Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các trường đại học ở việt nam - Pdf 13

BỘ GIÁO DỤC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH
CHÍNH VÀ ĐÀO TẠO QUỐC
GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
----------------
Phan Huy Hùng
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO
SỰ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM
CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
Hà Nội - 2009
BỘ GIÁO DỤC HỌC VIỆN CHÍNH TRỊ-HÀNH
CHÍNH VÀ ĐÀO TẠO QUỐC
GIA HỒ CHÍ MINH
HỌC VIỆN HÀNH CHÍNH
----------------
Phan Huy Hùng
QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC THEO HƯỚNG ĐẢM BẢO
SỰ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM
CỦA CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC Ở VIỆT NAM
Chuyên ngành: Quản lý hành chính công
Mã số : 62 34 82 01
LUẬN ÁN TIẾN SĨ QUẢN LÝ HÀNH CHÍNH CÔNG
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC:
1. GS.TS Phạm Hồng Thái
2. TS Phạm Quang Huy
2
Hà Nội - 2009
LỜI CAM ĐOAN
Tôi cam đoan luận án “Quản lý nhà nước theo hướng đảm bảo sự tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của các trường đại học ở Việt Nam” là công trình nghiên cứu của

9
11
12
13
14
14
15
15
18
Chương 1- NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CỦA QUẢN LÝ NHÀ
NƯỚC VỀ GIÁO DỤC ĐẠI HỌC VÀ
TỰ CHỦ ĐẠI HỌC
1.1. Tự chủ và trách nhiệm xã hội của trường đại học
1.1.1. Quan niệm trường đại học và sự phân cấp về thẩm quyền
1.1.2. Tự chủ của trường đại học
1.1.3. Tự chịu trách nhiệm và trách nhiệm xã hội của trường đại học
1.1.4. Điều kiện và sự cân bằng tự chủ, tự chịu trách nhiệm
1.2. Quản lý nhà nước về giáo dục đại học đảm bảo tự chủ, tự chịu
trách nhiệm của trường đại học
1.2.1. Khái niệm và bản chất quản lý nhà nước về giáo dục đại học
đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học
1.2.2. Sự cần thiết phải quản lý nhà nước về giáo dục đại học theo
hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học
1.2.3. Nội dung và phương thức quản lý nhà nước về giáo dục đại
học theo hướng đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại
23
23
23
26
30

2.2.2. Nội dung, cơ cấu tổ chức và thẩm quyền quản lý nhà nước về
giáo dục đại học
2.3. Thực trạng bảo đảm của nhà nước đối với giáo dục đại học ở Việt
Nam hiện nay
2.3.1. Bảo đảm của Nhà nước về tự chủ nhà trường
2.3.2. Bảo đảm của Nhà nước đối với tự chịu trách nhiệm
2.3.3. Nguyên nhân và hệ quả của những tồn tại trong quản lý nhà
nước đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học
Kết luận Chương 2
76
76
76
81
85
88
88
93
10
3
10
3
11
5
12
6
12
9
Chương 3- NHỮNG GIẢI PHÁP ĐỔI MỚI QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC
BẢO ĐẢM SỰ TỰ CHỦ, TỰ CHỊU TRÁCH NHIỆM CỦA TRƯỜNG
ĐẠI HỌC

3.4. Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với chương
trình, tuyển sinh, văn bằng và giảng viên
3.4.1. Đổi mới quản lý nhà nước về chương trình, tuyển sinh và văn
bằng
3.4.2. Đổi mới quản lý nhà nước về giáo dục đại học đối với giảng
viên
3.5. Đổi mới quản lý nhà nước về tài chính giáo dục đại học
3.5.1. Đổi mới chính sách tài chính giáo dục đại học
3.5.2. Đổi mới phương thức quản lý tài chính, tách bạch giữa quản
lý nhà nước và quản lý của Nhà nước với tư cách là chủ sở hữu
13
1
13
1
13
5
13
9
14
1
14
1
15
0
15
3
15
4
15
5

