vận dụng một số phương pháp dạy học tích cực vào giảng dạy bài thơ sóng của xuân quỳnh cho học sinh lớp 12 trường thpt gia phù, phù yên, sơn la - Pdf 23

LỜI CẢM ƠN

Em chân thành cảm ơn Tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng đã hƣớng dẫn nhiệt
tình và tạo mọi điều kiện thuận lợi để em sớm hoàn thành khoá luận này.
Em xin cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ giáo viên và học sinh Trƣờng
THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La, đã tạo điều kiện cho em tiến hành khảo sát
thực tế dạy và học tác phẩm trữ tình để em hoàn thành kháo luận này.
Vì bƣớc đầu nghiên cứu, thời gian có hạn, kinh nghiệm và năng lực bản
thân còn hạn chế nên quá trình nghiên cứu khoá luận không tránh khỏi những
thiếu sót. Em rất mong nhận đƣợc ý kiến đóng góp của các thầy cô và các bạn
sinh viên.
Em xin trân trọng cảm ơn !
Sơn La, tháng 5 năm 2014
Sinh viên Đỗ Thị Mai

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT 1. GV: Giáo viên

8. Đóng góp của khoá luận 5
9. Cấu trúc của khoá luận 6
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI 7
1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài 7
1.1.1. Tính tích cực 7
1.1.2. Phƣơng pháp dạy học tích cực 7
1.1.3. Khái niệm thơ trữ tình 7
1.2. Đặc điểm thi pháp của thơ trữ tình với việc dạy học thơ trong nhà trƣờng
phổ thông 8
1.2.1. Đặc điểm về nội dung 8
1.2.2. Đặc điểm về hình thức 10
CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 25
2.1. Khảo sát thực trạng dạy học thơ trữ tình ở Trƣờng THPT Gia Phù Phù Yên
– Sơn La 25
2.1.1. Mục đích khảo sát 25
2.1.2. Nội dung khảo sát 25
2.1.3 Đối tƣợng khảo sát 25
2.1.4. Thời gian, địa bàn khảo sát 25
2.1.5. Cách thức khảo sát 25
2.2. Đánh giá kết quả khảo sát 25
2.2.1. Thực trạng dạy bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ở Trƣờng THPH Gia Phù -
Phù Yên - Sơn La 25
2.2.2. Thực trạng học bài thơ Sóng - Xuân Quỳnh ở Trƣờng THPT Gia Phù -
Phù Yên - Sơn La 28
2.3. Một số kết luận qua dạy học tác phẩm Sóng - Xuân Quỳnh 30
2.3.1. Ƣu điểm 31
2.3.2. Hạn chế và nguyên nhân 32
CHƢƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TÍCH CỰC HOÁ HOẠT ĐỘNG HỌC
TẬP CỦA HỌC SINH TRONG DẠY HỌC BÀI THƠ SÓNG CỦA XUÂN
QUỲNH 35

từ lối dạy học cổ truyền lấy “thầy” làm trung tâm chi phối toàn bộ và tuyệt đối
quá trình giáo dục, áp đặt, nhồi nhét những giá trị đạo đức và kiến thức, kĩ năng
lên ngƣời học, sang việc lấy “trò” là trung tâm, là chủ thể. Bằng vai trò tích cực
chủ động, ngƣời học tự nỗ lực tìm tòi khám phá tri thức, nắm kĩ năng với sự
hƣớng dẫn của thầy. Đây chính là tinh thần cơ bản của giáo dục hiện đại, quan
điểm giáo dục tích cực.
Với quá trình triển khai thay đổi chƣơng trình và SGK Ngữ văn THPT,
việc vận dụng quan điểm dạy học tích cực lấy học sinh là trung tâm nhằm phát
huy tính năng động sáng tạo của chủ thể ngƣời học trong giờ học văn đã mang
tới những triển vọng khả quan. Bƣớc chuyển của tình hình dạy học văn theo
quan điểm giáo dục tích cực đã tạo những thay đổi quan trọng về nhận thức và
hành động tại các trƣờng THPT. Thế hệ học sinh ngồi trên ghế nhà trƣờng hôm
nay có điều kiện tiếp nhận cách thức dạy học tiến tiến, từ đó các em có khả năng
tích lũy hiểu biết và trau dồi thái độ, cảm xúc để hoàn thiện nhân cách theo mục
tiêu đào tạo đã đề ra.
1.2. Môn Ngữ văn với đặc thù vừa mang tính khoa học vừa mang tính
nghệ thuật, là một môn học rất hấp dẫn, lý thú, bổ ích, có khả năng giúp học sinh
phát triển toàn diện về trí tuệ, nhân cách, tâm hồn.
Tuy nhiên, có một thực tế dễ thấy là những vƣớng mắc, lúng túng trong
quá trình đổi mới phƣơng thức dạy học do sự níu kéo của thói quen cũ đã làm
hạn chế một phần vai trò chủ thể tích cực của học sinh để biến quá trình đào tạo
thành tự đào tạo. Từ đó dẫn tới hiện tƣợng học sinh kém hào hứng học văn, chất

