PHẦN MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Đất đai là nguồn tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá đối với mỗi
quốc gia, là điều kiện tồn tại và phát triển của con người cùng các sinh vật
khác trên trái đất. C.Mác đã viết “Đất đai là tài sản mãi mãi với loài
người, là điều kiện cần để sinh tồn, là điều kiện không thể thiếu để sản
xuất, là tư liệu sản xuất trong nông, lâm nghiêp”
Đối với nước ta đang trong thời kỳ quá độ đi lên XHCN thì việc sử
dụng nguồn tài nguyên thiên nhiên đất đai một cách hợp lý là vô cùng
quan trọng. Luật đất đai năm 2003 đã khẳng định tại Điều 5 “Đất đai
thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu”. Để quản lý
chặt chẽ đất đai về mắt quản lý nhà nước, nhằm tăng cường công tác quản
lý và sử dụng đất đai ngày càng hiệu quả, hợp lý và tiết kiệm, đảm bảo
môi trường trong sạch và phát triển bền vững các nguồn tài nguyên nói
chung và đất đai nói riêng góp phần quan trọng vào chiến lược phát triển
kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước đề ra trong thời kỳ công nghiệp hóa,
hiện đại hóa đất nước
Qua 10 năm (2003-2013) triển khai thực hiện Luật Đất đai, công tác
quản lý và sử dụng đất đai trên địa bàn thị trấn Vĩnh Điện từng bước đi
vào nề nếp, chính sách pháp luật đất đai ngày càng hoàn thiện và được
thực thi hóa toàn diện. Cơ cấu sử dụng đất chuyển dịch theo hướng tích
cực, nguồn lực đất đai được phát huy, góp phần quan trọng thúc đấy kinh
tế - xã hội trên địa bàn thị trấn. Thực hiện Nghị quyết TW6 (khóa XI) về
tiếp tục đổi mới chính sách pháp luật đất đai trong thời kỳ đẩy mạnh toàn
diện công cuộc đổi mới, tạo nền tảng đến năm 2020 nước ta cơ bản trở
thành nước công nghiệp hiện đại. Hiện nay công tác quản lý đất đai trên
địa bàn thị trấn Vĩnh Điện, huyện Điện Bàn bên cạnh những kết quả đạt
được vẫn còn những tồn tại, hạn chế. Do đó công tác Quản lý nhà nước về
đất đai được lãnh đạo địa phương đưa lên hàng đầu để thực hiện việc
quản lý sử dụng đất một cách tiết kiệm, hiệu quả và khoa học.
2. Kết cấu đề tài: Đề tài được chia làm 3 phần
Bàn đang phấn đấu trở thành thị xã vào năm 2015.
Do có đường Quốc lộ 1A đi ngang qua và vị trí nằm gần thành phố Đà
Nẵng cũng như thành phố Hội An nên rất thuận lợi trong việc giao thương buôn
bán, trao đổi hàng hóa. Gần như là điểm nối giao lưu văn hóa, hành trình di sản
giữa phố cổ Hội An và thánh địa Mỹ Sơn (Duy Xuyên) nên Vĩnh Điện cũng rất
thuận lợi trong việc mở các điểm du lịch như: khu nhà cổ Vinahouse, du lịch
sinh thái sông Thu bồn, du lịch làng nghề, du lịch ẩm thực,
1.2 Kinh tế xã hội:
Có vị trí địa lý khá thuận lợi, Vĩnh Điện là trục kết nối với thành phố Đà
Nẵng - Hội An - Tam Kỳ, có dòng sông Thu Bồn tỏa nhánh từ Giao Thủy về
sông Vĩnh Điện, có chợ Vĩnh Điện là trung tâm giao lưu hàng hóa khá phồn
thịnh ở phía bắc của Quảng Nam. Với lợi thế đó, Vĩnh Điện nhanh chóng phát
triển về kinh tế - xã hội. Trên địa bàn thị trấn hiện có 1.147 cơ sở thương mại -
dịch vụ, trong đó có 54 doanh nghiệp; tổng giá trị hàng hóa mua bán hằng năm
hơn 300 tỷ đồng, chiếm 93,3% tổng giá trị toàn nền kinh tế của thị trấn, góp
phần đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế tăng bình quân 28,7% năm.