9
18
4
18
5
KẾT LUẬN
DANH MỤC CÔNG TRÌNH CỦA TÁC GIẢ
TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
18
7
19
1
19
2
19
8
7
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
CNH-HĐH Công nghiệp hoá-Hiện đại hoá
GATS General Agreement on Trade in Services
(Hiệp định chung về thương mại trong dịch vụ)
GD&ĐT Giáo dục và Đào tạo
GDĐH Giáo dục đại học
HE Higher education
8
(Giáo dục đại học)
KTTT Kinh tế thị trường
KT-XH Kinh tế-Xã hội
OECD Organization for Economic Cooperation and Development

Bảng 2.5: Quản lý nhà nước về giáo dục đại học 99
Bảng 2.6: Quản lý chủ quản các trường đại học năm học (1997-1998) và năm
học (2006-2007) 102
Bảng 2.7: Tự chủ và tự chịu trách nhiệm (b) 107
Bảng 2.8: Chi ngân sách nhà nước cho GD&ĐT và giáo dục đại học 109
Bảng 2.9: Tự chủ, tự chịu trách nhiệm và tài trợ công 112
Bảng 2.10: Đảm bảo chất lượng giáo dục đại học 121
Bảng 2.11: Sinh viên tốt nghiệp đại học cần đào tạo lại 122
Bảng 2.12: Thí sinh trúng tuyển đại học, cao đẳng theo cơ cấu xã hội năm
2006-2008 123
Bảng 3.1: Một số chỉ số phát triển GDĐH Việt Nam đến năm 2020 135
Bảng 3.2: Tầm nhìn về quản lý giáo dục đại học (a) 137
Bảng 3.3: Quan niệm quản lý nhà nước về giáo dục đại học bảo đảm tự chủ, tự
chịu trách nhiệm của trường đại học công
141
Bảng 3.4: Tầm nhìn về quản lý giáo dục đại học (b) 148
DANH MỤC CÁC HÌNH VẼ, ĐỒ THỊ
Hình 1.1: Chu trình tài trợ cho các trường đại học 46
Hình 2.1: Quyền tự chủ của các loại hình trường đại học 80
Hình 2.2: Trường đại học thành lập mới giai đoạn 2003-2007 118
Hình 2.3: Quản lý chất lượng giáo dục đại học và định hướng cải thiện 120
Hình 3.1: Mô hình bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm 143
10
MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay, quy mô sinh viên tăng quá nhanh trong khi sự đáp ứng nguồn
lực của các nhà nước thì hạn chế, cùng với sự quan tâm đối với vấn đề phát triển
nguồn nhân lực trình độ cao nhiều hơn đã tạo sức ép lên các chính phủ về hai
vấn đề: một là sử dụng hiệu quả nguồn lực và hai là chất lượng của các sản phẩm
giáo dục đại học (GDĐH) mà trường đại học cung cấp mà thực chất là yêu cầu

