ĐỀ CƯƠNG NGHIÊN CỨU
Đề tài: Nhu cầu hoạt động nhóm trong học tập của học sinh lớp 11 trường
Trung học phổ thông Trương Định - Hoàng Mai - Hà Nội
A-
LỜI MỞ ĐẦU
1.
Lý do chọn đề tài
Trong xã hội hiện nay, với sự toàn cầu hóa ngày càng gia tăng, khoa học ki
thuật ngày càng phát triển, khối lượng kiến thức của nhân loại càng gia tăng thì yêu
cầu làm việc nhóm là một xu thế làm việc phát triển và hiệu quả trong mọi linh vực
hoạt động. Bởi lẽ không ai tự mình có thể nắm vững mọi thông tin của tất cả các
linh vực, điều đó có nghia không phải công việc nào, vấn đề nào hay tình huống
nào chúng ta đều có thể tự mình giải quyết có hiệu quả. Nhất là trong quy trình lao
động, sản xuất cần có sự phối hợp nhịp nhàng giữa các thành viên trong các nhóm
và giữa các nhóm với nhau. Nhóm không chỉ là môi trường giúp cho các nhân phát
triển mà nó còn là công cụ đổi mới và phát triển xã hội.
Giáo sư Viện si Phạm Minh Hạc đã nói: “ Nhà trường hiện đại ngày nay là nhà
trường hoạt động.dùng phương pháp hoạt động…Hoạt động cùng nhau, hoạt động
hợp tác giữa thầy và trò…có tác dụng rất lớn”. Nhà trường hiện nay phải coi trọng
việc tổ chức cho học sinh, sinh viên hoạt động độc lập theo nhóm. Hoạt động nhóm
trong và ngoài giờ học là hoạt động thiết thực, giúp học sinh tham gia tích cực vào
quá trình học tập, giúp các em nắm vững và đào sâu tri thức, biết lắng nghe và học
cách suy nghi về những ý kiến, quan điểm khác nhau của mọi người, biết chia se
kinh nghiệm, đưa ra ý kiến và cùng nhau giải quyết những vấn đề chung. Hoạt
động nhóm là nơi mọi người thỏa mãn nhu cầu học hỏi, khuyến khích sự độc lập,
tự chủ, thái độ có trách nhiệm, kích thích tinh thần hợp tác, giúp học sinh nâng cao
Xuất phát từ những lí do trên chúng tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nhu cầu học
nhóm của học sinh lớp 11 trường Trung học phổ thông Trương Định, quận
Hoàng Mai, Hà Nội”.
Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu lý luận việc học nhóm của học sinh lớp 11 THPT và điều tra thực
trạng để từ đó xác định tác động của việc học nhóm tới kết quả học tập của học
sinh lớp 11 trường THPT Trương Định, trên cơ sở đó đề xuất một số biện pháp
nhằm nâng cao hiệu quả học tập với hình thức học nhóm của học sinh.
3. Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1.
Đối tượng nghiên cứu: Nhu cầu học nhóm của học sinh trường THPT
Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
3.2.
Khách thể nghiên cứu: Học sinh lớp 11 trường THPT Trương Định,
quận Hoàng Mai, Hà Nội.
4. Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1.
Nghiên cứu cơ sở lý luận nhu cầu học nhóm của học sinh lớp 11
trườngTHPT.
Khảo sát thực trạng nhu cầu học nhóm của học sinh lớp 11 trường
2.
4.2.
THPT Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà Nội.
Đề xuất một số biện pháp cải tiến hoạt động học nhóm nhằm đáp ứng
nhu cầu của học sinh trường THPT Trương Định, quận Hoàng Mai, Hà
Nội.
tra để hỗ trợ và đảm bảo tính khách quan trong quá trình nghiên cứu.
6.2.2.
Phương pháp quan sát
Quan sát các hoạt động của học sinh đặc biệt trong các giờ học mà các em có
làm việc theo nhóm hay các buổi học nhóm vào giờ phụ đạo để thấy được thực
trạng, cách tổ chức, tiến hành ra sao. Phương pháp này hỗ trợ chúng tôi thấy được
mức độ tích cực, hứng thú của các em khi tham gia học nhóm để nhận biết được
nhu cầu học nhóm của các em.
6.2.3.
Phương pháp phỏng vấn sâu
4.3.
