Nghiên cứu thực trạng bệnh tật và hiệu quả một số giải pháp chăm sóc y tế cho người cai nghiện ma túy tại các trung tâm chữa bệnh giáo dục lao động xã hội của - Pdf 13

ĐẶT VẤN ĐỀ
Trong những năm gần đây, tệ nạn ma túy tại Việt Nam, đặc biệt là
thành phố Hồ Chí Minh chưa có chiều hướng thuyên giảm, thậm chí ở một
số địa phương cơ sở có chiều hướng gia tăng. Đến tháng 31/12/2008, tổng số
người nghiện có hồ sơ trong toàn quốc là 173.603 người. Trong đó, có
97.731 người (56,29%) đang ở ngoài xã hội; 31.225 người (17,99%) đang
cai nghiện tại các cơ sở Chữa bệnh giáo dục lao động xã hội (CBGDLĐXH)
và 44.647 người (25,72%) trong các cơ sở trại giam, trại tạm giam của ngành
công an [8]. Tính đến 30/6/2012, toàn quốc có khoảng 171.400 người NMT
có hồ sơ quản lý, trong đó nghiện Heroin vẫn là chủ yếu với tỷ lệ khoảng
84,7% [9]. Tại một số tỉnh, thành phố, số người nghiện tăng cao như Hà Nội,
TP. Hồ Chí Minh, Hải Dương, Thái Bình…
Thành phố Hồ Chí Minh là thành phố thương mại lớn nhất của Việt
Nam, nằm ở phía Nam Việt Nam. Thành phố có 19 quận và 5 huyện. Dân
số hơn 7 triệu người, bao gồm 5.662.308 dân thường trú và khoảng 1,5
triệu dân nhập cư đến từ nhiều tỉnh khác nhau trong cả nước (chưa kể số
dân nhập cư theo thời vụ). Theo số liệu của các cơ quan chức năng của
thành phố, đầu năm 1996, thành phố Hồ Chí Minh có khoảng 5.300
người nghiện ma túy. Đến ngày 15/6/2002, theo kết quả điều tra và thực
tiễn đấu tranh của các quận-huyện và công an thành phố thì số người
nghiện tăng lên hơn 24.000 người và hiện nay lên đến khoảng trên
30.000 người [16], [61]. Đáng lo ngại hơn là ma túy tổng hợp có tính gây
nghiện nhanh và độc hại cao đã xuất hiện tại thành phố trong vài năm
gần đây cùng với việc sử dụng ma túy qua đường tiêm chích đã làm tăng
sự lây nhiễm HIV/AIDS [3], [6]. Tệ nạn nghiện ma túy gia tăng tạo sự
bất an trong đời sống xã hội, nhân dân lo lắng, ảnh hưởng đến công cuộc
1
xây dựng và phát triển của thành phố. Đồng thời, ma túy còn gây tác hại
lớn cho sức khỏe, đặc biệt là trong thanh thiếu niên nghiện hút, chích,
ảnh hưởng xấu tới nòi giống dân tộc, để lại hậu quả nghiêm trọng cho
các thế hệ mai sau [82].

nó, khi đó gây tổn thương và nguy hại cho người sử dụng và cộng đồng
[82].
Phân loại chất ma túy: Có nhiều cách phân loại, sau đây là một cách
phân loại cơ bản [59], [60], [82]:
- Dựa vào nguồn gốc, ma túy được chia làm ba nhóm: ma túy tự nhiên,
ma túy bán tổng hợp và ma túy tổng hợp.
+ Ma túy tự nhiên: Là các chất có nguồn gốc tự nhiên như thuốc phiện
và các sản phẩm của thuốc phiện như morphine, codein , côca và các hoạt
chất của nó như cocain, cần sa và các sản phẩm của cần sa.