triển phù hợp. Đây chính là “chìa khoá” giúp giải quyết những khó khăn và vượt
qua thách thức trong công cuộc cải cách GDĐH.
Mục tiêu chiến lược đã được đặt ra như một dấu mốc lịch sử, đến năm
2020 Việt Nam trở thành nước công nghiệp và từng bước phát triển kinh tế tri
thức. Trong đó, GDĐH được xác định là lĩnh vực then chốt cần đột phá. Tầm
nhìn GDĐH Việt Nam đã trù tính quy mô toàn hệ thống sẽ tăng gấp 3-4 lần so
với hiện tại, sự quản lý và hội nhập quốc tế phải tốt hơn, dịch vụ đào tạo và
nghiên cứu phải mở cửa rộng hơn theo các cam kết quốc tế và đặc biệt là sự
thương mại hoá cũng được tính đến. Tất cả vấn đề này phụ thuộc rất nhiều vào
chất lượng của dịch vụ GDĐH và liên quan chặt chẽ đến yêu cầu đổi mới cơ chế
chính sách quản lý của Nhà nước về GDĐH. Nhà nước trong vai trò định hướng
giám sát thay cho sự kiểm soát tập trung chi tiết, đảm trách việc hướng dẫn, thúc
đẩy và bảo vệ lợi ích công của GDĐH. Muốn vậy, toàn hệ thống phải đổi mới tư
duy và cơ chế quản lý GDĐH, kết hợp hợp lý và hiệu quả giữa việc phân định rõ
chức năng, nhiệm vụ QLNN và việc bảo đảm quyền tự chủ, tăng cường trách
nhiệm xã hội, tính minh bạch của các cơ sở GDĐH theo nghị sự của Chính phủ
(Nghị quyết số 14/2005/NQ-CP ngày 2/11/2005).
Vấn đề tự chủ và tự chịu trách nhiệm của các trường đại học Việt Nam
mặc dù đã được đề cập chính thức trong Nghị quyết TW 4 (khoá VII) từ năm
1993 và được pháp lý hoá lần đầu trong Luật Giáo dục 1998 nhưng trên thực tế
thì “cơ chế quản lý các trường đại học có tính tập trung và xơ cứng”, theo nhận
định của Vallely (2005) [68]; “bộ chủ quản trở thành cơ quan trung gian, trường
chịu sự chỉ đạo của nhiều cơ quan quản lý nên mất tính chủ động, sức ép tăng
lên, hiệu quả giảm đi...”, theo một nhận xét khác được đăng tải trên VietNamNet
ngày 26/12/2005. Thực tế này làm trường đại học chưa thực hiện được vai trò xã
hội to lớn vốn có của nó, chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội
(KT-XH), thiếu năng lực cạnh tranh, nhất là không có đủ nguồn lực để phát triển.
Việc hoàn thiện một số vấn đề lý luận, làm rõ bản chất và đánh giá đúng thực
13
trạng và sự bảo đảm tự chủ, tự chịu trách nhiệm, cũng như đưa ra giải pháp

thể chế, chính sách điều hành GDĐH tích cực.
- Cung cấp nguồn tư liệu tham khảo và gợi mở hướng nghiên cứu mới.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là QLNN về GDĐH, bao gồm thể chế, cơ cấu và
quá trình mà trong đó các nhân tố của hệ thống GDĐH (nhà nước, trường đại
học, các thực thể xã hội khác...) tương tác lẫn nhau và với thị trường định hướng
XHCN. Sự điều khiển, cách thức phối hợp thẩm quyền và mức độ can thiệp hợp
lý của Nhà nước bảo đảm tự chủ và trách nhiệm xã hội. Khái niệm đảm bảo
được hiểu như phương thức QLNN mà theo đó nhà nước định hướng, chỉ dẫn,
khuyến khích, bảo vệ và làm cho sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm được thực hiện.
Phạm vi nghiên cứu về không gian là những vấn đề lý luận, thực tiễn và
giải pháp về thể chế, chính sách, tài trợ công, cơ cấu tổ chức, cơ chế vận hành và
giám sát trong QLNN về GDĐH bảo đảm tự chủ và trách nhiệm xã hội. Một số
nội dung tham khảo mang tính đối chiếu cũng được nghiên cứu để xem xét tác
động của tự chủ tới quản lý GDĐH và ngược lại. Nó cũng bao gồm các chủ thể
QLNN và quản lý chủ quản (chủ yếu là các Bộ, ngành trung ương); các khách
thể quản lý là cơ sở GDĐH, chủ yếu là các trường công lập (không bao gồm các
trường thuộc lực lượng vũ trang và chính trị) nhưng trong một số trường hợp thì
trường ngoài công lập cũng được đề cập để tăng tính giải thích. Trường đại học
được tiếp cận như một tổ chức hay thể chế mà trong đó con người hoạt động
trong cơ cấu tổ chức quyền năng ràng buộc về lợi ích, có cùng tầm nhìn, mục
tiêu, sứ mạng và giá trị; có mối quan hệ mang tính hệ thống với các tổ chức khác
trong hệ thống như là nhà nước, các doanh nghiệp, tổ chức xã hội.
Về thời gian, nghiên cứu tập trung vào thời kỳ đổi mới GDĐH từ năm
1986 đến nay, nhất là từ khi Luật Giáo dục 1998 được ban hành. Tuy nhiên,
15
trong quá trình nghiên cứu, để làm rõ hơn tính lịch sử của vấn đề, các dữ liệu
trước đó cũng được sử dụng. Mốc đề xuất giải pháp là từ nay đến năm 2020.
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu sinh sử dụng phép biện chứng duy vật với quan điểm toàn