Phương pháp này giúp bổ sung cho những thông tin còn thiếu ở phương pháp
điều tra bằng phiếu hỏi. Phương pháp này giúp người điều tra thâm nhập được vào
thực tế nhu cầu học nhóm của học sinh hiện nay để thu được những thông tin chính
xác hơn về nhu cầu học nhóm cũng như thực trạng của nó. Cuộc phỏng vấn có thể
được tiến hành dưới nhiều hình thức như trò truyện tự do hoặc được chuẩn hóa
bằng những câu hỏi đưa trước để người hỏi được trả lời một cách có chuẩn bị.
6.2.4.
Phương pháp thống kê toán học
Để lượng hóa kết quả nghiên cứu, chúng tôi sử dụng phương pháp thống kê
toán học. Phương pháp này được thực hiện nhằm sử lý số liệu điều tra, tìm ra và
phân tích mối tương quan giữa các yếu tố được đặt ra trong bảng hỏi.
B-
PHẦN NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
CHƯƠNG 1
ngoài mà bao gồm cả những yếu tố bên trong - đó là nhu cầu của cơ thể tiếp nhận
kích thích đó. Năm 1932, E.Tolman đã đưa ra khái niệm “Những ham muốn thứ
nhất thúc đẩy hành động nhằm thỏa mãn nhu cầu bản năng sinh vật để tồn tại của
con người như: thức ăn, quần áo, nhà cửa…còn nững ham thích thứ hai là những
kích thích sinh ra từ hoàn cảnh xã hội bên ngoài như: tính tò mò, lòng tự trọng…”
Năm 1951, ông đưa ra hệ thống mới của nhu cầu gồm ba loại:
- Loại 1: Nhu cầu thỏa mãn sự đói khát, tình dục, tránh đau đớn và chết.
- Nhu cầu có quan hệ với xã hội, bao gồm: tính bầy đàn, sự thống trị, sự
phụ thuộc…
- Loại 3: Nhu cầu riêng mang tính cá thể như những mong muốn, mục
đích, tính thẩm mỹ, tính sáng tạo…
1.1.2. Quan điểm của tâm lý học Gestal (hay còn gọi là tâm lý học cấu trúc)
Học thuyết”Tâm lý học Gestal” ra đời ở Đức thuộc trường phái tâm lý học duy
tân khách quan. Các tâm lý học cấu trúc cho rằng bản chất của các hiện tâm lý đều
vốn có tính cấu trúc, vì vậy ngiên cứu tâm lý phải theo hướng tổng thể với cả một
cấu trúc chỉnh thể. Thực chất, tính cấu trúc của hiện tâm lý chỉ là sự phản ánh cấu
trúc của các sự vật hiện tượng trong thế giới khách quan chứ không phải vốn có.
Trên cơ sở thực nghiệm của các nhà tâm lý học, Gestal đã khẳng định rằng tâm lý,
ý thức của con người được nảy sinh do sự biến động của “sự phân phối lực
trường” vốn có sẵn ở não người, không có quan hệ gì với ngôn ngữ, với hiện thực
khách quan và hoạt động của con người.
Với các nhà nghiên cứu tâm lý nổi tiếng: W.Wertheimer, Kohler, Kolka, đặc
biệt là Kutrtlevan với các nghiên cứu của ông về vấn đề động cơ và nhân cách, tâm
lý học xã hội đều có đề cập đến nhân tố thúc đẩy hoạt động của con người, không
chỉ có xung năng mà còn có cả nhu cầu xã hội. Khi xuất hiện một nhu cầu nào đó,
xuất hiện đồng thời liên tưởng có liên quan đến các nhu cầu đó của chủ thể. Với
mọi ý nghi của con người đều có liên quan đến các nhu cầu khác nhau, vì vậy, tạo
ra một chuỗi những căng thẳng là nguồn gốc tính cực của hoạt động, đồng thời
thể xã hội, nghia là thông qua hoạt động và giao tiếp thì nhân cách con người mới
được hình thành và phát triển. Sự hình thành nhu cầu và hành vi có liên quan đến
bản chất xã hội của tâm lý người, kể cả nhu cầu sinh vật của con người (trong đó
có bản năng và ham muốn) cũng được xã hội hóa theo mức độ phát triển của xã hội
loài người.
