DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
GD&ĐT: giáo dục và đào tạo
GV: giáo viên
GVCN: giáo viên chủ nhiệm
HS: học sinh
THPT: trung học phổ thông
HIỆU TRƯỞNG QUẢN LÝ CÔNG TÁC
CHỦ NHIỆM LỚP Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
I. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế cùng với
sự phát triển mạnh mẽ của khoa học kỹ thuật và kinh tế tri thức; Giáo
dục Đào tạo trở thành nền tảng của sự phát triển Khoa học Công nghệ,
tạo nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng nhu cầu phát triển của xã hội
hiện đại và đóng vai trò chủ yếu trong việc nâng cao ý thức dân tộc, tinh
thần trách nhiệm của các thế hệ tương lai.
Điều 27, Luật giáo dục (2010) đã nêu:”Mục tiêu của giáo dục phổ
thông là giúp học sinh phát triển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất,
thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản, phát triển năng lực cá nhân, tính năng
động và sáng tạo, hình thành nhân cách con người Việt Nam xã hội chủ
nghĩa, xây dựng tư cách và trách nhiệm công dân; chuẩn bị cho học sinh
tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sống lao động, tham gia xây dựng và
bảo vệ Tổ quốc”. [5]
Trung học phổ thông là bậc học cuối cùng của giáo dục phổ thông.
Đội ngũ giáo viên quyết định chất lượng giáo dục của nhà trường. Ngoài
việc giảng dạy thì người giáo viên còn phải kiêm thêm công tác chủ
nhiệm lớp. Giáo viên chủ nhiệm lớp ở trường phổ thông nói chung và
trường THPT có vị trí đặc biệt quan trọng trong công tác giáo dục của
nhà trường. Họ thay mặt Hiệu trưởng làm công tác quản lý và giáo dục
toàn diện học sinh của một lớp học, là cố vấn cho các hoạt động tự quản
của tập thể học sinh, người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục
trong và ngoài nhà trường. Họ là một thành phần quan trọng trong mạng
trọng nhất, được thực hiện trước tiên cho công tác quản lý. Khi xây dựng
kế hoạch, hiệu trưởng cần dựa vào các chỉ thị nhiệm vụ năm học và kế
hoạch chung của toàn trường, đồng thời căn cứ vào tình hình thực tế của
nhà trường.
+ Kế hoạch công tác chủ nhiệm lớp bao gồm các yếu tố cơ bản
sau: Xác định được thực trạng của nhà trường; xác định mục tiêu, chỉ
tiêu cụ thể cần đạt tới; xác định nội dung công tác chủ nhiệm lớp; vạch
ra lộ trình, bước đi thích hợp; xác định các lực lượng tham gia, phân
công, phân nhiệm cụ thể.
+ Phân công công tác phù hợp với năng lực, điều kiện, hoàn cảnh
của GVCN sao cho họ có đủ thời gian cho công tác chủ nhiệm lớp, vừa
thực hiện tốt nhiệm vụ giảng dạy cá nhân và đảm bảo cuộc sống.
- Tổ chức chỉ đạo thực hiện công tác chủ nhiệm lớp.
+ Chỉ đạo GVCN thực hiện công tác chủ nhiệm lớp.
+ Xây dựng qui chế cụ thể, rõ ràng về mối quan hệ giữa GVCN
với các lực lượng giáo dục trong và ngoài nhà trường.
+ Bồi dưỡng nâng cao năng lực đội ngũ GVCN thông qua hướng
dẫn, tập huấn, tham quan, cung cấp tài liệu, dự giờ tiết sinh hoạt lớp và
trao đổi kinh nghiệm, đổi mới phương pháp giáo dục.
- Quản lý nội dung triển khai công tác chủ nhiệm lớp.
+ Quản lý những công việc và các hoạt động của GVCN được thể
hiện hằng ngày trong công tác chủ nhiệm lớp như: tìm hiểu HS, lập kế
hoạch chủ nhiệm, tổ chức các loại hình hoạt động,…. Hiệu trưởng theo
4
dõi và nắm bắt tình hình thực hiện kế hoạch chủ nhiệm cũng như công
tác chủ nhiệm của GV để có sự hỗ trợ kịp thời và điều chỉnh kế hoạch
quản lý công tác chủ nhiệm nếu cần.
