với người
nghiện ma tuý tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hội .....................42
2.3. Thực trạng tổ chức trong quản lý công tác xã hội đối với người nghiện ma tuý
tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hội..............................................45
2.4. Thực trạng lãnh đạo trong quản lý công tác xã hội đối với người nghiện ma tuý
tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội Long An ….........................48
2.5. Thực trạng hoạt động kiểm tra trong quản lý công tác xã hội đối với người
người nghiện ma tuý tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội Long
An....................................................................................................................................
.....................................................................................................................................51
2.6. Đặc điểm của người nghiện ma tuývà công tác xã hội đối với người nghiện ma
túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội.......................................55
Chương 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ QUẢN LÝ CÔNG TÁC XÃ
HỘI ĐỐI VỚI NGƯỜI NGHIỆN MA TÚY TỪ THỰC TIỄN TRUNG TÂM
CHỮA BỆNH – GIÁO DỤC LAO ĐỘNG XÃ HỘI TỈNH LONG AN.................63
3.1. Nhóm giải pháp chung nâng cao hiệu quả quản lý CTXH.................................63
3.2. Nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả các hoạt động quản lý CTXH đối với
người nghiện ma tuý tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội Long
An................................................................................................................................69
KẾT LUẬN................................................................................................................74
DANH MỤC TÀ
I LIỆU THAM KHẢO..............................................................................................75
PVS
Phỏng vấn sâu
TT CB-GDLĐXH
Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã
UBND
Ủy ban nhân dân
XLVPHC
Xử lý vi phạm hành chính
5
DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1.
Bảng 2.2.
Bảng 2.3.
Số lượng người nghiện ma túy có hồ sơ quản lý tỉnh Long An
Đặc điểm của đội ngũ cán bộ
Mục đích hoạch định
35
38
47
Bảng 2.9.
Hoạt động lãnh đạo
49
Bảng 2.10.
Các phong cách lãnh đạo
50
Bảng 2.11.
Phẩm chất người lãnh đạo
51
Bảng 2.12.
Mục đích kiểm tra
52
Bảng 2.13.
Các nguyên tắc kiểm tra
Biểu đồ 2.4.
Trình độ học vấn của người CNMT
57
Biểu đồ 2.5.
Tình trạng việc làm trước khi vào Trung tâm
58
Biểu đồ 2.6.
Hoàn cảnh gia đình của người CNMT
58
Biểu đồ 2.7.
Nguyên nhân sử dụng ma túy
59
7
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Chính vì vậy, từ năm 2002, tỉnh đã thành lập và đưa vào hoạt động Trung
tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hội tại xã Thủy Tây, huyện Thạnh Hóa với
chức năng quản lý, giáo dục, cai nghiện, chữa trị phục hồi người nghiện ma túy và
tổ chức quản lý, dạy nghề giải quyết việc làm cho người sau cai nghiện ma túy.
Hàng năm, Trung tâm đã tổ chức cai nghiện, chữa trị cho trên 300 lượt người.
Trong thời gian qua, công tác cai nghiện phục hồi cả nước gặp rất nhiều khó
khăn,hiệu quả công tác cai nghiện thấp do các Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục
Lao động xã hội quản lý người nghiện mang tính xử lý hành chính, cưỡng bức, bắt
buộc. Cán bộ lãnh đạo, cán bộ quản lý phần lớn thuộc lực lượng công an chuyển
ngành, quản lý bằng nghiệp vụ ngành công an, ít sử dụng chuyên môn công tác xã
hội trong hỗ trợ tâm lý, xã hội nên xảy ra tình trạng người cai nghiện ma túy chống
đối, đập phá tài sản, bỏ trốn tập thể tại nhiều tỉnh như: Long An, Hải Phòng, Đồng
Nai, Bà Rịa – Vũng Tàu, Đồng Tháp, Bình Dương, Tây Ninh… gây bức xúc trong
dư luận xã hội. Tổ chức nhân quyền thế giới đã có những phản ảnh về vấn đề bất
cập trong công tác cai nghiện tập trung tại Việt Nam. Thực tiễn đòi hỏi phải có
phương pháp tiếp cận mới trong công tác quản lý để duy trì sự tồn tại của 132
Trung tâm cai nghiện cả nước: đó là quản lý người nghiện ma túy bằng phương
pháp công tác xã hội.