2
lƣợng dạy học văn có phần giảm sút, các em học với tâm thế bị cƣỡng ép, mang
tính bắt buộc, đối phó. Tình hình trên đang thu hút sự chú ý của dƣ luận xã hội.
Vì vậy, việc đổi mới, cải tiến PPDH bộ môn có vai trò rất quan trọng,
quyết định đối với việc tạo hứng thú cho học sinh trong học tập, nâng cao chất
lƣợng dạy học. Chúng tôi cho rằng việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực
vào dạy học Ngữ văn nói chung, thơ trữ tình nói riêng chính là một trong những


3
2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Phƣơng pháp dạy học tích cực là một thuật ngữ rút gọn, đƣợc dùng ở
nhiều nƣớc để chỉ những phƣơng pháp giáo dục, dạy học theo hƣớng phát huy
tính tích cực, chủ động, sáng tạo của ngƣời học. PPDH tích cực hƣớng tới việc
hoạt động hóa, tích cực hóa hoạt động nhận thức của ngƣời học, nghĩa là tập
trung vào phát huy tính tích cực của ngƣời học chứ không phải là tập trung vào
phát huy tính tích cực của ngƣời dạy. Tuy nhiên, để dạy học theo phƣơng pháp
tích cực thì giáo viên phải nỗ lực nhiều so với dạy theo phƣơng pháp thụ động.
Định hƣớng đổi mới phƣơng pháp dạy và học đã đƣợc xác định trong Nghị
quyết Trung ƣơng 4 khóa VII (1 - 1993), Nghị quyết Trung ƣơng 2 khóa VIII
(12 - 1996), đƣợc thể chế hóa trong Luật Giáo dục (12 - 1998), đƣợc cụ thể hóa
trong các chỉ thị của Bộ Giáo dục và Đào tạo, đặc biệt là chỉ thị số 15 (4 - 1999).
Luật Giáo dục, điều 24.2, đã ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải
phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với
đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện
kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm
vui, hứng thú học tập cho học sinh”.
Có thể nói cốt lõi của đổi mới dạy và học là hƣớng tới hoạt động học tập
chủ động, chống lại thói quen học tập thụ động.
Việc vận dụng các biện pháp dạy học tích cực vào giảng dạy văn bản thơ
trữ tình hiện đại trong nhà trƣờng có một vai trò quan trọng trong nâng cao năng
lực dạy và học văn trong giai đoạn hiện nay. Nó có tác dụng phát huy tối đa khả
năng của học sinh trong việc tự chiếm lĩnh tri thức văn bản thơ trữ tình trên cơ
sở gợi ý của giáo viên.
Vấn đề vận dụng các biện pháp dạy học tích cực trong nhà trƣờng nói
chung, bộ môn Ngữ văn nói riêng đƣợc nói đến khá nhiều. Tiêu biểu có các tài
liệu, giáo trình về giáo dục học, Lí luận dạy học:
- Mảng sách dịch của nƣớc ngoài (chủ yếu từ Liên Xô cũ): Giáo dục học

trò chủ thể của ngƣời học trong quá trình hiểu biết, cảm thụ tác phẩm trữ tình.
4.2. Đối tƣợng nghiên cứu
Đề tài hƣớng tới đối tƣợng nghiên cứu nhƣ sau:
Vấn đề vận dụng một số biện pháp dạy học tích cực trong giờ đọc - hiểu
văn bản - tác phẩm thơ trữ tình.
Vận dụng một số biện pháp dạy học nhằm hƣớng tới việc tích cực hoạt
động học tập của học sinh trong giờ dạy học văn bản - bài thơ “Sóng” của Xuân
Quỳnh (lớp 12).
5. Nhiệm vụ nghiên cứu
Tìm hiểu những kiến thức lý luận về các biện pháp dạy học tích cực và
việc vận dụng các biện pháp đó trong giờ đọc - hiểu văn bản tác phẩm.
Tìm hiểu tình hình thực hiện dạy học văn trên cơ sở áp dụng các biện pháp
tích cực tại một số trƣờng THPT thuộc địa bàn huyện Phù Yên, tỉnh Sơn La.
Lựa chọn một số biện pháp dạy học tích cực nhằm phát huy tối đa hiệu
quả giảng dạy trong giờ đọc - hiểu văn bản tác phẩm thơ trữ tình hiện đại.
6. Giới hạn của đề tài
Đề tài chỉ tập trung vào nghiên cứu vận dụng các biện pháp dạy học tích