- Luận án được mong đợi góp phần làm phong phú lý luận QLNN về
GDĐH theo hướng giám sát, đảm bảo tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại
học công, về phương diện phân cấp, trao quyền và cơ cấu thẩm quyền; về
phương thức và phạm vi tác động hiệu quả của nhà nước tới hoạt động cung cấp
dịch vụ GDĐH; về bản chất, tính thực tế và điều kiện của tự chủ, tự chịu trách
nhiệm; về sự phối hợp với thị trường định hướng XHCN.
- Bổ sung luận cứ khoa học hành chính về sự điều chỉnh của nhà nước
trong quản lý GDĐH, sự tách bạch giữa ban hành và thực thi chính sách, xác lập
mối quan hệ phù hợp giữa nhà nước trong vai trò giám sát và trường đại học
công trong vai trò cung cấp dịch vụ GDĐH một cách chủ động, xây dựng cơ chế
đệm phù hợp.
- Đóng góp vào phương pháp nghiên cứu giải pháp QLNN về GDĐH,
thiết lập môi trường thuận tiện, bình đẳng, khuyến khích sự sự tự chủ, tự chịu
trách nhiệm đồng bộ về các mặt tự chủ của trường đại học trong điều kiện nền
KTTT có sự QLNN thống nhất và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp đồng bộ có tính toàn diện có thể vận dụng
vào thực tiễn, làm cơ sở cho các nghiên cứu sau này về quản lý GDĐH. Góp
phần vào đổi mới cơ cấu, quá trình và phương thức quản lý của nhà nước; xác
định lại vai trò, chức năng của các cơ quan có thẩm quyền quản lý GDĐH trong
bối cảnh mới.
6. KẾT CẤU CỦA LUẬN ÁN
Ngoài phần Mở đầu, Tổng quan tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
và Kết luận, luận án có 3 chương: Chương 1. Những vấn đề lý luận của QLNN
17
về GDĐH và tự chủ đại học; Chương 2. Quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của
trường đại học và QLNN về GDĐH ở Việt Nam hiện nay; Chương 3. Những giải
pháp đổi mới QLNN bảo đảm sự tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường đại học.
Luận án cũng có trình bày Danh mục công trình của tác giả, Tài liệu tham khảo
và Phụ lục.
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