D.N.Unadze - người sáng lập ra thuyết tâm thế đã đề cập đến khái niệm nhu
cầu và ý nghia của nó đối với hoạt động sống của sinh vật. Theo ông, nhu cầu là
nguồn gốc của tính tích cực. Với khái niệm này thì khái niệm nhu cầu rất rộng, nó
đề cập đến tất cả mọi cái mà cơ thể sống cần đến cho sự tồn tại và phát triển của
mình. Ông cho rằng, chủ thể hướng vào môi trường bên ngoài nhằm mục đích thỏa
mãn nhu cầu trước mắt thì một tình trạng nhất định xuất hiện, gây ra một chủ thể
tâm thế nhất định và thông qua tâm thế này hướng dẫn toàn bộ hành vi tiếp theo.
Đồng thời với những nhu cầu mang tính bản năng sinh vật (đói, rét…) mà ông gọi
là những “nhu cầu bậc thấp”, thì con người còn có những nhu cầu bậc cao phụ
thuộc vào hoàn cảnh sống, giáo dục và phụ thuộc vào những nghiệm thể mà con
người thấy có ý nghia.
A.N.Leonchiev đã đưa ra khái niệm về động cơ và nhu cầu. Ông nói: “…trước
khi thỏa mãn lần đầu tiên thì nhu cầu “chưa được biết đến” đối tượng của nó, đối
tượng này còn cần phải được phát lộ ra. Chỉ nhờ có sự phát lộ ra vậy thì nhu cầu
mới có được tính vật thể của nó, còn vật được nhận ra thì có chức
1.1.4.
năng thúc đẩy, chức năng hướng dẫn hoạt động…” Ông cho rằng cái bị biến mất
trong tâm lý học không phải là nhu cầu mà là cái trìu tượng về nhu cầu, những
trạng thái “trần trụi” của chủ thể không chứa đựng đối tượng của mình. Từ đó ông
đưa ra sơ đồ thể hiện mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt động:
Nảy sinh
Thúc đẩy
sự gắn bó của cá nhân đối với thế giới xung quanh, sự phụ thuộc của cá nhân vào
thế giới đó”. Mặt khác “khi xuất hiện một nhu cầu thì chủ thể sẽ hướng trí lực của
mình vào việc tìm kiếm các phương thức, điều kiện để thỏa mãn nhu cầu đó, vì vậy
nảy sinh đòi hỏi với tư cách là phương thức thỏa mãn nhu cầu. Nhu cầu xuất hiện
với cường độ mạnh, thúc đẩy con người hoạt động nhằm thỏa mãn nó. Khi nhu cầu
không được thỏa mãn ở chủ thể sẽ xuất hiện trạng thái căng thẳng, cảm xúc âm
tính”.
Như vậy, các nhà Tâm lý học trong nước đã khẳng định nhu cầu là hình thức
tồn tại giữa cơ thể sống và thế giới xung quanh, là nguồn gốc của tính tích cực.
Mọi hoạt động của con người đều là quá trình tác động vào đối tượng nhằm thỏa
mãn nhu cầu. Với ý nghia đó, nhu cầu được hiểu là trạng thái cảm nhận được sự
cần thiết của đối tượng đối với sự tồn tại và phát triển của mình và xuất hiện như là
nguồn gốc tạo ra tính tích cực của hoạt động. Nhu cầu được thỏa mãn sẽ tạo ra nhu
cầu mới ở mức độ cao hơn, con người sau khi hoạt động để thỏa mãn nhu cầu này
sẽ làm phát triển nó và nảy sinh ra nhu cầu khác cao hơn nữa.
1.3.
Một số khái niệm cơ bản của nhu cầu
1.3.1.
Khái niệm chung về nhu cầu
1.3.1.1.
Định nghia về nhu cầu
Để tồn tại và phát triển, mỗi cá nhân cần có những điều kiện và phương tiện
nhất định, không thể thiếu do môi trường bên ngoài mang lại cho mình, sự cần
thiết đó chính là nhu cầu. Nói đến nhu cầu là nói đến sự đòi hỏi của một cá nhân về
một cái gì đó ở ngoài nó, cái đó có thể là một sự vật, một hiện tượng…
Từ điển Tiếng Việt, Hoàng Phê (chủ biên) cho rằng: Nhu cầu là đòi hỏi của
đời sống, tự nhiên, xã hội.