2
Để từng bước xây dựng Vĩnh Điện thành trung tâm của thị xã Điện Bàn vào
năm 2015, Đảng uỷ thị trấn Vĩnh Điện xác định quy hoạch, đầu tư phát triển cơ sở
hạ tầng là khâu đột phá để mở đường cho việc xây dựng Vĩnh Điện thành đô thị
loại 4. Trong những năm qua thị trấn Vĩnh Điện nói riêng, huyện Điện Bàn nói
chung đã có những bước phát triển về mọi mặt, đời sống nhân dân ngày càng
nâng cao bên cạnh đó hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đã được chính
quyền đầu tư rất lớn, ngày càng hoàn thiện và đồng bộ hơn nhằm tạo ra bộ mặt
ngày càng khang trang cho thị trấn. Để có được những thành quả đó, có công
sức rất lớn của Đảng, Nhà nước, chính quyền sở tại. Ngày 23/5/2007 UBND
tỉnh Quảng Nam ra Quyết định số 1574/QĐ-UBND về việc phê duyệt điều
chỉnh qui hoạch chung xây dựng thị trấn Vĩnh Điện đó là tiền đề hết sức quan
trọng cho sự phát triển về mặt kiến trúc cảnh quan, hạ tầng kỹ thuật và khớp nối
với các khu vực lân cận, của thị trấn Vĩnh Điện trong tương lai. Điều đó cũng
biến pháp luật đất đai và văn bản hướng dẫn thi hành dưới nhiều hình thức như
đọc từng Điều, khoản, hỏi đáp, trả lời liên quan đến đất đai.
+ Bộ phận 1 cửa UBND thị trấn hướng dẫn, trả lời trực tiếp những câu hỏi
của người dân về các vấn đề như: Giao đất, chuyển nhượng, tặng cho quyền sử
dụng đất, bồi thường giải tỏa mặt bằng, TĐC cho nhân dân hiểu là làm theo
Luật.
- Thực hiện tốt các văn bản chỉ đạo liên qua đến đất đai của TW, tỉnh,
huyện
1.3.2. Về thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
UBND thị trấn luôn quan tâm chỉ đạo, tổ chức thực hiện quy hoạch, kế
hoạch sử dụng đất hàng năm làm cơ sở để quản lý, sử dụng đất đai có hiệu quả
theo quy định của pháp luật. Nhìn chung, công tác quy hoạch, xây dựng kế
hoạch sử dụng đất đã được UBND thị trấn tổ chức thực hiện đúng quy định của
Pháp luật, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế - xã hội của thị trấn và
huyện.
1.3.3. Công tác xác định giá đất:
Hằng năm thực hiện theo chỉ đạo của Ban chỉ đạo xây dựng giá đất,
UBND thị trấn đã tổ chức khảo sát, điều tra thực tế các điểm điều tra. Tham
mưu, đề xuất giá đất các tuyến đường trên địa bàn trình UBND huyện tham mưu
UBND tỉnh quyết định. Công tác xây dựng giá đất được hoàn thành đúng thời
gian quy định, đảm bảo kịp thời công bố vào ngày 01/01 hàng năm, cơ bản đáp
ứng được yêu cầu quản lý Nhà nước về đất đai, thực hiện các quyền và nghĩa vụ
liên quan đến các hộ gia đình, cá nhân và tôt chức sử dụng đất.