5
cực nhằm vào việc phát huy tối đa khả năng dạy và học thơ trữ tình hiện đại
trong trƣờng phổ thông, qua giờ dạy học văn bản - bài thơ “Sóng” của Xuân
Quỳnh.
7. Phƣơng pháp nghiên cứu
7.1. Phƣơng pháp nghiên cứu lí luận
- Đọc, nghiên cứu tài liệu có lien quan tới khoá luận.
- Lựa chọn, tổng hợp, hệ thống hoá các vấn đề, khái quát trong tài liệu để
xây dựng cơ sở lí luận.
7.2. Phƣơng pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phƣơng pháp quan sát, điiều tra, tiến hành thực tiễn dạy và học thơ tại
Trƣờng THPT Gia Phù - Phù Yên - Sơn La điiều tra khảo sát giáo viên và học

Chƣơng 2: Cơ sở thực tiễn
Chƣơng 3: Một số biện pháp tích cực hoá hoạt động học tập của học sinh
trong dạy học bài thơ sóng của Xuân Quỳnh 7
CHƢƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA ĐỀ TÀI

1.1. Một số khái niệm liên quan đến đề tài
1.1.1. Tính tích cực
Tính tích cực (TTC) là một phẩm chất vốn có của con ngƣời trong đời
sống xã hội. Khác với động vật, con ngƣời không chỉ tiêu thụ những gì sẵn có
trong thiên nhiên mà còn chủ động sản xuất ra của cải vật chất cần thiết cho sự
tồn tại của xã hội, sáng tạo ra nền văn hoá ở mỗi thời đại, chủ động cải biến môi
trƣờng tự nhiên, cải tạo xã hội.
Hình thành và phát triển tính tích cực của xã hội là một trong những nhiệm
vụ chủ yếu của giáo dục, nhằm đào tạo những con ngƣời năng động, thích ứng và
góp phần phát triển cộng đồng. Có thể xem tính tích cực nhƣ là một điều kiện,
đồng thời là một kết quả của sự phát triển nhân cách trong quá trình giáo dục.
Tính tích cực trong học tập thực chất là tính tích cực nhận thức, đặc trƣng
ở khát vọng hiểu biết, cố gắng trí tuệ và nghị lực cao trong quá trình chiếm lĩnh
tri thức. Trong quá trình nhận thức, ngoài lĩnh hội tri thức loài ngƣời tích luỹ
đƣợc, học sinh còn phải “khám phá” đƣợc những hiểu biết mới đối với bản thân,
ghi nhớ những gì đã nắm đƣợc qua hoạt động nỗ lực của chính mình.
1.1.2. Phương pháp dạy học tích cực
PPDH là phƣơng pháp dạy học ở đó GV chú trọng đến hoạt động tích cực
của ngƣời học. Ở phƣơng pháp này sẽ làm thay đổi nhiệm vụ của thầy và trò
theo hƣớng tích cực. Ngƣời HS ở đây trở thành chủ thể tích cực trong quá trình
tiếp nhận và đồng sáng tạo. Mà GV là ngƣời định hƣớng, tổ chức dẫn dắt trong
quá trình phát triển tƣ duy và hoạt động học tập của học sinh.

đƣợc trình bày trực tiếp, và làm thành nội dung chủ yếu:
“Hôm qua ra đứng bờ ao
Trông cá cá lặn trông sao sao mờ
Buồn trông con nhện răng tơ
Nhện ơi nhện hỡi nhện chờ mối ai
Buồn trông chênh chếch sao mai
Sao ơi sao hỡi nhớ ai sao mờ…”
(Ca dao)
Ngoài cảm xúc và tâm trạng khắc khoải nhớ mong ta không biết gì khác về
con ngƣời và nguyên nhân cụ thể dẫn tới những nỗi niềm đó. Hay một ví dụ
khác trong văn học đƣơng đại:
“Từ ấy trong tôi bừng nắng hạ
Mặt trời chân lí chói qua tim
Hồn tôi là một vƣờn hoa lá
Rất đậm hƣơng và rộn tiếng chim…”
(Tố Hữu)
Trong những câu thơ trên, ta không thấy có chuyện gì, cũng không thấy có
mâu thuẫn xung đột gì cụ thể là Tố Hữu đã giãi bày trạng thái tâm hồn mình khi
nhà thơ đƣợc giác ngộ và kết nạp Đảng.
Vậy là từ những câu ca dao xƣa tới những bài thơ đƣơng đại, dấu hiệu
chung của tác phẩm trữ tình là sự biểu hiện trực tiếp thế giới chủ quan của con
ngƣời: những cảm xúc, tâm trạng, suy nghĩ…. Dĩ nhiên, nhƣ vậy không có nghĩa