cơ chế thị trường”, đã thảo luận một số vấn đề lý luận. Trước hết, đó là xu thế tự
quản và chịu trách nhiệm xã hội, quản lý theo cơ chế chịu trách nhiệm gắn với việc
xác lập trách nhiệm của tất cả các bên liên quan chứ không chỉ là của nhà nước hay
người dạy, dựa vào chỉ số thực hiện để kiểm soát, đánh giá và minh bạch hóa; chất
lượng nền GDĐH như là hiệu quả và “năng suất” của cả nền GDĐH; cơ chế hội đồng
trường thì cần thiết để tách bạch quyền sử dụng và quyền sở hữu; đề xuất nghiên cứu
19
chính sách tài chính tích cực cho GDĐH [52]. Thứ hai, đó là tự chủ đại học hàm ý
mối quan hệ giữa Chính phủ và đại học, thẩm quyền can thiệp và nên can thiệp đến
mức độ nào vào các vấn đề của trường đại học, trách nhiệm của trường đại học là
đảm bảo chất lượng và sử dụng có hiệu quả nguồn lực, điều kiện bảo đảm thực hiện
trách nhiệm này [53]. Thứ ba, đó là “thị trường GDĐH”, dịch vụ giáo dục vẫn được
gọi là hàng hoá và cần thị trường hoá GDĐH để làm cho các trường được tổ chức và
vận hành hiệu quả hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu KT-XH [54]. Tuy nhiên, các vấn đề
được nêu còn riêng lẽ, mang tính gợi ý, chưa đi sâu phân tích một cách hệ thống từ
gốc độ QLNN.
Ngo Doan Dai (2004), trong “Vấn đề quyền tự chủ và trách nhiệm của các
trường đại học trong đổi mới GDĐH Việt Nam”, đã làm rõ phần nào trách nhiệm phải
giải thích, phải chịu trách nhiệm của trường đại học [6, tr.16-24]. Tuy nhiên, chưa
đưa ra hình thức cũng như công cụ của trách nhiệm giải trình. Trong “Viet Nam”, tác
giả Doan Dai (2006), đã khái quát thực trạng cải cách GDĐH Việt Nam đang đối mặt
với nhiều thách thức, cho thấy sự xác lập địa vị pháp lý đặc biệt của các đại học quốc
gia, sự xuất hiện ngày càng nhiều các nhà cung cấp GDĐH ngoài công lập, nhất là sự
thay đổi trong quản lý và quản trị đại học theo hướng mở rộng phân cấp cả chiều dọc
lẫn chiều ngang [100]. Tuy nhiên, mối quan hệ giữa nhà nước và trường đại học công
cũng như biện pháp QLNN bảo đảm sự tự chủ và trách nhiệm được thực thi chưa
được làm rõ.
Trong “Đổi mới GDĐH Việt Nam”, Trần Quốc Toản (2005) đã phác thảo mục
tiêu và nội dung khá toàn diện trong thập kỷ tới, đặt ra yêu cầu: đổi mới tư duy quản
lý, thực hiện ba chức năng và năm nhiệm vụ chính trong cơ chế thị trường định

cho các trường đại học công lập: Cơ sở để phát triển bền vững thời kỳ hội nhập” chỉ
ra rằng sự thay đổi môi trường đã làm thay đổi mối quan hệ của trường đại học, tạo
ra sức ép đối với các trường và tự chủ đại học là giải pháp khắc phục những tồn tại
giúp các trường công lập phát triển bền vững [51]. Tuy nhiên, tác giả chỉ mới gợi ý
cho lộ trình thực hiện tự chủ. Lê Ngọc Đức (2009), trong “Bàn về quyền tự chủ và
trách nhiệm xã hội của các cơ sở GDĐH”, đã chỉ ra rằng nền KTTT có định hướng
21
XHCN đòi hỏi mọi tổ chức và quản lý GDĐH phải sản xuất ra nguồn nhân lực chất
lượng cao, GDĐH phải thể hiện trách nhiệm xã hội qua việc đảm bảo thoả mãn tiêu
chí hiệu quả cao với nội hàm: chất lượng cao, hiệu suất cao, phù hợp và công bằng xã
hội; cũng đã nêu một số điều kiện và giải pháp từ gốc độ quản lý vĩ mô thực hiện
quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội [34]. Tuy nhiên, nội hàm yêu cầu QLNN thông
qua các văn bản dưới luật có tính khung và mở chỉ đề cập một cách khái quát.
2. NGHIÊN CỨU NGOÀI NƯỚC
Các nghiên cứu ngoài nước có liên quan trực tiếp đến đề tài thì còn ít do
GDĐH nước ta chỉ mới mở rộng cửa với thế giới những năm gần đây. Trước hết, WB
(1994), trong “HE: The lessons of experience”, đã đút kết kinh nghiệm qua nghiên
cứu GDĐH ở các nước đang phát triển mà trong đó có Việt Nam về quản trị đại học ở
cả cấp hệ thống và cấp trường; chỉ ra chìa khóa thành công cho các chương trình cải
cách GDĐH là xác định lại vai trò của Chính phủ và tăng cường quyền tự chủ và
trách nhiệm của các trường đại học công [111]. Nhưng đồng thời, cũng khuyến khích
quá trình tư nhân hóa, sự mở cửa thị trường GDĐH và các cách tiếp cận quản lý ít có
sự chi phối của nhà nước.
Institute of International education Vietnam (2004) đã đưa ra bức tranh chung
của hệ thống GDĐH Việt Nam với vai trò nổi trội của Bộ GD&ĐT trong “HE in
Vietnam”, chỉ ra dấu hiệu phi tập trung và khuyến cáo việc tăng cường đảm chất
lượng [90]. Tuy nhiên, không đưa ra giải pháp QLNN nào đảm bảo quyền tự chủ cấp
trường.
Hayden và Thiep (2006, 2007), trong “A 2020 vision for Vietnam” và
“Institutional autonomy for HE in Vietnam”, cho rằng nghị sự đổi mới GDĐH Việt