+ Tổ chức các lực lượng theo dõi, nắm bắt tình hình thực hiện
công tác chủ nhiệm của GVCN. Qua các thông tin về công tác chủ
nhiệm, hiệu trưởng kịp thời có biện pháp hỗ trợ, giúp đỡ GVCN hoàn
phát triển nhân cách tốt đẹp cho học sinh, cấp học này đặt ra những yêu
cầu cao cho việc quản lý và giáo dục học sinh. Người đứng ra đảm
đương công việc quản lý và giáo dục toàn diện học sinh chính là giáo
viên chủ nhiệm. Muốn thực hiện chức năng quản lý giáo dục toàn diện,
đòi hỏi GVCN phải có:
+ Những tri thức cơ bản về tâm lý học, giáo dục học
+ Kỹ năng lập kế hoạch, điều chỉnh kế hoạch giáo dục, tổ chức chỉ
đạo thực hiện kế hoạch một cách khoa học
+ Kỹ năng kiểm tra đánh giá kết quả học tập, rèn luyện của học
sinh
+ Kỹ năng giao tiếp sư phạm: biết cách tiếp cận, phán đoán học
sinh; có khả năng xác lập nhanh chóng, khéo léo, đúng đắn mối quan hệ
với học sinh trong hoạt động dạy học và giáo dục
- GVCN là cố vấn cho các hoạt động tự quản của tập thể học sinh.
Đây là chức năng rất đặc trưng của GVCN mà giáo viên bộ môn không
có. Chức năng này chỉ có thể thực hiện tốt khi giáo viên chủ nhiệm biết
quan tâm tổ chức, xây dựng đội ngũ tự quản của lớp, thường xuyên bồi
6
dưỡng năng lực của đội ngũ này để tăng cường sức mạnh tự quản của
tập thể học sinh.
- GVCN lớp là cầu nối giữa tập thể học sinh với các lực lượng giáo
dục trong và ngoài nhà trường.
+ GVCN là người đại diện cho các lực lượng giáo dục của nhà
trường như là thay mặt hiệu trưởng truyền đạt những chủ trương, yêu
cầu, kế hoạch giáo dục của nhà trường đến với học sinh và tập thể học
sinh.
+ GVCN là người tổ chức phối hợp các lực lượng giáo dục ngoài
nhà trường (gia đình, các đoàn thể xã hội, cộng đồng dân cư, ) trong
giáo dục học sinh là một nguyên tắc giáo dục đồng thời là một trong
những nội dung thực hiện xã hội hoá giáo dục.
sinh được lên lớp thẳng, phải kiểm tra lại, phải rèn luyện thêm về hạnh
kiểm trong kỳ nghỉ hè, phải ở lại lớp; hoàn chỉnh việc ghi sổ điểm và
học bạ học sinh;
đ) Báo cáo thường kỳ hoặc đột xuất về tình hình của lớp với hiệu
trưởng.[2]
1.3.3. Nội dung công tác chủ nhiệm lớp
- Tìm hiểu và nắm vững đối tượng giáo dục.
- Lập kế hoạch chủ nhiệm. Trong nhà trường, hiệu trưởng quản lý
công tác chủ nhiệm của giáo viên chủ nhiệm bằng kế hoạch chủ nhiệm.
8
- Xây dựng lớp thành một tập thể HS vững mạnh có ý nghĩa to lớn
trong công tác giáo dục vì tập thể học sinh vừa là môi trường, vừa là
phương tiện giáo dục hữu hiệu nhất.
- Tổ chức các hoạt động giáo dục toàn diện. Ngoài hoạt động dạy
học trên lớp, GVCN còn phải tổ chức các hoạt động giáo dục vừa nhằm
xây dựng, phát triển tập thể, vừa giáo dục đạo đức, hình thành, phát triển
nhân cách cho học sinh.