Nhu cầu là trạng thái tâm lý làm rung động người ta thấy một sự cần thiết nhất
định nào đó về một cái gì đó. A.V.covaliov đã đưa ra định nghia nhu cầu với tư
cách là nhu cầu của nhóm xã hội: “Nhu cầu là sự đòi hỏi của các cá nhân và của
phải mọi sự cần thiết đều là nhu cầu. Điều này một lần nữa khẳng định rằng nhu
cầu không tách rời khỏi hoạt động, nhờ có hoạt động mà một sự cần thiết trừu
tượng nào đó mới được vật chất hóa, mới trở thành có máu, có thịt. Nảy sinh trong
quá trình hoạt động, nhu cầu đồng thời trở thành nhân tố kích thích trực tiếp đối
với hoạt động.
Do vậy, nhu cầu bao giờ cũng có tính đối tượng. Đối tượng của nhu cầu là tất
cả những yếu tố vật chất và tinh thần trong thế giới hiện thực có thể thỏa mãn được
yêu cầu để tồn tại và phát triển của các nhân. Nhu cầu không tách rời khỏi hoạt
động, mà hoạt động của con người luôn có đối tượng. Khi chưa có đối tượng, nhu
cầu chưa tồn tại theo đúng nghia của nó, lúc ấy ở cá nhân chỉ tồn tại trạng thái
thiếu thốn hoặc mong muốn một cách mơ hồ. Khi bắt gặp sự vật, đối tượng có
chứa đựng đối tượng có khả năng thỏa mãn trạng thái thiếu thốn của cơ thể, khi
nhu cầu mới thực sự xuất hiện.
Nội dung của nhu cầu do những điều kiện và phương thức thỏa mãn nó quyết
định. Mỗi các nhân đều được đặt trong một điều kiện sống nhất định, rộng hơn là
một điều kiện xã hội lịch sử cụ thể.
Điều kiện sinh hoạt vật chất là cơ sở tạo nên nội dung của nhu cầu. Vì thế xem
xét nội dung của nhu cầu có thể cho ta thấy được những điều kiện sống bên ngoài
của cá nhân đó. Mặt khác, thông qua phương thức thỏa mãn nhu cầu chúng ta cũng
có thể đánh giá được điều kiện sống, điều kiện lịch sử xã hội mà chủ thể của nhu
cầu đại diện. C.Mac viết: “đói là đói, song cái được thỏa mãn bằng thịt chín với
cách dùng dao và dia khác hẳn với cái đói buộc phải nuốt bằng thịt sống với dùng
tay, móng và răng”.
Nhu cầu của con người được nảy sinh và phát triển qua hoạt động và nhờ vào
hoạt động: “muốn sống trong thế giới xung quanh, con người phải tạo ra các hoạt
động đối với thế giới đó, sản xuất ra các đối tượng nhằm thỏa mãn nhu cầu này hay
nhu cầu khác. Đó chính là cuộc sống của con người”. Về mối quan hệ tượng sinh
giữa nhu cầu và hoạt động F.Ăngghen đã viết: “Hoạt động lịch sử bản chất nhất
Nhu cầu bậc cao thì đòi hỏi đối tượng và phương thức thỏa mãn rất cao: ăn
phải ngon, mặc phải đẹp, được người khác tôn trọng, thừa nhận…
Rõ ràng, nhu cầu bậc cao mang ý nghia xã hội nhiều hơn mang tính chất cá
thể. Có những nhu cầu tự nhiên như được xã hội hóa ở nước đó nhất định sẽ trở
nên văn minh, văn hóa như: văn hóa ẩm thực, thiết kế thời trang, trang trí mỹ thuật,
phong tục dựng vợ gả chồng…
- Nếu căn cứ theo đối tượng thỏa mãn nhu cầu thì phân ra làm hai loại: nhu
cầu vật chất và nhu cầu tinh thần.
Một trong những lý thuyết nhu cầu được nhắc đến nhiều nhất là lý thuyết
phân cấp nhu cầu của nhà Tâm lý học Abraham Baslaow. Ông nhìn nhận các nhu
cầu của con người theo hình thái phân cấp, sắp xếp theo một thứ tự tăng dần từ nhu
cầu thấp đến nhu cầu cao nhất và ông kết luận rằng nếu nhu cầu được thỏa mãn thì
loại nhu cầu này không còn là động cơ thúc đẩy nữa. Những nhu cầu cơ bản của
con người do Maslow xác định theo thứ tự tăng dần về tầm quan trọng:
Nhu cầu tự khẳng định
5
(Nhu cầu về tự thể hiện bản thân, khả năng của mình)
Nhu cầu được tôn trọng
Nhu cầu
4
bậc cao
(Cần có cảm giác được tôn trọng, kính mến, tin tưởng)
Tìm kiếm các mối quan hệ bạn bè: Muốn hữu nghị, tình yêu, ý chí tốt lành,
thiện cảm với người khác, đau khổ khi không có quan hệ bạn bè, mong
muốn mọi người xích lại gần nhau, khắc phục các trở ngại.