cấp bức tranh chung về chính sách tài chính GDĐH, phản ảnh những quan điểm đang
thay đổi trên thế giới và sự tác động sâu sắc đến phương hướng phát triển của quốc
gia [85]. Mặc dù tác giả có đề cập đến trường hợp của Việt Nam nhưng cũng chỉ gợi
mở một số vấn đề then chốt cần giải quyết nhằm trả lời câu hỏi: “nên chăng Việt
Nam đang cần một cuộc tái thiết tận gốc rễ hệ thống GDĐH”, như cách đặt vấn đề.
23
Ngoài ra, có một số nghiên cứu tuy không liên quan trực tiếp đến đề tài nhưng
có giá trị trong nghiên cứu quản lý GDĐH và tự chủ đại học. Clark (1983), trong
“Quyền hành”, đã khái quát cơ cấu thẩm quyền trong hệ thống GDĐH và cho thấy xu
hướng tập trung thẩm quyền ra quyết định quản lý cấp trường hay cho giới học thuật
[19]. Nhưng chưa làm rõ thẩm quyền quản lý bên trong và bên ngoài trường đại học,
chưa đề cập đến thẩm quyền của các tổ chức trung gian tham gia quản lý GDĐH và
sự phân cấp quản lý. Mặc dù đây không phải là nghiên cứu riêng về Việt Nam, quyền
lực được tiếp cận ở gốc độ phân lập mà không thống nhất, nhưng là cơ sở lý luận có
ý nghĩa khi xem xét quyền tự chủ của trường đại học trong bối cảnh nước ta.
Vught (1993), trong “Patterns of governnance in HE: Concepts & Trends”,
Neave & Vught (1994), trong “Government and HE across three continents: The
winds of change”, đã đút kết hai mô hình điều khiển hệ thống đại học của nhà nước
mang tính bao quát là kiểm soát và giám sát; nhấn mạnh sự hội tụ và ưu thế của
phương thức giám sát, nguyên lý tự quản và quản trị tốt [110], [99]. Tuy nhiên, chưa
nói đến quản lý GDĐH trong nền KTTT có định hướng. Scott (1995), được
Wongsamarn (2003) trích dẫn trong “The relationship between the state & the
autonomous university in HE administration”, đã cho thấy mức độ tự chủ đại học,
xác định và thảo luận năm mô hình của mối quan hệ trường đại học và nhà nước: như
là tổ chức nhà nước, được trao quyền và đảm bảo pháp lý, không quan hệ gần gũi,
trong thị trường nội bộ và tư thục [113].
Gornitzka & Maassen (2000), trong “Hybrid steering approaches with respect
to European HE”, đã phản ảnh vai trò nhà nước và những tác nhân xã hội có liên
quan qua bốn mô hình điều khiển nhà nước: Nhà nước toàn trị, Hợp nhất đa nguyên,
Mô hình nhà trường và Siêu thị nhà nước chi phối tự chủ của trường đại học [83].

nhiệm xã hội. Tuy nhiên, có khía cạnh không phù hợp với hoàn cảnh, điều kiện và
quan điểm trong nước. Những công trình này cũng là tài liệu tham khảo được tác giả
khai thác và sử dụng trong quá trình viết luận án.
25


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status