Hiện nay, Công tác xã hội với người nghiện ma túy nói chung và đối với người
nghiện ma túy đang cai nghiện tại Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã
hộinói riêng là vấn đề nghiên cứu dành được nhiều sự quan tâm từ các nhà khoa học và
cơ sở giảng dạy nghiên cứu. Bởi vì vấn đề nghiên cứu này có ý nghĩa lý luận và thực tiễn
tốt, đặc biệt còn mang tính nhân văn sâu sắc. Tại Việt Nam người nghiện ma túy là một
những đối tượng thuộc nhóm yếu thế trong xã hội. Do vậy, Đảng và Nhà nước có những
chủ trương chính sách trợ giúp nhóm xã hội yếu thế này. Công tác xã hội đối với người
nghiện ma túy đã tạo ra bước ngoặc thay đổi trong phương pháp quản lý người nghiện tại
9
Trung tâm Chữa bệnh - Giáo dục Lao động xã hội. Tuy nhiên vẫn còn một số vấn đề
Mô hình điều trị Regen, là mô hình điều trị nghiện hiệu quả Úc, được thành
lập năm 1970, trong đó phương châm hoạt động của mô hình này là giảm hại, cung
cấp các gói dịch vụ cần thiết, đa dạng, linh hoạt, phù hợp với từng điều kiện của
người nghiện, trong đó có điều trị thay thế bằng Methadone.
Nhóm tác giả Klee H., Hilary Klee L., Lain Mclean và Christian Yavorsky
C (2002), đã đề cập đến vấn đề tái hòa nhập cộng đồng cho người nghiện ma tuý,
những rào cản của người cai nghiện ma tuý trong việc xây dựng cuộc sống mới và
tìm kiếm việc làm. Trong nghiên cứu này, các tác giả đã đề cập đến rất nhiều khó
khăn trong việc hòa nhập cộng đồng của họ [33].
Trong một báo cáo nghiên cứu của nhóm tác giả Bauld. L, Hay. Gordon,
Jennifer McKell and Colin Carroll (2010) đã chỉ ra rằng, hầu hết người nghiện ma
tuý gặp rất nhiều bất lợi và thiệt thòi trong cuộc sống. Đa số người nghiện ma tuý
là những người vô gia cư hoặc có vấn đề về nhà ở. Nhiều người nghiện ma tuý là
những người phải đối diện với vấn đề sức khỏe tâm thần, là những đối tượng dễ
phạm tội. Nghiên cứu này cũng chỉ ra những người nghiện nặng như heroin và
cocain thì khả năng lao động thấp hơn những người bình thường cùng độ tuổi [32].
2.2. Nghiên cứu về nghiện ma túy và điều trị nghiện ma túy tại Việt Nam
Quá trình điều trị, phục hồi cho người nghiện ma tuý đòi hỏi sự phối hợp
đồng bộ những biện pháp (liệu pháp) khác nhau: Từ y tế (cắt cơn giải độc, phục
hồi sức khỏe, điều trị các bệnh cơ hội) đến các biện pháp điều trị tổng hợp như
giáo dục trị liệu, tâm lý trị liệu, lao động trị liệu, …
Các công trình nghiên cứu về vấn đề nghiện ma túy và điều trị nghiện ma
túy hiện nay ở Việt Nam đã thu hút được nhiều nhà khoa học và các cơ quan chức
năng quan tâm, bao gồm các hướng nghiên cứu sau:
- Hướng nghiên cứu nhu cầu việc làm cho người nghiện ma túy, các nguyên
nhân nghiện ma túy và cơ chế trị liệu cho người nghiện ma túy:
Đề tài cấp Bộ 2001 “Các giải pháp tạo việc làm cho người nghiện ma túy,
người mại dâm sau khi được chữa trị phục hồi” do Nguyễn Văn Minh (2002) làm chủ
nhiệm. Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng việc làm, đời sống người nghiện ma tuý,
túy, những khó khăn thách thức từ các mô hình trợ giúp hiện tại. Nghiên cứu đã đề
xuất Chính phủ trong việc hỗ trợ học nghề, việc làm cho người nghiện ma tuý.