4. Bỏ rơi những người khác: Muốn khước từ những cố gắng xích lại gần nhau,
hay trỉ trích, thô tục, “không dây” với người khác, vô cùng biệt lập, không
phát biểu.
5. Tự trị: Thể hiện sự nổi bật vượt ra bất kỳ sự kìm kẹp nào, muốn thoát khỏi
sự bảo trợ, quy chế, quy định công việc nặng nề. Hay đỏng đảnh trong quan
hệ qua lại với những người khác, vô độ, lấy mình làm trung tâm, thích thay
đổi vị trí hành trình.
6. Phục tùng thụ động: Tuân thủ thụ động sức mạnh, chấp nhận số phận, thừa
nhận sự kém cỏi của mình.
7. Nhu cầu về sự tôn trọng: ủng hộ, thể hiện sự tôn trọng với những người khác
(cha mẹ, người lãnh đạo, thầy giáo, người xuất chúng..)
8. Nhu cầu thành đạt: Muốn chiến thắng, đánh bại, trội hơn những người khác,
thu hút sự chú ý về mình.
9. Nhu cầu trở thành trung tâm của sự chú ý: Thể hiện nguyện vọng muốn
chinh phục những người khác, thu hút sự chú ý về mình.
10. Nhu cầu vui chơi: Thích chơi bất kỳ hoạt động nguy hiểm nào, muốn giải
trí, chè chén bù lu, thích bông đùa.
11. Ích kỷ: Đặt quyền lợi của mình trên hết, muốn hài lòng về mình.
12. Tính xã hội: lãng quên quyền lợi riêng vì quyền lợi của nhóm.
13. Nhu cầu tìm người bảo trợ: Chờ mong lời khuyên nhủ, sự giúp đỡ, bất lực,
tìm sự an ủi, khuyên nhủ, đối xử nhẹ nhàng.
14. Nhu cầu giúp người: Là người bạn của những ke đau buồn “có nguyện vọng
quan tâm đến người khác, giúp đỡ vật chất , cho phép cư trú…”
15. Nhu cầu bị trách phạt: Kìm nén những xúc động của mình nhằm tránh bị
trách phạt hoặc bị lên án. Có nhu cầu chú ý đến dư luận xã hội, tự chủ, nhã
nhặn, giữ gìn quy tắc chung.
16. Nhu cầu tự vệ: Luôn luôn chuẩn bị, đề phòng đầy đủ trong quan hệ với địch
thân chủ thể đã nhận thức rõ cả về mục đích và phương tiện thực hiện mục đích
của hành động.
19.
Nếu căn cứ vào tính tích cực, nhu cầu biểu hiện ở ba mức độ, mỗi mức độ có
sự tác động đến con người một cách khác nhau.
Lòng mong muốn là mức độ thấp nhất, là nhu cầu có cường độ rất yếu ớt, chưa
đủ sức mạnh để thúc đẩy con người hoạt động, hoặc có thì cũng rất mờ nhạt, dễ bỏ
cuộc nửa chừng.
Lòng say mê là mức độ thứ hai với cường độ khá mãnh liệt của nhu cầu. Nó có
sức mạnh lớn lao thúc đẩy con người hoạt động tích cực, hăng say, nhiệt tình.
Đam mê là nhu cầu ở mức độ rất cao, vượt ngưỡng gắn bó với đối tượng ở mức
không thể thiếu, bất chấp ngoại cảnh, thậm chí mất đi sức mạnh của lý trí.
1.3.3.
Sự hình thành nhu cầu
Quan điểm của nhà Tâm lý học phương tây cho rằng nhu cầu sinh vật sẽ quyết
định đến nhu cầu xã hội. Nhu cầu sinh vật là cơ bản và có nguồn gốc bẩm sinh, con
người không thể ý thức được và can thiệp bằng ý chí.