1.3.4. Công tác giao đất, cho thuê đất, chuyển nhượng, tặng cho
quyền sử dụng đất, chuyển mục đích sử dụng đất:
Trong gần 10 năm qua, UBND thị trấn đã tham mưu cho UBND huyện
giải quyết hồ sơ về đất đai, với tổng số 878 hồ sơ. Trong đó: Giao đất cho 74 hồ
sơ, chuyển nhượng quyền sử dụng đất 281 hồ sơ, tặng cho quyền sử dụng đất
342 hồ sơ, thừa kế quyền sử dụng đất 29 hồ sơ và chuyển mục đích quyền sử
dụng đất 152 hồ sơ (biến động tăng lớn từ năm 2008 đến nay).
trình tự hướng dẫn của Bộ TN&MT, Sở TN&MT tỉnh. Đảm bảo đúng mục đích
yêu cầu; thực hiện đúng phạm vi. đối tượng, nội dung và phương pháp kiểm kê
theo đúng quy định của ngành, nhằm đánh giá đúng thực trạng tình hình biến
động trong việc sử dụng đất, đối tượng sử dụng đất, lập bản đồ sử dụng đất ở thị
trấn làm cơ sở cho việc phát triển kinh tế xã hội, an ninh, quốc phòng, xác định
chính xác quỹ đất chưa sử dụng để đưa vào sử dụng.
Đã hoàn thành công tác thống kê đất đai ngày 01/01/2013
1.3.7. Giải quyết tranh chấp về đất đai; giải quyết khiếu nại, tố cáo
các vi phạm trong việc quản lý và sử dụng đất đai:
Trong gần 10 năm, hầu hết các đơn trên địa bàn thị trấn là tranh chấp đất
đai, xác định ranh giới và đơn xin mua đất, các ban ngành, hội, đoàn thể thị trấn
đã phối hợp khá tốt công tác giải quyết khiếu nại, tranh chấp về đất đai đã hòa
giải thành công hầu hết các đơn tranh chấp, khiếu nại. Đã tham mưu UBND ra
các Thông báo trả lời đơn, các Quyết định giải quyết đơn theo đúng quy định.
Hiện nay số đơn đang thụ lý giải quyết là 05 đơn (03 đơn xin lập thủ tục Cấp
giấy chứng nhận, 1 đơn đề nghị xác định ranh giới và 01 đơn đề nghị trả đất)
Trên cơ sở quy định của Luật Đất đai và các văn bản hướng dẫ thi hành,
Luật Khiếu nại, tố cáo; địa phương đều tổ chức thực hiện nghiêm theo quy định.
Lãnh đạo từ huyện đến thị trấn tổ chức tiếp và đối thoại trực tiếp với công dân,
nắm tâm tư, bức xúc của nhân dân để vận động, giải thích và giải quyết các yêu
cầu, thắc mắc, nguyện vọng chính đáng của nhân dân và hướng dẫn công dân
đến đúng cơ quan có thẩm quyền để được giải quyết theo quy định pháp luật
5
1.3.8. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư:
Thực hiện Nghị định 71/2006/NĐ-CP, 84/2007/NĐ-CP, 69/2009/NĐ-CP
của Chính phủ quy định bổ sung về Quy hoạch sử dụng đất, giá đất, thu hồi đất,
bồi thường, hỗ trợ, TĐC và các Quyết định của UBND tỉnh về bồi thường,
GPMB, hỗ trợ và TĐC khi nhà nước thu hồi đất sử dụng vào mục đích Quốc
phòng, An ninh, lợi ích quốc gia, lợi ích công cộng, mục đích phát triển kinh tế
được quy định tại Điều 36 Nghị định 181/NĐ-CP.
Những văn bản thi hành Luật Đất đai chưa cụ thể hóa được những quy
định liên quan đến những khái niệm về nguồn gốc về nguồn gốc hình thành các
loại đất, nhất là đất ở dẫn đến những khó khăn trong việc nhận hạn mức khi
chuyển quyền sử dụng đất, bồi thường, giải phóng mặt bằng.