9
là tác phẩm trữ tình không phản ánh thế giới khách quan. Ai cũng biết mọi cảm
xúc, tâm trạng, suy nghĩ của con ngƣời đều là cảm xúc về cái gì, tâm trạng trƣớc
hiện thực nào, suy nghĩ về vấn đề gì. Cũng có những bài thơ trực tiếp miêu tả
bức tranh phong cảnh đã làm nhà thơ xúc động:
“Bƣớc tới đèo Ngang bóng xế tà
Cỏ cây chen đá, lá chen hoa

sắc, mới mẻ. Những chi tiết trong bài thơ “Sông Lấp” của Tú Xƣơng, “Nhớ” của

10
Nguyên Hồng, trong “Việt Bắc” của Tố Hữu, “Gửi em, cô thanh niên xung
phong” của Phạm Tiến Duật, “Hạt gạo làng ta” của Trần Đăng Khoa … đều có
vai trò nhƣ vậy.
Cũng sẽ sai lầm nếu cho rằng tác phẩm trữ tình chỉ thể hiện những gì thầm
kín, chủ quan, cá nhân, cá biệt. Đúng là nhà thơ trữ tình bộc lộ những nỗi niềm
chủ quan, thầm kín, nhƣng chính vì vậy suy tƣ trữ tình có thể thâm nhập vào
những chân lí phổ biến nhất của tồn tại con ngƣời: sự sống, cái chết, tình yêu,
lòng chung thuỷ, lí tƣởng, ƣớc mơ, tƣơng lai, hạnh phúc. Không bị ràng buộc bởi
yêu cầu tái hiện trọn vẹn một tính cách, số phận, một hành động nhƣ tự sự và
kịch, tác phẩm trữ tình có thể đạt đƣợc những khái quát nghệ thuật hết sức phổ
biến. Ngƣời ta rất có lí khi cho rằng khái quát trữ tình thƣờng có tầm vóc phổ
quát nhất về tồn tại và nhân sinh. Biết bao câu thơ đã đi vào đời sống nhƣ: tục
ngữ, cách ngôn, lời cửa miệng trở thành khẩu hiệu hành động! Những câu nhƣ:
“Nay ở trong thơ nên có thép. Nhà thơ cũng phải biết xung phong”; “Xẻ dọc
Trƣờng Sơn đi cứu nƣớc. Mà lòng phơi phới dậy tƣơng lai” đều là chắt lọc từ các
bài thơ trữ tình. Dĩ nhiên khái quát lớn phải quyện với tình cảm lớn, rung động
lớn của một trái tim nồng nhiệt. Thiếu tình cảm nồng nàn, chân thật, khái quát
lớn sẽ trở thành trống rỗng.
1.2.2. Đặc điểm về hình thức
1.2.2.1. Ngôn ngữ
a. Ngôn ngữ thơ bão hoà cảm xúc
Ngôn ngữ thơ không bao giờ là ngôn ngữ khách quan, yên tĩnh của tác
phẩm tự sự. Lời thơ thƣờng là lời đánh giá, trực tiếp thể hiện một quan hệ của
chủ thể đối với cuộc đời.
“Đẹp vô cùng Tổ quốc ta ơi!
Rừng cọ đồi chè, đồng xanh ngào ngạt
Nắng cháy sông Lô, hò ô tiếng hát

Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt ngƣời yêu.”
(Nguyễn Đình Thi)
Mỗi câu thơ dƣờng nhƣ đều mang một từ tập trung tất cả sức nặng tình
cảm. Ngƣời xƣa gọi những từ đó là “thi nhãn”, tức là những tiêu điểm để từ đó
nhìn thấu vào tâm hồn tác giả.
Lời thơ trữ tình còn mang tính chất “mê hoặc”. Đó là điểm khác hẳn so với
tự sự hay kịch hoặc lời của đời thƣờng. Lời thơ thƣờng phải khác thƣờng để đƣa
ta vào những chân lí “bí ẩn”, thâm thuý của đời sống. Bức tranh tƣơng lai trong
thơ Chế Lan Viên, chứa đầy “mê hoặc” vừa thực vừa hƣ, kì thú:
“… Chở hạnh phúc có con tàu sắc biếc
Chở lòng vui con tàu sẽ sơn hồng
Một trăm con tàu nhƣ một trăm cô dâu mới
Bờ biển nhƣ lòng trai rộn rịp lễ tơ hồng”
Đó là bức tranh tấp nập của một hải cảng. Hình ảnh và màu sắc vừa thực
vừa ảo, vừa tƣợng trƣng vừa tƣởng tƣợng chen lẫn vào nhau. Và cũng là bức
tranh nội tâm say xƣa kì ảo của chính Chế Lan Viên khi nhìn tàu đến…Tính chất
“mê hoặc” làm cho ngƣời đọc thơ nhƣ chạm vào luồng điện, gây ấn tƣợng ám