12
Nghiên cứu này đi theo hướng nghiên cứu xã hội, không dựa trên lý luận khoa học tâm
lý [4].
- Hướng nghiên cứu đặc điểm nhân cách của người nghiện ma túy và biện pháp
trị liệu cho người nghiện ma túy.
Tác giả Phan Thị Mai Hương (2005) với nghiên cứu “Thanh niên nghiện ma
túy nhân cách và hoàn cảnh xã hội” là một cách tiếp cận mới về thanh niên nghiện
ma tuý - từ góc độ của tâm lý học. Tác giả đã phân tích, hệ thống hóa những lý luận
về đặc điểm nhân cách, hoàn cảnh xã hội và sự ảnh hưởng của chúng đến hành vi
của người nghiện ma tuý. Kết quả nghiên cứu chỉ ra một số đặc điểm nhân cách và
hoàn cảnh xã hội của thanh niên nghiện ma tuý, mối quan hệ giữa các đặc điểm với
hành vi nghiện. Trong đó, vai trò gia đình được tác giả tìm hiểu ở khía cạnh môi
trường, có ảnh hưởng đến đặc điểm nhân cách và mức độ nghiện của thanh niên
nghiện ma túy, cách quản lý của cha mẹ với con [23].
Nghiên cứu: Liệu pháp tâm lý xã hội cho người nghiện ma túy” của Nguyễn
Hữu Khánh Duy, Nguyễn Đình Khuê, Trist Summerfield (2002) đã đề cập đến một
số liệu pháp tâm lý xã hội nhằm can thiệp kịp thời cho thanh niên nghiện ma túy.
Đề tài đã hệ thống hóa một số lý luận về tư vấn hướng nghiệp cho thanh niên sau
cai nghiện, nghiên cứu đã xem vấn đề hướng nghiệp, dạy nghề là con đường cơ
bản giúp thanh niên nghiện ma túy tái hòa nhập cộng đồng hiệu quả. Đây là nghiên
cứu dưới góc độ tâm lý xã hội của thanh niên nghiện ma túy. Tuy nhiên, đề tài chỉ
mới nêu ra một số liệu pháp tâm lý xã hội mà chưa đi sâu nghiên cứu cơ chế hình
thành các hiện tượng tâm lý của người nghiện ma tuý [20].
Qua tìm hiểu và phân tích những nghiên cứu, tài liệu trong và ngoài nước có
thể thấy rằng lĩnh vực cai nghiện ma tuý đã nhận được khá nhiều sự quan tâm của
các chuyên gia. Tuy nhiên, chưa tìm thấy tác giả nào nghiên cứu về quản lý công
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu tập trung vào các nội dung trong lĩnh vực Quản lý công
tác xã hội đối với người nghiện ma tuý.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
14
- Phạm vi về nội dung: Nghiên cứu tập trung vào hoạt động quản lý công tác
xã hội đối với người nghiện ma tuý tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động
xã hội tỉnh Long An.
- Phạm vi khách thể: Đề tài nghiên cứu trên 2 nhóm khách thể chính đó là:
+ Cán bộ quản lý, lãnh đạo trực tiếp trong Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục
Lao động xã hội tỉnh Long An.
+ Nhân viên trong Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội tỉnh
Long An
- Phạm vi nghiên cứu:
+ Không gian: tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội tỉnh
Long An, có so sánh với các Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động khác
trong cả nước.
+ Thời gian: từ tháng 2012 đến tháng 3/2017, có so sánh với giai đoạn trước
năm 2012 để làm rõ một số vấn đề và nhận định, đánh giá tình hình giai đoạn 2017
trở đi.