+ Ma túy bán tổng hợp: Là các chất ma túy được điều chế từ các chất là
sản phẩm tự nhiên bằng cách cho tác dụng với một số hóa chất để thu được
chất ma túy có tác dụng mạnh hơn chất ma túy ban đầu, ví dụ hêroin
+ Ma túy tổng hợp: Là các chất ma túy được điều chế bằng phương
pháp tổng hợp hóa học toàn phần từ các hóa chất (được gọi là tiền chất). Ví
dụ: Amphetamin, Methamphetamin, Dolargan
- Dựa vào mức độ gây nghiện và khả năng lạm dụng, ma túy được chia ra
hai nhóm [60], [82]:
+ Ma túy có hiệu lực cao (Amphetamin, Methamphetamin ).
3
+ Ma túy có hiệu lực thấp (nhựa thuốc phiện, lá cây cần sa ).
- Dựa vào tác dụng sinh lý trên cơ thể con người, ma túy được chia ra
làm 8 nhóm gồm [59], [60]:
+ Nhóm thuốc phiện và các chế phẩm.
+ Nhóm cần sa và các sản phẩm của cần sa.
+ Nhóm côca và các sản phẩm của côca.
+ Nhóm thuốc ngủ.
+ Nhóm các chất an thần.
+ Nhóm các chất kích thích.
+ Nhóm các chất gây ảo giác điển hình.
+ Nhóm dung môi hữu cơ và các thuốc xông.

nào.
+ Có khuynh hướng tăng dần liều dùng, liều dùng lần sau phải cao
hơn liều dùng lần trước mới có tác dụng.
+ Tâm sinh lý bị lệ thuộc vào tác dụng của chất đó.
+ Thiếu thuốc sẽ xuất hiện các triệu chứng như uể oải, hạ huyết áp,
lên cơn co giật, đau đớn và có thể làm bất cứ điều gì miễn là có chất ma
túy để dùng.
Theo quan điểm y học, trong Bảng phân loại bệnh quốc tế lần thứ 10
(10
th
International Classification of Disease – ICD-10), Tổ chức Y tế thế
giới xếp NMT vào loại rối loạn tâm thần và hành vi (RLTT&HV) do các
chất tác động tâm thần (F.1) và được mã hóa theo [107].
Người NMT có thể mắc nhiều bệnh thể chất và tâm thần khác nhau, đặc
biệt là các bệnh gây tàn phế, tử vong cao [1], [28], [41], [79], [82], [88]
+ Quá liều, ngộ độc, hôn mê.
5
+ Nhiễm trùng huyết, nhiễm trùng nội tạng: Viêm gan B, viêm gan
C, Osler (viêm nội tâm mạc), nhiễm HIV/AIDS.
+ Loạn thần, mất nhớ, mất trí
Thực ra, người NMT trước khi bị các bệnh lý gây hại sức khỏe trên,
thông thường đã lâm vào cảnh:
+ Giảm và mất khả năng lao động, thất nghiệp.
+ Tổn hao tài sản, tiền bạc.
+ Suy đồi về nhân cách và đạo đức dẫn đến hành vi phạm tội.
1.1.2. Ảnh hưởng của ma túy
* Đối với bản thân người nghiện:
- Ma túy làm hủy hoại sức khỏe, làm mất khả năng lao động, học
tập, làm cho thần kinh người nghiện bị tổn hại. Dùng ma túy quá liều có
thể dẫn đến tử vong [41].

[82].
- Đối với hệ tim mạch: Các chất ma túy làm tăng nhịp tim ảnh
hưởng trực tiếp lên tim gây co thắt mạch vành, tạo nên cơn đau thắt
ngực, có thể gây nhồi máu cơ tim [76], [82].
- Đối với hệ thần kinh: Sử dụng ma túy giai đoạn đầu có thể gây
hưng phấn sảng khoái lệ thuộc thuốc…, sau đó xảy ra những tai biến như
co giật, xuất huyết, đột quỵ [42], [82].
- Đối với hệ sinh dục: Ngoài một vài chất ma túy tăng khả năng tình
dục, hầu hết ở người NMT khả năng tình dục giảm rõ rệt và điều này còn
tồn tại sau khi ngưng dùng thuốc một thời gian dài [42], [82].