12
ảnh trong tâm trí. Dĩ nhiên, sự “mê hoặc” ấy phải bắt nguồn từ chân lí của cuộc
đời mới có đƣợc “ma lực” thực sự.
Ngôn ngữ thơ là sự kết tụ của chất thơ, kết tụ mối quan hệ thơ với đời sống
đƣợc tích luỹ lâu đời. Chính vì vậy truyền thống đóng vai trò vô cùng quan trọng
trong ngôn từ thơ. Đó cũng là điều khác với tự sự và kịch. Khi Tố Hữu viết:
“Ngày mai gió mới ngàn phƣơng
Sẽ đƣa cô dến một vƣờn đầy xuân
Ngày mai trong giá trắng ngần
Cô thôi sống kiếp đầy thân giang hồ”
Thì những “gió mới”, “ngàn phƣơng”, “vƣờn đầy xuân”, “trong giá trắng

Nhạc tính còn thể hiện ở sự trầm bổng của ngôn ngữ thơ. Trầm bổng là sự
thay đổi những âm thanh cao thấp khác nhau giữa các thanh bằng và thanh trắc.
Và cũng do sự phối hợp giữa các đơn vị ngữ âm tuỳ theo nhịp cắt để tạo nên
nhịp. Xuân Diệu viết hai dòng thơ toàn thanh bằng để gợi tả điệu nhạc du dƣơng
đƣa tâm hồn phiêu diêu bay bổng khi nghe Nhị Hồ: “Sƣơng nƣơng theo trăng
ngừng lƣng trời. Tƣơng tƣ nâng lòng lên chơi vơi”. Chính âm thanh của chữ
nghĩa đã tạo nên những điều mà chữ nghĩa không thể nói hết:
“Tôi lại về quê mẹ nuôi xƣa
Một buổi trƣa nắng dài bãi cát
Gió lộng xôn xao, sóng biển đu đƣa
Mát rƣợi lòng ta ngân nga tiếng hát”
Tố Hữu tựu nhận xét: “Trong hai câu sau có âm vang của gió và sóng, âm
vang của một tấm lòng. Nếu viết gió thổi lao xao, sóng biển rì rào thì có lẽ
không còn gì”. Nói đến cái đẹp trầm bổng của âm thanh, phải nói đến nhịp cắt.
“Nhiều đấy ƣ e / mấy tuổi rồi?
- Hai mƣơi
- Ờ nhỉ / tháng năm trôi
- Sóng bồi thêm bãi / thuyền thêm bến
- Gió lộng đƣờng khơi / rộng đất trời!”
Ở ba dòng đầu bị cắt ra nhiều nhịp nhƣ sự dừng lại sững sờ ngạc nhiên
trƣớc sự đổi thay của thời đại. Dòng 4, 5 nhịp dài ra nhƣ niềm vui trải rộng.
Chẳng hạn nhƣ Nguyễn Du viết:
“Sen tàn / cúc lại / nở hoa
Sầu dài / ngày ngắn / đông đà / sang xuân”
Dòng thơ cắt theo nhịp hai đều đặn nhƣ nhịp chuyển vần đều đặn của
năm tháng, của bốn mùa… Nhƣ vậy, âm thanh và nhịp điệu góp phần làm sáng
ra những khía cạnh tinh vi tình cảm của con ngƣời. Tất nhiên lệ thuộc máy móc
vào âm thanh nhịp điệu quy định trƣớc, ngƣời nghệ sĩ khó phát huy tƣ tƣởng
sáng tạo của mình. Nhƣng không hề biết đến khả năng nhịp điệu là bỏ mất một
vẻ đẹp đáng quý của ngôn ngữ thơ.