4.3. Câu hỏi nghiên cứu
- Vấn đề quản lý công tác xã hội đối với người người nghiện ma tuý tại Trung
tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội tỉnh Long An hiện nay như thế nào?
- Những hoạt động quản lý công tác xã hội nào đang được triển khai?
- Hiệu quả của những hoạt động quản lý công tác xã hội đó là như thế nào?
- Cán bộ quản lý công tác xã hội đối với người nghiện ma tuý tại Trung tâm
Đề án đổi mới công tác cai nghiện ma túy ở Việt Nam đến năm 2020; Nghị định số
221/2013/NĐ-CP ngày 30/12/2013 của Chính phủ quy định chế độ áp dụng biện
pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Nghị định số
94/2010/NĐ-CP ngày 09/9/2010 của Chính Phủ Quy định về tổ chức cai nghiện
ma túy tại gia đình, cai nghiện ma túy tại cộng đồng; Nghị định 136/2016/NĐ-CP
ngày 09/9/2016 sửa đổi bổ sung Nghị định số 221/2013/NĐ-CP. Thông tư liên tịch
148/2014/TTLT-BTC-BLĐTBXH ngày 08/10/2014 của Liên Bộ Tài chính và Bộ
Lao động – Thương binh và Xã hội Quy định quản lý và sử dụng kinh phí thực
hiện chế độ áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc;
chế độ đối với người chưa thành niên, người tự nguyện chữa trị, cai nghiện tại
16
Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội và tổ chức cai nghiện ma túy
tại gia đình cộng đồng . . .
- Nghiên cứu các tài liệu về báo cáo, thống kê, văn bản của các cơ quan, tổ
chức có liên quan đến vấn đề người nghiện ma túy và quản lý công tác xã hội với
người nghiện ma túy.
- Nghiên cứu một số công trình của các tác giả trong và ngoài nước về công
tác xã hội với người nghiện ma túy.
5.2.2. Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn sâu là những cuộc đối thoại
giữa nhà nghiên cứu và người cung cấp thông tin nhằm tìm hiểu thực trạng, những
mong muốn nguyện vọng, kinh nghiệm và nhận thức của người cung cấp thông tin
thông qua chính ngôn ngữ, thái độ của người ấy. Trong luận văn này, phương pháp
phỏng vấn sâu là phương pháp chính nhằm thu thập những thông tin cần thiết, từ
đó đưa ra những khuyến nghị và giải pháp về quản lý công tác xã hội với người
nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội.
+ Nghiên cứu sẽ tập trung phỏng vấn 10 cán bộ là lãnh đạo, quản lý người
nghiện ma túy tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội để đánh giá
về:
bệnh – Giáo dục Lao động xã hội đánh giá sâu về thực trạng quản lý, những khó
khăn họ đang gặp phải và những đề xuất nhằm nâng cao hiệu quả quản lý.
6. Ý nghĩa lý luận và thực tiễn của luận văn
6.1. Ý nghĩa lý luận của luận văn
Kết quả của đề tài sẽ đóng góp một phần vào hệ thống kiến thức về quản lý
công tác xã hội. Các kết quả cũng góp phần bổ sung thêm vào hệ thống những giải
pháp trong việc nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội với người nghiện ma tuý
tại Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục Lao động xã hội – một khía cạnh còn được ít
nhà nghiên cứu, chuyên gia quan tâm.
Đề tài còn là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích đóng góp cho những nghiên
cứu, phát triển ý tưởng khoa học cho những nhà khoa học, nhà nghiên cứu, chuyên
gia và các bạn học viên quan tâm đến lĩnh vực công tác xã hội nói chung và quản
lý công tác xã hội với người nghiện ma túy nói riêng.
6.2. Ý nghĩa thực tiễn của luận văn
18
- Đối với đội ngũ quản lý: thực tế, công tác xã hội là một hoạt động chưa phát
triển nên công việc trong lĩnh vực này gặp nhiều khó khăn, nhất là hoạt động quản
lý. Do đó, với những phát hiện của nghiên cứu sẽ đề ra những giải pháp hữu hiệu
nhằm nâng cao hiệu quả quản lý công tác xã hội với người nghiện ma tuý.