6
Các văn bản thi hành Luật thiếu tính ổn định, luôn thay đổi dẫn đến các
văn bản quy phạm pháp luật trên địa bàn tỉnh cũng thay đổi theo, làm gia tăng
tình trạng khiếu kiện, khiếu nại tại thời điểm giao thời giữa 2 chính sách cũ và
mới.
Sự phối hợp giữa các banh, ngành có liên quan (thị trấn, Văn phòng
ĐKQSD đất huyện, Chi cục Thuế huyện…) có lúc chưa kịp thời trong quá trình
thực hiện nhiệm vụ quản lý Nhà nước về đất đai, còn nhiều bất cập, bất hợp lý,
không dồng bộ gây phiền hà cho nhân dân.
- Công tác tuyên truyền, phổ biến học tập Luật Đất đai, các văn bản mới
chưa đều khắp. Chỉ dừng lại ở cán bộ công chức thị trấn và quân dân chính khối
phố nên chưa tạo được chuyển biến nhận thức trong nhân dân
1.4.2. Công tác quản lý quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Tình hình KT-XH trong những năm gần đây phát triển nhanh do đó quy
hoạch sử dụng đất, kế hoạch sử dụng đất được phê duyệt có sự thay đổi. Mặc
khác, do nhu cầu sử dụng đất của một số sự án phát sinh khi chưa xây dựng kế
hoạch hoặc chưa được HĐND cấp thẩm quyền thông qua, vì vậy phải làm thủ
tục bổ sung, dẫn đến việc thực hiện, phê duyệt kế hoạch sử dụng đất chậm.
Sự phối hợp giữa các cấp, các ngành trong công tác lập quy hoạch SDĐ
chưa chặt chẽ, đồng bộ và nhất quán có khi luôn thay đổi, bổ sung thậm chí có
sự chồng chéo lẫn nhau.
Tình trạng mua bán, chuyển nhượng quyền sử dụng đất không qua UBND
thị trấn nên cũng gây khó khăn cho việc quản lý sử dụng đất
1.4.3. Công tác xác định giá đất:
Bảng giá các loại đất do UBND tỉnh công bố hằng năm là kết quả thực
hiện đúng trình tự, thủ tục theo quy định, nhưng thực tế giá đất quy định chưa
thời các tranh chấp phát sinh.
Một số công dân cố ý không chấp hành, lợi dụng dân chủ trong khiếu nại,
tố cáo để đã kích các nhân và tập thể làm cho việc giải quyết khiếu nại của cơ
quan tốn kém thờ gian, công sức.
1.4.6. Công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, tái định cư:
Công tác phân cấp, ủy quyền phê duyệt và thẩm định phương án BT, HT
và TĐC chưa thực sự đạt hiểu quả như mong muốn và làm cho tình trạng khiếu
nại, khiếu kiện xảy ra nhiều mà nguyên nhân chính là do quan điểm, chính sách
giải quyết phù hợp với đặ thù, thực tế của riêng địa phương mình quản lý mà
không có sự thống nhất, hài hòa với các địa phương lân cận trong vùng dự án.
Tính công khai, dân chủ trong tổ chức thực hiện chính sách BT, HT và
TĐC chưa đảm bảo quy trình, quy định.
Việc thực hiện quy định về bồi thường thiệt hại, giải phong mặt bằng,
TĐC còn nhiều bất cập, giá bồi thường không được điều chỉnh kịp thời theo biến
động giá cả,việc áp giá tại một thời điểm nhưng khi chi trả đền bù tại một thời
điểm khác nên số tiền bồi thường không đủ chi phí di dời và xây dựng nhà mới;
chính sách áp giá bồi thường không đồng nhất với giá tính thuế chuyển quyền sử
dụng đất (cùng 1 lô đất).
Việc bố trí quỹ đất để xây dựng các khu TĐC còn bị động, lúng túng nên
ảnh hưởng công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng, TĐC.