Ngoài ra, người dùng ma túy còn bị những tác hại như hủy hoại tế
7
bào gan, ảo thính, ảo thị…[42], [76], [82].
1.1.4. Tình trạng sức khỏe của người nghiện ma túy
Qua một số nghiên cứu cho thấy, người NMT sức khỏe giảm sút
nhanh chóng, giảm khả năng lao động; có thể bị rối loạn về dinh dưỡng,
biếng ăn; không phân biệt được cảm giác nóng lạnh, nhiều trường hợp
dùng ma túy với liều cao làm tê liệt thần kinh và dẫn đến cái chết. Người
NMT rất dễ mắc một số bệnh nguy hiểm đối với tính mạng như nhiễm
trùng huyết, trụy tim mạch…, đặc biệt người NTCMT có nguy cơ cao
nhiễm HIV/AIDS, HBV, HCV… [42], [72], [82].
Hiện nay, việc sản xuất và sử dụng các chất kích thích Amphetamine
đang ngày một lan rộng, trên toàn thế giới ước tính có 40 triệu người sử
dụng loại ma túy này và đã trở thành một nạn dịch đáng báo động. Ngày
càng có nhiều người đứng trước nguy cơ bị đe dọa về sức khỏe do sử
dụng ATS (Amphetamine – Type Stimulants), có thể do họ đã không
nhận thức được mối nguy hiểm này. Hiện nay, người ta còn lo ngại về độ
độc hại lâu dài của ATS. Theo nghiên cứu, việc sử dụng MDMA
(Methylene Dioxy MethamphetAmine) (tác nhân hoạt động mạnh trong
Ecstasy) sẽ làm giảm khả năng trí tuệ [72].

tổng số 442 đối tượng của trại) phải vào bệnh viện tỉnh điều trị.
Nghiên cứu về tình hình sức khỏe của đối tượng cai nghiện ma túy
bắt buộc tại TT Giáo dục lao động xã hội thành phố Hà Nội, năm 2004
của tác giả Phùng Quang Thức [72], cho thấy:
Tới 77,2% đối tượng tự đánh giá từ khi NMT sức khỏe bị giảm sút
và hay mắc các chứng bệnh: đau đầu, mất ngủ, đau bụng, tiêu chảy, mỏi
mệt, buồn bực, khó chịu… Các chứng bệnh này có từ 38,3–73,9% đối
tượng đã mắc phải. Tương tự có 60,7% đối tượng cho là ăn uống giảm
9
sút và 71,9% cho rằng giảm khả năng lao động [41], [42], [76].
Có 7% đối tượng bị STDs, trong số đó chỉ có 25% đối tượng khám
và điều trị tại cơ sở y tế Nhà nước, còn đa số các trường hợp khám và
điều trị tại các cơ sở y tế tư nhân, tự mua thuốc điều trị hoặc không điều
trị gì.
Về cơ cấu dinh dưỡng của đối tượng NMT qua khám sức khỏe và
kết quả xét nghiệm HIV/AIDS: Có 33,2% đối tượng nhẹ cân qua đánh
giá bằng chỉ số khối cơ thể BMI, và có một tỷ lệ nhỏ 2,9% dư cân và béo
phì độ I, còn lại là bình thường.
Về kết quả xét nghiệm HIV/AIDS: Qua kết quả xét nghiệm 378 đối
tượng cai nghiện ma túy bắt buộc tại trung tâm, có 30,4% đối tượng có
kết quả HIV(+). Tỷ lệ này tương đương với kết quả nghiên cứu tình hình
nhiễm HIV trong phạm nhân NMT tại các trại giam của Bộ Công an
(28%) và An Giang (28,6%); thấp hơn ở Quảng Ninh, nơi có tỷ lệ phạm
nhân NMT nhiễm HIV cao nhất là 55,5%, nhưng cao hơn so với Tiền
Giang (20,5%) và Bình Dương (16,3%).