Tuy nhiên, A.N Leonchiev và các nhà tâm lý học Macxit khẳng định mối quan
hệ chặt chẽ giữa nhu cầu với hoạt động: “Nhu cầu là nguồn gốc tính tích cực của
hoạt động, nhưng bản thân nhu cầu lại nảy sinh, hình thành và phát triển trong hoạt
động”. A.N Leonchiev đã đưa ra hồ sơ giải thích mối quan hệ giữa nhu cầu và hoạt
động.
Hoạt động Nhu cầu Hoạt động
Ông giải thích như sau: “thoạt đầu nhu cầu chỉ xuất hiện một điều kiện, một
tiền đề cho hoạt động. Nhưng ngay khi chủ thể bắt đầu hành động thì lập tức xảy ra
Giai đoạn khởi đầu: Xuất hiện khi con người cảm thấy mất cân bằng.
Trạng thái đó gắn với cảm xúc rất khó chịu, bứt rứt, háo hức. Do vậy,
thúc đẩy con người tìm tòi sáng tạo.
- Giai đoạn chiếm linh và hưởng thụ đối tượng: lúc này xuất hiện những
cảm xúc sung sướng, vui ve. Giai đoạn này là nguyên nhân của tính tích
cực của con người, thúc đẩy con người hăng say hoạt động.
- Giai đoạn nhu cầu được thỏa mãn bão hòa: lúc này xuất hiện cảm giác
nhàm chán đối tượng cũ do con người đã bão hòa đối tượng này. Đây là
lúc bắt đầu một nhu cầu mới, thúc đẩy con người hoạt động để chiếm
linh đối tượng mới. Như vậy cuộc đời con người là một dòng hoạt động
vô tận để thỏa mãn nhu cầu vô tận.
2. Một số khái niệm của đề tài
2.2.
Hoạt động
2.2.1. Khái niệm hoạt động
Có nhiều cách định nghia khác nhau về hoạt động:
- Thông thường người ta coi hoạt động là sự tiêu hao năng lượng thần
kinh và cơ bắp của con người khi tác động vào hiện thực khách quan,
nhằm thoã mãn những nhu cầu của mình .
- Về phương diện triết học, tâm lý học người ta quan niệm hoạt động là
phương thức tồn tại của con người trong thế giới.
-
Như vậy “hoạt động là mối quan hệ tác động qua lại giữa con người với thế
giới(khách thể) để tạo ra sản phẩm cả về thế giới cả về phía con người(chủ thể)”.
Hoạt động là phương thức tồn tại của con người thể hiện hai cấp độ:
- Cấp độ vi mô: là cấp độ họat động của cơ thể, các giác quan, các bộ phận
tuân theo quy luật sinh học. Nhờ có hoạt động mà con người tồn tại và phát
triển, nhưng họat động ở cấp độ này không phải là đối tượng của tâm lý học.
- Cấp độ vi mô: là hoạt động có đối tượng của con người với tư cách là
phía khách thể vào bản thân mình những quy luật bản chất của thế giới
để tạo thành tâm lý,ý thức, nhân cách của bản thân, bằng cách chiếm
linh thế giới. Quá trình chủ thế hoá còn gọi là quá trình “nhập tâm”.
Như vậy là trong quá trình hoạt động, con người vừa tạo ra sản phẩm về phía
thế giới, vừa tạo ra tâm lý của mình, hay nói cách khác đi tâm lý nhân cách được
bộc lộ và hình thành trong hoạt động.
Những đặc điểm của hoạt động
2.2.2.
-
Hoạt động bao giờ cũng là hoạt động có đối tượng
-
Hoạt động bao giờ cũng có chủ thể
-
Hoạt động bao giờ cũng có mục đích
-
Hoạt động bao giờ cũng tiến hành theo nguyên tắc gián tiếp. Trong hoạt
động con người gián tiếp tác động đến khách thể qua hình ảnh tâm lý ở
trong đầu, gián tiếp qua việc sử dụng công cụ lao động và sử dụng
phương tiện ngôn ngữ.
Như vậy, công cụ tâm lý, ngôn ngữ, công cụ lao động giữ chức năng trung gian
-
-
Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng “nhóm cộng đồng có hai người
trở lên, giữa các thàng viên có chung lợi ích và mục đích, có sự tương
tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình hoạt động chung”.