Trong thực tế, hiệu trưởng ít quan tâm đến công tác chủ nhiệm,
chủ yếu tập trung vào công tác chuyên môn. Bởi vì phụ huynh học sinh
yêu cầu con em họ phải giỏi về các bộ môn học và đủ khả năng đậu vào
các trường đại học. Bên cạnh đó kế hoạch chung của nhà trường dành
nhiều nội dung về công tác dạy và học. Nhiệm vụ của giáo viên là làm
sao chất lượng bộ môn của mình có kết quả cao. Đánh giá giáo viên
cũng dựa trên kết quả bộ môn mà họ giảng dạy. Cho nên giáo viên ít
quan tâm đến công tác chủ nhiệm lớp.
2. Một số biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm lớp ở trường trung
học phổ thông
2.1. Đặc điểm tình hình
- Trường THPT Võ Trường Toản là một trường ở vùng sâu vùng
xa, điều kiện kinh tế địa phương còn gặp nhiều khó khăn.
- Trước hết bản thân hiệu trưởng tự nâng cao nhận thức và hiểu
biết của mình về công tác chủ nhiệm lớp ở trường THPT qua việc
10
nghiên cứu tài liệu, từ đó quan tâm và giúp đỡ đội ngũ giáo viên. Bởi có
nhận thức đúng đắn và hiểu biết sâu sắc thì mới quản lý tốt công tác này.
- Nâng cao nhận thức cho đội ngũ cán bộ - giáo viên – công nhân
viên về công tác chủ nhiệm lớp qua các buổi họp hội đồng, họp tổ
chuyên môn; cung cấp những tài liệu cần thiết mà mỗi giáo viên chủ
nhiệm cần phải nắm như: mục tiêu cấp học, chương trình giảng dạy các
môn học, kế hoạch năm học của nhà trường và một số văn bản hướng
dẫn khác liên quan đến vấn đề giáo dục và dạy học. Từ đó GVCN thấy
rõ được vai trò, trách nhiệm và nhiệm vụ của mình.
- Tổ chức hội nghị công nhân viên chức hàng năm, giao chỉ tiêu
phấn đấu cho từng lớp và thực hiện ký cam kết giữa giáo viên chủ nhiệm
với hiệu trưởng về từng mặt phấn đấu cụ thể (chất lượng 02 mặt giáo
dục, chỉ tiêu bồi dưỡng học sinh giỏi, giúp đỡ học sinh yếu kém,…).
Qua đó, giáo viên có những định hướng và nhận thức rõ về công tác chủ
nhiệm lớp.
- Tổ chức tốt các buổi sinh hoạt chủ nhiệm về công tác giáo dục
học sinh như: “giáo dục học sinh cá biệt", “xây dựng tập thể lớp vững
mạnh",… để giáo viên có điều kiện trao đổi học tập lẫn nhau trong công
tác giảng dạy, giáo dục học sinh.
2.3.2. Kế hoạch hoá công tác chủ nhiệm lớp
- Trước hết, hiệu trưởng cần phân công đội ngũ GVCN một cách
hợp lý. Khi phân công GVCN, cần dựa vào các yếu tố sau: Năng lực
trình độ của giáo viên; năng lực hiểu biết học sinh về tâm lý lứa tuổi;
năng lực giao tiếp với học sinh và cha mẹ học sinh; năng lực tổ chức các
hoạt động tập thể cho học sinh; năng lực cảm hóa, phán đoán, thuyết
11
phục học sinh; điều kiện hoàn cảnh của từng giáo viên; yêu cầu đảm bảo
qua tổ chủ nhiệm và trình hiệu trưởng ký duyệt.
2.3.3. Thành lập tổ chủ nhiệm lớp
- Hiệu trưởng thành lập tổ chủ nhiệm theo từng khối và đề cử một
tổ trưởng chuyên môn làm tổ trưởng. Công việc của tổ trưởng tổ chủ
nhiệm là tư vấn, hỗ trợ những GVCN khác và đôn đốc việc thực hiện kế
hoạch chủ nhiệm của từng thành viên trong tổ.
- Tổ chủ nhiệm họp mỗi tháng một lần.
2.3.4. Huy động các nguồn lực để thực hiện nội dung công tác chủ
nhiệm lớp
- Nâng cao năng lực cho đội ngũ giáo viên về công tác chủ nhiệm
lớp. GVCN có một vai trò đặc biệt quan trọng trong việc giáo dục nhân
cách học sinh. Việc bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ và các kỹ năng
chủ nhiệm lớp cho giáo viên là việc làm cần thiết cho nên hiệu trưởng là
người lập kế hoạch và thực hiện ngay từ đầu năm học.