Nguồn kinh phí để chi trả bồi thường, xây dựng khu TĐC đa số các dự án
do ngân sách nhà nước bố trí vốn còn bị động. Do khó khăn về nguồn kinh phí
nên nhiều dự án chi trả tiền đền bù kéo dài dẫn đến phát sinh những vướng mắc
khi chính sách bồi thường thay đổi, phát sinh khối lượng, đơn giá bồi thường
chậm.
8
Một số nhà đầu tư năng lực tài chính kém, không thể chi trả bồi thường
cùng một lúc mặt dù phương án đã được phê duyệt. Đơn giá lúc kiểm kê thấp,
đến thời điểm bồi thường thì điều chỉnh tăng. Mặc dù ra đời Nghị định
69/2009/NĐ-CP của Chính phủ quy định bổ sung về quy hoạch sử dụng đất, giá
tác quản lý nhà nước về đất đai. Trong quá trình chỉ đạo, điều hành phải kiên
quyết, cụ thể đồng thời tăng cường công tác kiểm tra giám sát để kịp thời giải
quyết những vướng mắc phát sinh.
- Tất các các cán bộ công chức trong bộ máy quản lý đất đai cần nắm
vững Luật đất đai 2003 (sau này là Luật đất đai 2013 có hiệu lực ngày
9
01/7/2014), các Nghị định, Thông tư, văn bản hướng dẫn để thi hành luật đất
đai. Nâng cao năng lực quản lý của cán bộ chuyên môn bằng cách cử đi học
những khóa nghiệp vụ, bồi dưỡng ngắn, dài hạn liên quan đến lĩnh vực đất đai.
- Thực hiện tốt kế hoạch sử dụng đất đã được các cấp phê duyệt, tránh
tình trạng cấp đất, giao đất, cho thuê đất không đúng thẩm quyền và việc thu tiền
sử dụng đất sai quy định, tình trạng sử dụng đất lãng phí, sai mục đích, lấn
chiếm đất …
- Các ban ngành, đoàn thể phải phối hợp chặt chẽ trong công tác phối hợp,
kiên quyết đấu tranh với việc lợi dụng chức vụ quyền hạn để tư lợi cá nhân. Cấp
ủy Đảng, Ban kiểm tra Đảng ủy, HĐND và chính quyền theo sát và kịp thời
ngăn ngừa và có biện pháp kỷ luật những cán bộ sa sút về đạo đức, phẩm chất,
lối sống, có hành vi vi phạm pháp luật về đất đai.
- Thường xuyên tuyên truyền, vận động nhân dân về lĩnh vực đất đai bằng
nhiều hình thức để người dân hiểu và thực hiện việc sử dụng đất có hiệu quả.
Chương 2
MỤC TIÊU, GIẢI PHÁP VÀ ĐỀ XUẤT NHẰM NẦNG CAO
HIỆU QUẢ CÔNG TÁC QLNN VỀ ĐẤT ĐAI
1. Mục tiêu quản lý nhà nước về đất đai
- Phổ biến Luật Đất đai (2013) và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cho
tất cả cán bộ, tầng lớp nhân dân.
- Nâng cao năng lực về chuyên môn, phẩm chất của đội ngũ cán bộ làm
công tác quản lý đất đai.
- Hoàn thành công tác lập và phê duyệt quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất
chi tiết cho địa phương.
nại, khiếu kiện.
Công khai, minh bạch tất cả các thủ tục hành chính trong lĩnh vực đất đai
để mọi tổ chức, công dân biết để thực hiện.
2.3. Tăng cường công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất:
Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất. Điều chỉnh,
bổ sung kế hoạch sử dụng đất đồng bộ, phù hợp với điều kiện, yêu cầu phát triển
kinh tế - xã hội của thị trấn. Quá trình triển khai thực hiện phải tuân thủ nghiêm
ngặt quy hoạch đã được duyệt, không làm phá vỡ tổng quan cấu trúc chung của
định hướng phát triển. Thực hiện công khai quy hoạch phát triển kinh tế - xã hội
của địa phương, nhất là quy hoạch xây dựng dự án để nhân dân biết vừa tránh
tình trạng xâm lấn đất vùng đã quy hoạch, vừa để người dân tăng cường trách
nhiệm tham gia quản lý quy hoạch.
Tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo cảu cấp ủy đảng, quản lý của nhà nước,
của chính quyền, sự phối hợp cảu Mặt trận Tổ quốc, các hội ban nghành, đoàn
thể nhân dân đối với công tác quản lý sử dụng đất theo chính sách, pháp luật đât
đai quy định. Chính quyền quản lý đất đai bằng chủ trương, chính sách pháp luật
thông qua công tác lập và thực hiện quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất.
11
Tổ chức rà soát lại các phương án quy hoạch sử dụng đất đối với các trường
hợp dự án treo cần đề xuất giải quyết dứt điểm theo hướng điều chỉnh hoặc công
bố hủy bỏ, công khai cho nhân dân biết để thực hiện các quyền sử dụng đất của
mình.
2.4. Nâng cao chất lượng công tác xây dựng giá đất:
Trách nhiệm các cấp xây dựng giá đất phải phù hợp với cơ chế thị trường
có sự quản lý của của Nhà nước.
Nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực hiện công tác định giá đất, khuyến
khích phát triển các tổ chức tư vấn định giá đất.
2.5. Nâng cao năng lực công tác quản lý Nhà nước đối với đất đai:
Thường xuyên thanh tra, kiểm tra, giám sát việc thực hiện chủ trương,
chính sách, pháp luật về đất đai đối với các tổ chức và cá nhân sử dụng đất trên
một số kiến nghị như sau:
* Đối với Nhà nước:
- Hoàn thiện hệ thống chính sách, pháp luật về đất đai;
- Xây dựng và hoàn thiện cơ chế, chính sách tài chính về đất đai;
- Hoàn thiện hệ thống tiêu chuẩn, quy chuẩn, định mức kinh tế - kỹ thuật
trong các lĩnh vực chuyên môn quản lý nhà nước về đất đai; xây dựng và hoàn
thiện định mức sử dụng đất;
- Hoàn thiện phương pháp, quy trình và mở rộng điều tra cơ bản trong lĩnh
vực đất đai, đánh giá tiềm năng đất đai và hiệu quả sử dụng đất phục vụ công tác
quản lý nhà nước về đất đai và yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội;
- Hoàn thiện phương pháp, nội dung, quy trình lập quy hoạch, kế hoạch sử
dụng đất; thực hiện lồng ghép quy hoạch với nhiệm vụ bảo vệ môi trường, ứng
phó với thiên tai và biến đổi khí hậu; đối với đô thị cần nghiên cứu quy trình
lồng ghép quy hoạch sử dụng đất với quy hoạch đô thị;
* Kiến nghị với UBND huyện Điện Bàn và UBND thị trấn Vĩnh Điện
- Phổ biến Luật đất đai 2013 và các Nghị định, Thông tư hướng dẫn
- Tăng cường công tác quản lý về tài chính đất đai nhằm giảm thiểu tình
trạng trốn thuế, nhất là trong việc chuyển quyền sử dụng đất.
- Hoàn thiện quy trình thực hiện các thủ tục hành chính về đất đai theo
hướng cải cách thủ tục hành chính công khai, minh bạch, đơn giản, Thực hiện
giao đất, cho thuê đất theo cơ chế thị trường qua hình thức đấu giá quyền sử
dụng đất;
- Xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu và hệ thống thông tin lưu trữ về đất đai
đồng bộ từ trung ương đến địa phương theo hướng thương mại hóa thông tin đất
đai, thực hiện tự chủ về tài chính;
13
- Củng cố và phát triển các cơ quan chuyên trách về tuyên truyền, giáo dục
chính sách pháp luật đất đai. Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục nâng cao
nhận thức cộng đồng về chính sách, pháp luật đất đai;
- Xây dựng và tăng cường năng lực đội ngũ cán bộ làm công tác quản lý đất