- Đối với nhân viên: hiệu quả của hoạt động quản lý ảnh hưởng trực tiếp tới
hiệu quả công việc của nhân viên. Do đó, với những đề xuất nâng cao hiệu quả
công tác quản lý sẽ mang lại những lợi ích tích cực cho đội ngũ nhân viên.
- Đối với người nghiện ma tuý: Nghiên cứu này không nghiên cứu trực tiếp
trên người nghiện ma tuý. Tuy nhiên, về bản chất, các hoạt động quản lý công tác
xã hội có tác động gián tiếp tới người nghiện ma tuý; nếu quản lý tốt thì nhân viên
làm việc tốt, dẫn đến hiệu quả công việc cao. Người cai nghiện ma tuý sẽ được
hưởng nhiều dịch vụ có chất lượng.
7. Kết cấu của luận văn
bộ có bản chất mãn tính và tái diễn được biểu hiện bằng hành vi bắt buộc phải tìm
kiếm và sử dụng chất ma túy đó, bất chấp những hậu quả của việc sử dụng [19].
Tuy vậy trong phạm vi nghiên cứu này, tôi tán thành quan niệm của Phan Thị
Mai Hương: Nghiện ma túy là hiện tượng phụ thuộc cả về thể xác và tinh thần vào
20
ma túy do sử dụng thường xuyên với liều lượng ngày càng tăng, dẫn đến mất khả
năng kiểm soát bản thân ở người nghiện ma túy, có hại cho cá nhân và xã hội [23].
Có 2 khái niệm liên quan cần phân biệt: sử dụng ma túy và lạm dụng ma
túy. Sử dụng ma túy là việc dùng các chất ma túy với mục đích chữa bệnh, theo chỉ
định của bác sĩ, với liều lượng nhất định, trong thời gian nhất định, không gây
nguy hiểm cho người sử dụng. Còn lạm dụng ma túy là sử dụng nhiều lần, với mục
đích tiêu khiển, có hại cho sức khỏe. Lạm dụng ma túy thành thói quen dẫn đến
nghiện ma túy.
- Khái niệm người nghiện ma túy:
Theo tổ chức y tế thế giới (WHO): “Người nghiện ma túy là người sử dụng
chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần dưới các hình thức khác nhau như
hút, hít, tiêm chích và bị lệ thuộc vào các chất này” [17].
Theo Luật phòng, chống ma túy 23/2000/QH 10: Người nghiện ma túy là
người sử dụng chất ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng thần và lệ thuộc vào
chất này [28, tr.1].
Qua nghiên cứu tổng hợp, có thể đưa ra khái niệm như sau: Người nghiện ma
túy là người sử dụng một hoặc nhiều loại ma túy, thuốc gây nghiện, thuốc hướng
thần và lệ thuộc vào các chất này.
Hiện nay, ở Việt Nam việc xác định tình trạng nghiện được pháp luật quy
định:
- Về thẩm quyền xác định tình trạng nghiện: Người có thẩm quyền xác định
tình trạng nghiện ma túy là bác sỹ, y sĩ, được cấp chứng nhận hoặc chứng chỉ tập
sau: “Người nghiện ma túy đang cai nghiện là người đang được điều trị cắt cơn, tư
vấn, giáo dục, học nghề, lao động tại cơ sở cai nghiện hoặc tại gia đình và cộng
đồng”.
“Điều trị nghiện” và “cai nghiện” là hai cụm từ được dùng thường xuyên
trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay, có văn bản xem đây là hai từ đồng
nghĩa. Qua nghiên cứu tác giả thấy rằng hai khái niệm này khác nhau:
- Cai nghiện: có mục tiêu là giúp người nghiện từ bỏ chất gây nghiện. Cai
nghiện có thời gian cụ thể cai nghiện bắt buộc từ 1 đến 2 năm; cai nghiện tự
nguyện, cai tại gia đình và cộng đồng 6 tháng.