“Nƣớc non nặng một lời thề
Nƣớc đi đi mãi không về cùng non
Nhớ lời nguyện nƣớc thề non
Nƣớc đi chƣa lại, non còn đứng không…”
Bài Thề non nƣớc của Tản Đà gồm 22 dòng - chữ non đƣợc nhắc lại 15
lần, chữ nước 13 lần - tạo đƣợc một ấn tƣợng vƣơng vấn không dứt. Lối thơ
liên hoàn đã khai thác vẻ đẹp trùng điệp đó. Khuê phụ thân của Thƣợng Tân
Thi là một bài nhƣ vậy.
Nhạc điệu trong thơ là một đặc điểm cơ bản của ngôn ngữ thơ. Ngày nay
do sự phát triển của nghề in, của kĩ thuật ghi âm, nhu cầu của thơ có đổi khác.
Một số ngƣời có khuynh hƣớng bỏ vần để khỏi gò bó, phiền hà cho thơ. Nhƣng
nếu không có một nhạc điệu nội tại nào đó nhƣ sự đối xứng song song giữa hai
dòng thơ, hai đoạn thơ - thì không còn là ngôn ngữ thơ nữa. Đó có thể là một
loại văn xuôi trữ tình nhƣ một tác phẩm của Tuốc - ghê - nhép chẳng hạn.

15
Do đặc điểm của ngôn ngữ thơ hàm súc nhƣ vậy, nên quá trình khám phá
bài hiểu hết nghĩa đen, nghĩa bóng… Có khi điều bài thơ gợi ra còn quan trọng
hơn điều nói rõ. Chƣa đọc kĩ ngôn ngữ thơ đã vội phân tích nội dung thơ là
phạm sai lầm căn bản
1.2.2.2. Nhân vật trữ tình trong thơ
Nội dung tác phẩm trữ tình đƣợc thể hiện gắn liền với hình tƣợng nhân
vật trữ tình. Đó là hình tƣợng ngƣời trực tiếp thể hiện suy nghĩ, cảm xúc, tâm
trạng trong tác phẩm. Nhân vật trữ tình không có diện mạo, hành động, lời nói,
quan hệ cụ thể nhƣ nhân vật tự sự và kịch. Nhƣng nhân vật trữ tình cụ thể trong
giọng điệu, cảm xúc, trong cách cảm, cách nghĩ. Qua những trang thơ ta gặp tâm
hồn ngƣời, tấm lòng ngƣời. Đó chính là nhân vật trữ tình.
Cũng cần phân biệt nhân vật trữ tình và nhân vật trong thơ trữ tình. Nhân
vật trong thơ trữ tình là đối tƣợng để nhà thơ gửi gắm tình cảm, là nguyên nhân
trực tiếp khơi dậy nguồn tình cảm của tác giả. Trong bài “Ngƣời con gái Việt

cho một lớp ngƣời, một giai cấp, một dân tộc để phát biểu. Lời lẽ riêng tƣ và ý
nghĩa chung thƣờng hoà nhập trong những lời nhân vật trữ tình kiểu này. Đây là
lời của Nguyễn Đình Thi và cũng là lời của biết bao chiến sĩ:
“Ôi những cánh đồng quê chảy máu
Dây thếp gai đâm nát trời chiều
Những đêm dài hành quân nung nấu
Bỗng bồn chồn nhớ mắt ngƣời yêu”
Lời của Xuân Quỳnh - ngƣời vợ và cũng là lời của biết bao phụ nữ:
“Con sóng dƣới lòng sâu
Con sóng trên mặt nƣớc
Ôi con sóng nhớ bờ
Ngày đêm không ngủ đƣợc
Lòng em nhớ đến anh
Cả trong mơ còn thức”
Những biểu hiện của thế giới nội tâm tuy mang tính chủ quan vẫn phản ánh
đƣợc thực tế khách quan của đời sống, tức gƣơng mặt tinh thần xã hội.
Tính chất tiêu biểu và khái quát của những cảm xúc làm nên ý nghĩa của
nhân vật trữ tình. Những cảm xúc, tâm trạng và suy nghĩ của nhà thơ phải có
nguồn gốc từ xã hội và tiêu biểu cho nhiều ngƣời trong một thời kì lịch sử nhất
định. Đó là tính chân thật, khách quan, điển hình và lịch sử của nhân vật trữ tình.
Đó cũng là con đƣờng mở ra để nối kết bài thơ với ngàn vạn trái tim của quần
chúng đông đảo.
Ngoài việc đại diện phát ngôn cho một lớp ngƣời, một thời đại, nhà thơ còn
nhập vai vào một số những nhân vật cụ thể, tạo thành loại nhân vật trữ tình nhập
vai nhƣ: Anh bộ đội trong bài “Bầm ơi”- (Tố Hữu), cháu bé trong nhà lao Tân
Dƣơng (Hồ Chí Minh). Trong thơ Tago, ta thấy nhiều nhân vật trữ tình nhƣ
Đấng Tối cao, nhà tiên tri, ngƣời lao động, ngƣời tình, trẻ thơ…Do vậy, thế giới
trữ tình trong thơ đâu chỉ hạn hẹp một cá nhân nhà thơ, mà là một cấu trúc mở vô
hạn, có khả năng đề cập đến bao nhiêu vấn đề, bao nhiêu con ngƣời và số phận
ngoài tiểu sử cá nhân nhà thơ.