Nhiều nghiên cứu [41], [42], [76], đã chỉ ra rằng: Nhồi máu cơ tim,
suy tim, rối loạn nhịp, phình động mạch, viêm nội tâm mạc là những
biến chứng hay gặp ở người nghiện ma túy. Nguy cơ nhồi máu cơ tim
tăng lên gấp 24 lần sau 60 phút sử dụng chất gây nghiện.
Chứng nhồi máu cơ tim ở người dùng ma túy khó chẩn đoán vì 2

tính chất toàn cầu. Hành vi sử dụng chất ma túy là bất hợp pháp nên rất khó
quản lý và xác định được chính xác đối tượng NTCMT [27], [91]. Vấn đề
nhiễm HIV có liên quan đến tiêm chích ma túy đã được cảnh báo ở ít nhất
128 nước. Tiêm chích ma túy đã nhanh chóng trở thành một phương thức
11
lây truyền HIV có ý nghĩa quan trọng tại nhiều vùng trên thế giới [92],
[94], [95], [96], [103], [104], [106].
Tỷ lệ nhiễm HIV ở đối tượng NTCMT ở một số nước tương đối cao,
tại Iran 50%, Braxin trên 30%, ở những bang mà việc mua bán BKT bị
hạn chế hoặc không cho phép như New Jersey và New York (Hoa Kỳ) thì
tỷ lệ nhiễm HIV ở nhóm người nghiện chích lại lên tới 50%, tại bang
Manypur (Đông Bắc Ấn Độ) 73%, tại Myanma 60%, tại Trung Quốc
67%, tại Thái Lan 40% [31], [89], [94], [96].
Tại Việt Nam, vụ dịch bùng nổ trong nhóm người NTCMT năm
1993–1994 tại khu vực phía Nam, trong đó có TPHCM và Khánh Hòa,
sau đó dịch lại bùng nổ trong nhóm người NTCMT trẻ tuổi ở các tỉnh
phía Bắc, điển hình là Quảng Ninh, Hải Phòng, Lạng Sơn, Hà Nội [4],
[40]. Tỷ lệ người nghiện tiêm chích nhiễm HIV là 17,28% (năm 1994),
14,89% (năm 1995), đến năm 1996 hạ xuống thấp nhất là 10,89%. Hiện
nay, các dự báo đều có chung nhận định là tỷ lệ người NTCMT nhiễm
HIV có chiều hướng giảm xuống. Nhưng tỷ lệ này tăng lên 12,87% (năm
1997), 18,88% (năm 1999), 23,9% (năm 2000) và 20,27% (năm 2008),
một số tỉnh/TP tỷ lệ này rất cao: TP. Hồ Chí Minh 50%; Cần Thơ
46,07%; Điện Biên 40,26%; Tuyên Quang 38,59%; Quảng Ninh 33,25%
[32], [37], [44], [57].
Đã có những nghiên cứu về các yếu tố nguy cơ nhiễm HIV ở người
NTCMT cho thấy việc dùng chung BKT và số lần tiêm chích ma túy là
những yếu tố nguy cơ lây nhiễm HIV ở đối tượng nghiện chích ma túy. Một
nghiên cứu tại Hải Phòng cho thấy những người NTCMT có quan hệ tình
dục nhiều hơn đối tượng khác, trong đó có 30% không bao giờ sử dụng BCS

13
Tây Ban Nha, tỷ lệ mang HBsAg(+) ở đối tượng NTCMT là 13% [94]. Việt
Nam là một nước nằm trong khu vực Đông Nam Á có nguy cơ cao nhiễm
HBV, tỷ lệ người mang HBsAg(+) trong cộng đồng là 15–26%.
Bệnh viêm gan C đã được đề cập đến như là bệnh viêm gan “không
A, không B”, năm 1989 đã xác định rõ tác nhân gây bệnh. Tỷ lệ viêm
gan C phần lớn gặp ở đối tượng NTCMT, có khoảng 40–60% người
NTCMT bị xơ gan do viêm gan C. Thời gian ủ bệnh của vi rút viêm gan
C từ 15–150 ngày, trong giai đoạn cấp thường gặp các triệu chứng thông
thường như sốt, vàng da. Tuy nhiên có tới 90% là viêm gan B [44], [46],
[50], [92], [93], [94].