Theo A.V.Ptrovski “nhóm là một cộng đồng người thống nhất với nhau
trên cơ sở một hay một số dấu hiệu chung có quan hệ với việc thực hiện
hoạt động chung và giao tiếp của họ”.
Với Marvin Shaw, nhà tâm lý học phương Tây, ông cho rằng “nhóm là
cộng đồng người có từ ba người trở lên, giữa họ có sự tác động tương
hỗ và ảnh hưởng lẫn nhau, tồn tại trong một thời gian nhất định, cùng
nhau thực hiện hoạt động chung”.
Theo Trần Hiệp: “nhóm là một cộng đồngcó từ hai ngừoi trở lên, giữa
họ có một sự tương tác và ảnh hưởng lẫn nhau trong quá trình thực hiện
hoạt động chung”.
Ngoài ra, còn một số quan điểm khác về nhóm như “nhóm là một tổ
chức bao gồm những thành viên được thành lập và tồn tại vì mục đích
chung” hay “nhóm là tập hợp những cá nhân có các kinh nghiệm bổ
sung cho nhau, cùng nhau cam kết chịu trách nhiệm thực hiện một mục
tiêu chung”.
Như vậy, chúng tôi quan niệm “nhóm là tập hợp từ hai người trở lên, giữa họ có
sự tương tác lẫn nhau trong quá trình thực hiện hoạt động chung nhằm đạt được
mục tiêu chung của nhóm”.
2.3.2.
Các đặc tính cơ bản của nhóm
c.
Có các quy tắc chung
“Những quy định chung của nhóm là đặc tính quan trọng nhất trong việc giúp
cho nhóm ổn định và vận hành một cách có hiệu quả”. Tập thể nào khi làm việc
chung cũng cần xây dựng nội quy để mọi người tuân theo.
Quy tắc là những luật lệ hướng dẫn hành vi mà nhóm đặt ra. Những quy tắc này
có thể được thông báo, xác định một cách chính thức hoặc khi được nhóm viên
mặc nhiên chấp nhận không cần hình thức. Đối với các quy tắc này thì không thể
áp đặt mà qua quá trình gắn bó với nhau, các thành viên sẽ phát hiện và tuân thủ.
d.
Vai trò của từng thành viên
Mỗi cá nhân của nhóm có những vai trò riêng góp phần giúp nhóm hoạt động
hiệu quả. Thường thì các vai trò là kết quả của quá trình phân chia trách nhiệm dựa
vào khả năng chuyên môn cũng như những điều kiện khác. Vai trò là khuôn mẫu
các hành vi quen thuộc mà cá nhân phát triển đe phục vụ nhóm. Các vai trò này từ
từ có trở thành nề nếp tùy đặc tính nhân cách của nhóm viên và nhu cầu chung của
nhóm. Vì thế vai trò không luôn ở thế tinh mà ở thế chủ động tùy vào các tình
huống khác nhau. Một thành viên cùng một lúc có thể giữ nhiều vai trò.
Rõ ràng, nếu chỉ tập hợp một số lượng người nào đó mà giữa họ không có mục
tiêu chung, không có sự tương tác, không có sự chia se…nghia là “giữa họ không
có hoạt động chung thì đó không phải là nhóm, mà là đám đông”. HĐN tạo nên sự
liên kết, htúc đẩy tinh thần hợp tác, phụ thuộc giữa các thành viên, mỗi người cố
gắng thể hiện tốt vai trò của mình, cùng chia se trách nhiệm, cùng nhau hỗ trợ và
cam kết giải quyết vấn đề chung của nhóm. Khi các nhóm hoạt động hiệu quả nhất
3.
Họ đóng góp kinh nghiệm, tài
năng của mình vào sự thành
công của cả nhóm.
3.
Họ chỉ hoàn thành nhiệm vụ
của mình, không biết hoặc
không để ý đến người khác.
4.
Các thành viên trung thực,
mạnh dạn bộc lộ ý kiến, tôn
trọng, lắng nghe người khác,
đặt câu hỏi và sẵn sàng thay
đổi quan điểm.
4.
Các thành viên không tin
tưởng nhau. Nếu có ý tưởng
họ thường giữ cho riêng
mình, không chia se, không
đón nhận sự gợi ý của người
khác.
5.