ngôn ngữ, để cho ngƣời đọc, ngƣời nghe dễ tiếp nhận. Nói chung dòng thơ Việt
Nam thƣờng biến đổi từ 4 đến 8 chữ. Lúc kéo dài cũng không quá 12 chữ. Tất
nhiên có ngoại lệ. Nếu không vì một nhu cầu nghệ thuật cần thiết nào lại đặt
những dòng thơ dài làm rối sự suy nghĩ của ngƣời đọc thì thật đáng trách. Dòng
thơ cũng là câu thơ khi nó diễn đạt trọn vẹn một ý. Thơ xƣa, thơ cổ điển thƣờng
nhƣ thế. Thơ ngày nay có khi hai, ba dòng mới thành một câu trọn nghĩa: “Ôi
kháng chiến, mƣời năm qua, nhƣ ngọn lửa. Nghìn năm sau còn đủ sức soi
đƣờng” (Chế Lan Viên). Để giữ sự cân đối giữa hai dòng, để làm nổi rõ vần, và
có khi để nêu bật ý, ngƣời làm thơ đã vắt dòng:
“Một tối bầu trời đắm sắc mây
Cây tìm nghiêng xuống nhánh hoa gầy

18
Hoa nghiêng xuống cỏ, trong khi cỏ
Nghiêng xuống làn rêu. Một tối đầy
Những lời huyền bí toả lên trăng”
(Xuân Diệu)
Với lối vắt dòng theo thơ phƣơng Tây, Xuân Diệu đã để cho dòng thơ
trên tràn xuống dòng dƣới. Và khổ trên tràn xuống khổ dƣới. Tuy vần vẫn giữ
sự chỉnh tề cân đối bảo đảm nhạc tính, nhƣng với cách vắt dòng, dung lƣợng
(sức chứa) của câu thơ đƣợc mở rộng khá nhiều. Trong bài thơ, điều dễ nhận
thấy, dễ tính đếm chính là dòng thơ - nhất là cách trình bày thơ hiện nay trên
các ấn phẩm. Phải từ nội dung, ý nghĩa mới nhận ra từng câu thơ. Khi đọc văn
cổ, biết chấm câu cho đúng là đã có một trình độ học vấn nhất định. Đọc thơ
ngày nay cũng phải chú ý đến cách chấm câu, ngắt đoạn cho thông nghĩa (nhất
là đối với những bài tác giả không chấm câu, không viết hoa). Không thận trọng
sẽ khó tránh khởi hiểu sai, hiểu nhầm. Ví dụ, nếu ta ngắt: “Ôi kháng chiến mƣời
năm qua / nhƣ ngọn lửa” thì câu thơ thật chẳng còn gì.
c. Khổ thơ và đoạn thơ
Không phải thơ nào cũng chia khổ, chẳng hạn thơ Đƣờng luật, thơ cổ