* Nội dung bồi dưỡng trong năm học vừa qua: Bồi dưỡng những
tri thức cơ bản về tâm lý; các kỹ năng sư phạm như kỹ năng tiếp cận đối
tượng học sinh, kỹ năng nghiên cứu tâm lý lứa tuổi, kỹ năng đánh giá;
kỹ năng lập kế hoạch chủ nhiệm lớp. Định hướng và giúp GVCN tổ
chức các buổi sinh hoạt lớp phù hợp để thu hút học sinh tham gia, qua
đó giáo dục các em.
13
Tổ chức bồi dưỡng cho GV qua các hình thức kèm cặp, giúp đỡ
theo từng cặp, nhóm, tổ chuyên môn hoặc tổ chủ nhiệm, qua buổi sinh
hoạt chủ nhiệm một tháng một lần.
- Phối hợp các lực lượng trong và ngoài nhà trường để tổ chức thực
hiện công tác chủ nhiệm lớp. Tạo cơ chế hợp lý, tăng cường khả năng
phối hợp huy động cộng đồng dân cư tham gia giáo dục. Kết quả giáo
dục học sinh của lớp chủ nhiệm không chỉ phụ thuộc và sự thống nhất
tác động sư phạm của các lực lượng trong nhà trường mà còn phụ thuộc
vào sự thống nhất tác động giáo dục của các lực lượng ngoài nhà trường
lớp tự quản và thực hiện theo nội dung như là: các lớp phó lên báo cáo
phần việc của mình, lớp trưởng đánh giá tình hình của lớp trong tuần,
các học sinh khác phát biểu. Sau phần việc này lớp trưởng điều hành lớp
thảo luận về đề tài hoạt động ngoài giờ lên lớp của tháng đã được chuẩn
bị trước hoặc các kỹ năng sống. Lúc này giáo viên chỉ ngồi phía dưới
theo dõi. Qua giờ sinh hoạt, các em có cơ hội bày tỏ ý kiến của mình
trước mọi người, có khả năng thuyết trình, có thể trở thành nhà lãnh đạo
trong tương lai. Sắp kết thúc giờ sinh hoạt lớp, giáo viên lên tổng kết,
khen thưởng những học sinh có nhiều tiến bộ, giúp những học sinh còn
mắc khuyết điểm tìm biện pháp khắc phục, và đưa ra đề tài thảo luận
cho giờ sinh hoạt kế tiếp. Tuy nhiên, đối với học sinh được nhắc nhở
nhiều lần nhưng vẫn không thay đổi, giáo viên chủ nhiệm phối hợp với
Đoàn thanh niên tổ chức các hoạt động tập thể như bóng đá, cầu lông,
bóng rổ, bóng chuyền, tập đội hình đội ngũ,… để các em tham gia.
15
Ngoài ra, giáo viên chủ nhiệm tổ chức cho học sinh đổi chỗ ngồi mỗi
tháng một lần để các em có cơ hội giao tiếp tốt.
- Bất cứ một hoạt động nào hay công tác nào thì việc động viên
khen thưởng kịp thời của cấp trên là nguồn cổ vũ lớn lao, là động lực
thúc đầy họ vươn lên trong công tác. Đối với giáo viên chủ nhiệm, tôi
luôn quan tâm tạo điều kiện về cả vật chất lẫn tinh thần, động viên chia
sẻ kịp thời với những niềm vui, nỗi buồn, những lo toan, trăn trở trong
cuộc sống cũng như trong công tác. Qua mỗi đợt thi đua đều có khen
thưởng cho từng tập thể, cá nhân học sinh và giáo viên chủ nhiệm. Xây
dựng danh hiệu giáo viên chủ nhiệm giỏi, tập thể học sinh tiên tiến,…
Ví dụ: giáo viên chủ nhiệm giỏi là giáo viên :
+ Dạy giỏi.
+ Xây dựng tập thể tự quản tốt.