* Tình hình đồng nhiễm HIV, HBV, HCV:
Một nghiên cứu về tình trạng nhiễm kép HIV và HCV ở người
nghiện chích ma túy tại Mỹ cho thấy có 40% những người nhiễm HIV có
nhiễm HCV, điều này đã làm cho công tác điều trị gặp rất nhiều khó
khăn vì có nhiều tác dụng phụ trong điều trị. Mặt khác khi nhiễm HIV,
khả năng miễn dịch bị suy giảm nên vi rút viêm gan C không bị tác động
của kháng thể nên nhân lên rất nhanh [94]. Một nghiên cứu trên 2.961
quân lính có nghiện chích ma túy ở Anh cho thấy 30% đối tượng có Anti
HCV (+) và 22% mang HBsAg(+) [105], [108], [109], [110], [111].
1.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cai
nghiện ma túy tại các trung tâm
Trong giai đoạn 2006 – 2010, cả nước đã tiếp nhận cai nghiện cho
250.000 lượt người, bằng 170,4% so với người nghiện có hồ sơ quản lý
(trung bình mỗi đối tượng được cai nghiện 1,7 lần), tăng 43.090 người so
với giai đoạn 2001 – 2005, trong đó:
- Các Trung tâm cai nghiện trong cả nước đã tiếp nhận cai nghiện
cho 169.007 lượt người, vượt 70,4% so với chỉ tiêu đề ra theo Quyết định
14
số 49/2005/QĐ-TTg, chiếm 67,6% tổng số người nghiện được cai, tăng

trưởng bản trong vận động tham gia cai nghiện, giáo dục, quản lý sau
cai; các cơ sở sản xuất, doanh nghiệp hỗ trợ học nghề, tạo việc làm hoặc
sự tham gia đóng góp tiền ăn của người cai nghiện.
Nhiều mô hình cai nghiện có hiệu quả đã được xây dựng và duy trì,
như: Mô hình quản lý sau cai tại trung tâm của Thành phố Hồ Chí Minh;
mô hình cai nghiện 3 giai đoạn của tỉnh Tuyên Quang; mô hình cai
nghiện tại cộng đồng và quản lý sau cai của tỉnh Sơn La; mô hình cai
nghiện tại xã, cụm xã và quản lý sau cai tại câu lạc bộ sau cai, kết hợp
với hỗ trợ vốn giải quyết việc làm cho người sau cai gắn với hộ gia đình,
cho đồng bào dân tộc vùng cao ở huyện Mường Khương (Lào Cai); mô
hình Trung tâm cai nghiện cấp huyện; mô hình do ủy ban nhân dân cấp
xã và các tổ chức chính trị, đoàn thể, xã hội giúp người nghiện cai nghiện
và tái hòa nhập cộng đồng, thực hiện tại các thành phố, tỉnh đồng bằng;
mô hình cai nghiện tự nguyện tại các TT CBGDLĐXH, mô hình thí điểm
điều trị chống tái nghiện bằng Natroxone; mô hình điều trị nghiện các
chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế Methadone… [14].
1.2.1. Đặc điểm của người nghiện ma túy:
* Độ tuổi của người nghiện ma túy ngày càng trẻ. Năm 1994, số
người nghiện ở độ tuổi dưới 30 chiếm 42% trong tổng số người nghiện,
tới nay tỷ lệ này đã tăng lên 70%. Một số tỉnh/thành phố như: Hà Nội,
Quảng Ninh, Hải Dương, Hải Phòng… tỷ lệ người nghiện dưới 30 tuổi
chiếm 80%–90% tổng số người nghiện [55], [82].