chia thành ba khúc (cũng tức là ba đoạn): Vị trí - nguyên nhân - thời gian. Ở
đầu mỗi khúc có một điệp khúc láy đi láy lại chung quanh ý: “Chúng ta không
bắn màu da vàng hay da trắng. Mà bắn bọn súc sinh trong tất cả các màu”.
Những dấu hiệu đó không nên bỏ qua khi tìm hiểu nội dung thơ. Việc phân chia
khổ thơ, đoạn thơ có tác dụng để nhận ra các thứ lớp của nội dung bài thơ. Nhƣ
khi xem tranh, cái nhìn tổng thể giúp ta nắm bắt đƣợc ý đồ nghệ thuật của bức
tranh, cách bố cục đƣờng nét, các mảng màu. Nếu trong những vấn đề lớn này,
tác phẩm tỏ ra vô giá trị thì hà tất ta phải đi sâu vào từng dòng, từng chữ nữa!
Sau cái nhìn tổng thể, ta mới đọc lại từng câu, xem cách dùng chữ có sáng tạo
không, nhịp điệu có điêu luyện không, kiến trúc có vững trãi không. Có những
bức tranh, nhìn thoáng thì tạm đƣợc, nhƣng nhìn kĩ, nét bút còn vụng về, kĩ
thuật pha trộn màu còn kém… Một bài thơ đứng đƣợc phải trải qua hai lần kiểm
nghiệm ấy (từ tổng thể đến từng chi tiết). Phải tránh tình trạng phiến diện, chỉ
chú ý trích bình một số câu thơ hay riêng lẻ - mà tập thơ dở nào chắc cũng có
một vài câu. Hoặc ngƣợc lại, chỉ nói chung chung về đề tài, chủ đề tốt mà
không nói đến câu chữ, hình ảnh, nhịp điệu của từng câu thơ, từng khổ thơ…Cả
hai cách đều dẫn đến cái nhìn không đúng về bài thơ - một công trình kiến trúc
phải đẹp từ thiết kế đến thi công,… từ ngoại thất đến nội thất.
Bài thơ. Khác với dòng thơ, khổ thơ, đoạn thơ, bài thơ là một tác phẩm
hoàn chỉnh. Nói hoàn chỉnh là nói đến sự thống nhất nội tại. Các nhà thơ cổ
điển rất chú ý đến điểm này. Trong một bài thơ luật Đƣờng, các câu xếp theo
một thứ tự, có những nhiệm vụ nhất định: Khai, thừa, thực, luận, kết. Những bài
xonnê Pháp cũng có cấu trúc chặt chẽ. Tất cả để đảm bảo tính hoàn chỉnh của
bài thơ. Vậy cái gì bao trùm và chi phối tất cả các yếu tố trong một bài thơ? Có
thể nói đó là tứ thơ. Gọi là tứ trƣớc hết để phân biệt ý. Trong một bài thơ có
nhiều ý, nhƣng phải có ý lớn bao trùm toàn bài. Ý bao trùm ấy có thể là tứ. Vậy
ý lớn với tứ khác nhau nhƣ thế nào? Gọi là tứ khi ý lớn ấy không thể hiện một
cách bộc trực trần trụi mà đã biến hoá trong những hình tƣợng nhiều tìm tòi
sáng tạo mới lạ gợi ra cho ngƣời đọc những liên tƣởng thú vị, rộng rãi. Nói cách


biểu hiện rối loạn, bí hiểm, tắc tị phá vỡ tính thống nhất của tác phẩm văn học,
tính thống nhất của bài thơ đều đáng chê trách.
Nhƣ vậy, thơ trữ tình mang những đặc điểm riêng về thể loại. Vì vậy khi
giảng dạy tác phẩm trữ tình chúng ta cần chú ý tới những đặc điểm của nó và
phải vận dụng những phƣơng pháp dạy học phù hợp với đặc trƣng thể loại.
1.3. Vấn đề đổi mới phƣơng pháp dạy học hiện nay
Đổi mới phƣơng pháp dạy học đã và đang đƣợc các cấp quản lí giáo dục,
đội ngũ giáo viên quan tâm, thực hiện. Quán triệt thực hiện chủ chƣơng của Bộ

21
Giáo dục và Đào tạo “mỗi giáo viên chi bộ quản lí giáo dục, thực hiện một đổi
mới phƣơng pháp dạy học và quản lí, mỗi trƣờng, mỗi tổ, mỗi giáo viên có một
kế hoạch cụ thể về đổi mới pƣơng pháp dạy học…” nhằm nâng cao chất lƣợng
dạy học môn Ngữ Văn. Dạy học là công việc khó. Dạy văn lại càng khó hơn.
Nhƣng có lẽ cái khó nhất là chọn đƣơc phƣơng pháp dạy học vừa phù hợp với
đối tƣợng học sinh vừa đáp ứng đƣợc yêu cầu đổi mới phƣơng pháp dạy học để
mang lại hiệu quả. Đó là tài nghệ của mỗi một giáo viên. Không có phƣơng
pháp nào là tối ƣu cả, vấn đề là giáo viên biết kết hợp vận dụng một cách linh
hoạt hợp lí.
Xuất phát từ nhu cầu đổi mới trong dạy học, hiện nay có nhiều quan niệm
dạy học tích cực trong dạy học môn Văn nhƣ:
Quan niệm dạy học trong đó ngƣời học là trung tâm là chủ thể của hoạt
động học tập. Nếu phƣơng pháp dạy học truyền thống chỉ chú ý đến hoạt động
cơ bản là thầy giảng - trò ghi thì phƣơng pháp dạy học tích cực chú ý vào hoạt
động lĩnh hội tri thức, bắt đầu từ những hoạt động bên trong của con ngƣời. Vận
dụng phƣơng pháp dạy học tích cực vào giảng dạy tác phẩm văn chƣơng trong
phổ thông mới có khả năng phát huy những tiềm lực tiềm tàng vẫn còn ngủ
quên trong mỗi học sinh. Phƣơng pháp dạy học tích cực gõ mạnh vào trí thông
minh, sở trƣờng ở ngƣời học để phát huy tính tự giác. Phƣơng pháp này thể hiện
sự vận động có định hƣớng cần thiết của hoạt động trí tuệ trong việc hình thành


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status