Theo từ điển tâm lý học của Vũ Dũng, hoạt động của một nhóm người có những
đặc điểm sau:
-
-
Cùng tham gia về phương diên không gian và thời gian của các thành
viên, tạo ra khả năng tiếp xúc cá nhân trực tiếp giữa họ với nhau, trong
đó có sự trao đổi hành động, thông tin cũng như khả năng nhận thức lẫn
nhau.
Có mục tiêu chung, trong đó kết quả hoạt động được dự đoán trước phù
hợp với lợi ích chung, góp phần thỏa mãn nhu cầu của mỗi thành viên.
Chúng tôi quan niệm rằng “hoạt động nhóm là hoạt động ở đó có sự tương tác
qua lại giữa các thành viên. Qua đó, các thành viên có cơ hội hợp tác, chia sẻ và
hỗ trợ lẫn nhau nhằm đạt được mục tiêu chung của nhóm”.
Nhóm chỉ hoạt động hữu hiệu khi:
Mục tiêu rõ ràng đối với mọi người và được mọi người chấp nhận.
Truyền thông hai chiều, ý tưởng cũng như cảm xúc được bộc lộ.
Tiến trình lãnh đạo được chia se, phân phối cho nhiều người từ đó có sự
tham gia cao.
Thủ tục lấy quyết định phù hợp với tình huống.
Trọng tâm đặt ở con người và các mối quan hệ đoàn kết giữa họ, sự đoàn kết
có được nhờ sự chấp nhận.
Khả năng giải quyết vấn đề cao.
Hiệu quả được cả nhóm đánh giá.
Có sự tương tác giữa các thành viên.
2.3.4. Phân loại nhóm trong học tập
-
Nhóm kết hợp: tất cả các thành viên trong nhóm đều phải làm tất cả các công
việc
Ưu điểm: thành viên biết được hết các kiến thức; sử dụng tối đa thời gian.
Nhược điểm: mất nhiều thời gian, công sức, dễ gây tình trang chép bài của
nhau.
Như vậy, mỗi hình thức nhóm hoạt động đều có ưu và nhược điểm riêng. Vì vậy,
khi áp dụng các hình thức trên, các nhóm cần phải lựa chọn linh hoạt để đem lại
hiệu quả cao nhất.
2.3.5.
Hoạt động nhóm trong học tập
Từ những phân tích về nhóm và hoạt động nhóm, chúng tôi nhận định rằng
“hoạt động nhóm trong học tập chính là hình thức học tập theo nhóm mà ở đó các
thành viên trong nhóm phải hợp tác cùng nhau để hoàn thành nhiệm vụ học tập”.
Hoạt động nhóm trong học tập chỉ đạt hiệu quả khi các thành viên trong nhóm:
2.4.
Xác định mục tiêu chung của nhóm
Lắng nghe và chấp nhận người khác
Trình bày quan điểm của mình
Thảo luận và giải quyết vấn đề chung của nhóm
Hợp tác và chia se
Học sinh trung học phổ thông
“Học sinh Trung học phổ thông” là thuật ngữ để chỉ nhóm học sinh đầu tuổi
-
Góp phần xây dựng tinh thần đông đội
Góp phần xây dựng tinh thần đồng đội, sự tương hỗ gắn kết giữa các
thành viên trong nhóm nhằm hướng đến một mục tiêu chung.
Đáp ứng nhu cầu học tập các nhân, phù hợp với việc học, hướng tới
người học; khuyến khích tính độc lập tự chủ trong học tập. Các thành
viên được đưa ra quan điểm riêng của mình về chủ đề thảo luận, từ đó
phát biểu tư duy độc lập và trao đổi lẫn nhau trong nhóm.
Do có sự bàn bạc, thảo luận và sàng lọc thông tin mà sản phẩm của
nhóm là sản phẩm của trí tuệ tập thể, tập hợp kiến thức phong phú và
phù họp nhất. Từ đó giúp các thành viên hiểu và nhớ kiến thức lâu hơn.
Tăng cường khả năng hòa nhập, tinh thần học hỏi, lắng nghe cũng như
khả năng phản biện cũng như thông qua phần trình bày của mình và
phản hồi của các thành viên khác.
Tạo cơ hội cho các thành viên rèn luyện các kỹ năng như: kỹ năng
thuyết trình trươc đám đông, kỹ năng giao tiếp, kỹ năng tổ chức các
buổi họp; tạo tiền đề cho làm việc trong môi trường tập thể đạt hiệu
quả.