* Các loại ma túy được sử dụng ngày càng đa dạng, trong đó các
16
loại ma túy mạnh, ma túy kích thích thần kinh ngày càng trở nên phổ
biến. Năm 1994, 85% tổng số người nghiện ma túy sử dụng thuốc phiện,
thì tới nay 87% người nghiện đã chuyển sang sử dụng Hêrôin; 4,5% sử
dụng ma túy kích thích thần kinh như Amphetamin, Ecstasy,
Methamphetamin. Một số địa phương có tỷ lệ người nghiện Hêrôin rất
cao như: Hải Phòng, Hải Dương, Quảng Ninh có trên 90% người nghiện

18–25 tuổi chiếm 50,65%, từ 26–30 tuổi chiếm 29,58%, từ 31–40 tuổi
chiếm 10,45%, trên 40 tuổi chiếm 2,10%.
- Về trình độ học vấn: Người NMT có trình độ học vấn nói chung
thấp: 11,52% bị mù chữ; 30,16% tiểu học, 41,93% trung học cơ sở.
- Về nghề nghiệp: Số có nghề nghiệp chuyên môn rất ít, khoảng 9%.
Tất cả những vấn đề nêu trên dẫn đến hệ quả là nguy cơ tái nghiện
rất cao, hiệu quả hoạt động cai nghiện phòng chống tệ nạn nghiện ma túy
bị hạn chế, rất khó khăn cho công tác chăm sóc y tế, phòng ngừa lây lan
đối với người nghiện ma túy, nguy cơ bùng phát đại dịch HIV/AIDS từ
số đông người sử dụng ma túy ngày càng tăng lên [17], [18], [19], [20],
[21], [22], [23], [62].
1.2.2. Thực trạng sử dụng dịch vụ chăm sóc sức khỏe của người cai
nghiện ma túy
Về mặt lý thuyết, khả năng để sử dụng dịch vụ y tế khác nhau với
mỗi người phụ thuộc vào sự sẵn có, chất lượng, giá thành, mức độ bệnh,
khoảng cách và khả năng tiếp cận của bệnh nhân. Có nhiều yếu tố tác
động đến việc lựa chọn dịch vụ y tế, bao gồm các yếu tố chủ quan thuộc
về bản thân người sử dụng (bệnh nhân), có những yếu tố nảy sinh từ môi
trường xã hội và có cả những yếu tố xuất phát từ phía người cung cấp
18
dịch vụ y tế [26].
Tuy nhiên, người cai nghiện ma túy tại các TT CBGDLĐXH không
thể có quyền lựa chọn dịch vụ y tế nào khác, ngoài phòng y tế của trung
tâm. Do đó, các yếu tố quyết định đến việc sử dụng dịch vụ y tế trong
việc khám chữa bệnh của người CNMT, có thể có những yếu tố sau [42],
[43], [72]:
- Các yếu tố dịch vụ y tế: Đây là vấn đề cốt lõi trong việc nâng cao
chất lượng của nơi cung cấp dịch vụ y tế, đó là Phòng Y tế của trung
tâm. Vấn đề này lại phụ thuộc vào số lượng, chất lượng và cơ cấu cán bộ
y tế, trang thiết bị y tế, thuốc chữa bệnh và cơ sở vật chất.

và các bệnh lây truyền qua đường tình dục khác).
Mặt khác, các biện pháp trong chăm sóc và điều trị cũng được quan
tâm để nhằm giảm thiểu tác hại của các bệnh do ma túy gây ra (suy dinh
dưỡng, rối loạn tâm thần), các bệnh lây nhiễm khác trong quá trình sử
dụng ma túy (HIV, HBV, HCV, STDs, các bệnh đường hô hấp) và các
bệnh cơ hội khác do HIV gây ra (lao, tiêu chảy, suy kiệt) [94], [99].
* Tại Việt Nam:
Từ những năm 1975, tại TPHCM đã có TT Chữa bệnh Phú Văn và
TT Giáo dục dạy nghề Bình Triệu là những nơi cai nghiện ma túy đầu
tiên, về sau có thêm TT Giáo dục dạy nghề và Giải quyết việc làm Nhị
Xuân và TT Tư vấn và Cai nghiện ma túy. Những TT này bước đầu đã có
quan tâm đến công tác CSSK cho người CNMT thông qua việc thành lập
các tổ y tế để khám chữa bệnh cho học viên, nhưng việc làm này chỉ
mang tính tự phát.