+ Có thành tích trong việc giảm học sinh học yếu. Có phương pháp
tốt trong giáo dục học sinh cá biệt.
tác chủ nhiệm tôi đã thực hiện đề tài này đã đạt được một số kết quả khả
quan. Tập thể hội đồng sư phạm ủng hộ nhiệt tình. Giáo viên cảm thấy
công tác này thú vị, không bị áp lực nhiều, mỗi lúc yêu thương học sinh
hơn vì họ hiểu đặc điểm tâm lý học sinh và học được nhiều từ học sinh.
Khi làm công tác chủ nhiệm cần phải có kế hoạch, có chỉ tiêu phấn đấu,
17
có sự giám sát theo dõi, có kiểm tra, đánh giá sẽ thúc đẩy giáo viên tự
rèn luyện năng lực sư phạm phục vụ cho công việc của mình.
- Phụ huynh học sinh cảm thấy an tâm khi gởi con em mình đến
trường. Con em của họ được chăm sóc chu đáo từ việc học tập đến việc
sinh hoạt trong khuôn viên trường. Mối liên hệ giữa GVCN và phụ
huynh học sinh gắn chặt, từ đó tạo ra sự hợp tác giáo dục học sinh.
- Giáo viên có cơ hội ôn lại kiến thức tâm lý học, giáo dục học mà
đã được học ở trường đại học, đồng thời phát triển kỹ năng giao tiếp.
- Đối với nhà trường, chất lượng giáo dục ngày càng tăng, tạo
được môi trường giáo dục lành mạnh, hưởng ứng tốt phong trào
“Trường học thân thiện, học sinh tích cực”. Xây dựng mối quan hệ nhiều
mặt với các lực lượng trong và ngoài nhà trường, phối hợp nhiều
phương pháp để mang lại hiệu quả cao.
- Kết quả giáo dục:
Hạnh Kiểm
Hạnh kiểm
tốt
Hạnh kiểm
khá
Hạnh kiểm
TB
Hạnh kiểm
yếu
Hạnh kiểm
liệu mang tính cập nhật và thiết thực với thực tế công tác chủ nhiệm lớp
của từng cấp học, bởi mỗi cấp học có đặc thù riêng. Ngoài ra còn có
những chuyên đề giành cho GV vùng sâu vùng xa, vùng khó khăn.
4.2. Đối với Sở Giáo dục và Đào tạo
- Tổ chức tập huấn cho tất cả GVCN vào dịp trước khai giảng với
thời lượng thích hợp (khoảng 3 ngày). Tất cả các GVCN đều được tham
19
dự tập huấn và trực tiếp được bồi dưỡng các chuyên đề cho GVCN từ
các chuyên gia, chuyên viên của Sở GD&ĐT.
- Tổ chức hội nghị GVCN vào cuối năm để tổng kết việc tập huấn
GVCN.
4.3. Đối với nhà trường và giáo viên
- Lãnh đạo nhà trường phải năng động, sáng tạo trong việc vận
dụng các biện pháp quản lý công tác chủ nhiệm.
- Cần nhận thức đúng đắn về vị trí, vai trò và nhiệm vụ của một
GVCN đối với các em học sinh, thế hệ tương lai của đất nước. Do đó
GVCN luôn là tấm gương sáng cho các em và nhân cách của người thầy
để lại mãi mãi trong tâm trí của các em.
- GV nói chung và GVCN nói riêng không ngừng học tập, tự bồi
dưỡng và bồi dưỡng nâng cao chuyên môn quản lý học sinh và chủ
nhiệm lớp, mạnh dạn thực hành vận dụng những điều học được từ sách/
tài liệu; học từ đồng nghiệp.
V. TÀI LIỆU THAM KHẢO
1.Công tác giáo viên chủ nhiệm ở trường trung học phổ thông –
Hà Nhật Thăng – NXB Giáo dục – 1998.
2.Điều lệ trường trung học phổ thông.
3.Giáo trình giáo dục học phổ thông – Trần Thị Hương – ĐHSP
Tp. Hồ Chí Minh – 2009.
4.Khoa học quản lý giáo dục – Trần Kiểm – NXB ĐHSP – 2008.
5.Luật giáo dục (2010), Nxb Chính trị Quốc gia, Hà Nội.