22
- Điều trị nghiện: mục tiêu có thể là giảm hại, quá trình dùng thuốc lâu dài,
không quy định thời gian (điều trị thay thế bằng methadone thì người nghiện dùng
chất gây nghiện lâu dài).
1.1.2. Các dạng nghiện ma túy và các mức độ nghiện ma túy
1.1.2.1. Các dạng nghiện ma túy
- Nghiện ma tuý nhóm ức chế thần kinh: tác động chủ yếu khi sử dụng là
buồn ngủ, an thần, yên dịu, giảm nhịp tim, giảm hô hấp như các chất dạng thuốc
phiện, cần sa.
- Nghiện ma tuý nhóm kích thích thần kinh: làm tăng sinh lực, phấn khích,
nói nhiều hơn, tăng hoạt động của cơ thể, tăng nhịp tim, hô hấp như các chất nhóm
Amphetamin
- Nghiện ma tuý nhóm gây ảo giác: làm thay đổi nhận thức đến mức độ có
thể nhìn thấy, nghe thấy, cảm giác thấy những sự việc không có thật (ảo thính, ảo
thị). Nó làm thay đổi cảm nhận của người sử dụng về hiện tại và môi trường xung
quanh họ như ma túy đá, cần sa liều cao.
Các chất gây nghiện có nhiều tác động lên hệ thần kinh trung ương nên khó
liệt kê chính xác nó vào nhóm nào hoàn toàn. Ví dụ sử dụng cần sa liều thấp có tác
dụng an thần nhưng sử dụng liều cao lại có tác dụng gây ảo giác. Vì vậy việc phân
mái, sảng khoái. Khi không có nó thì họ thường cau có, bực bội hoặc cô độc, u sầu.
- Đặc biệt do tính lệ thuộc ma túy nên người nghiện tìm đủ mọi cách để đảm
bảo có được liều quen dùng. Vì vậy, họ có thể nói dối, lấy cắp của gia đình, của xã
hội, cướp giật… miễn làm sao họ có được ma túy.
-
Về mặt tâm lý: NNMT thường có những đặc điểm như bức xúc về mặt tâm lý
muốn sử dụng lại chất gây nghiện. Khi cắt cơn nghiện, người nghiện khó kiểm soát
được suy nghĩ và hành vi của mình nên dễ dàng gây ra những tổn thương cho
người khác. Tuy nhiên, khi tỉnh táo, người nghiện nhận thức được tác hại của việc
lạm dụng chất gây nghiện và đôi khi cũng mong muốn cai nghiện để giúp ích cho
bản thân, gia đình và xã hội. Để giúp người nghiện chiến thắng được chính bản
thân mình, vượt qua sự cám dỗ chết người của chất gây nghiện, gia đình, cộng
đồng, xã hội và những nhà chuyên môn cần tích cực trợ giúp.
-
Về mặt kinh tế: Ða số người nghiện sống phụ thuộc vào người khác do họ khó tìm
việc làm. Do cần tiền nên họ tìm mọi cách để có tiền thậm chí trộm cắp, cướp giật.
-
Về quan hệ xã hội: Mối quan hệ xã hội giữa NNMTvới gia đình, người thân bị sụp
đổ. Người thân vừa thương, vừa giận, không đành bỏ mặc hoàn toàn nhưng không
muốn chứa chấp. Do đó quan hệ chủ yếu của NNMT là với bạn bè.
-
Về sinh lý: Biểu hiện của hội chứng cai (khi thiếu thuốc) và những rối loạn về hệ
can thiệp mối quan hệ xã hội để thiết lập sự tương tác giữa con người và môi
trường. Hoạt động này bao gồm 3 nhóm: Phục hồi năng lực đã bị hạn chế, cung
cấp nguồn lực cá nhân, xã hội và phòng ngừa sự suy giảm chức năng xã hội. Như
vậy, CTXH nhằm trợ giúp cá nhân, gia đình, cộng đồng điều chỉnh mối quan hệ
25