20
Tháng 12 năm 2000, Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 8 thông qua Luật
Phòng chống ma túy [59]. Trong đó có đề cập đến một số nội dung có
liên quan đến công tác cai nghiện và chăm sóc y tế: “Gia đình có người
nghiện ma túy có trách nhiệm giúp người nghiện ma túy cai nghiện tại
gia đình theo sự hướng dẫn giám sát của cán bộ y tế và chính quyền cơ
sở.” (Điều 26, khoản 2, điểm b); “Trong thời gian cai nghiện bắt buộc,
người nghiện ma túy có trách nhiệm: Lao động, học tập, chữa bệnh để
cai nghiện.” (Điều 30, khoản 2); “Trong cơ sở cai nghiện, những người
nghiện ma túy sau đây phải được bố trí vào các khu vực tách riêng với
những người nghiện ma túy khác để quản lý và chữa bệnh: …Người có
bệnh truyền nhiễm nguy hiểm…” (Điều 32, khoản 1, điểm c) [59], [60].
Do đó, công tác chăm sóc và phục hồi sức khỏe cho người CNMT
tại các TT CBGDLĐXH cần được quan tâm đúng mức [34]. Trong đó,
cần đặc biệt lưu ý tới các nội dung sau [72]:
- Chế độ dinh dưỡng.

xét nghiệm HIV tự nguyện… và cần đạt độ bao phủ đầy đủ.
- Năm 2001, UNGASS về HIV/AIDS: Đến năm 2005, các quốc gia
đều phải triển khai được các chương trình giảm tác hại.
- Năm 2003, Chiến lược sức khỏe toàn cầu của WHO: Giảm tác hại
là một trong những nhân tố chính đáp ứng y tế đối với HIV/AIDS.
Hiện nay các nước trên thế giới thường áp dụng 3 biện pháp can
thiệp giảm tác hại do sử dụng ma túy gây ra [75], [76], [97]:
- Điều trị nghiện các chất dạng thuốc phiện bằng thuốc thay thế.
- Trao đổi BKT sạch và cung cấp BCS.
- Hợp thức hóa cần sa.
22
1.3.2. Các biện pháp giải độc phạm vi rộng hồi phục sức khỏe cho
người nghiện ma túy của Hoa Kỳ
Năm 1979, một tác giả người Mỹ tên là L. Ron Hubbard đã đặc biệt
chú ý đến lĩnh vực hồi phục sức khỏe cho người NMT. Ông đã phát hiện
sự kiện ma túy kết dạng trong mô sống của người nghiện sau khi đã dứt
bỏ ma túy vẫn bị ảnh hưởng dai dẳng nhiều năm về sau [42], [100].
Chương trình thanh tẩy hay là các biện pháp giải độc phạm vi rộng
được phát triển nhằm giúp người NMT phóng trục và đẩy ra khỏi cơ thể
những cặn độc đã bám và tích đọng trong các mô, tạo điều kiện cho sự
tái tạo các mô và các tế bào bị hư hại. Nhưng trước đó bắt buộc người
NMT phải cai thuốc, không dùng ma túy và áp dụng một chế độ điều trị
cốt yếu bằng dinh dưỡng [42], [100].
Người NMT, bên cạnh những yếu tố thể chất bị suy sụp, còn lưu giữ
trong tiềm thức những hình ảnh ấn tượng tâm trí gây ra do tác động của
thuốc, là những hình ảnh màu 3 chiều của đủ âm thanh, mùi vị, tri giác, cộng
thêm với những suy nghĩ và kết luận riêng của người đó là bản sao của tri
giác đã có vào một lúc nào đó trong quá khứ. Ví dụ: một người nghiện LSD
(Lysergic acid Diethylamide) sẽ lưu giữ trong đầu óc những “hình ảnh” ghi
lại đầy đủ các thị kiến, cảm giác về thể chất, mùi vị, âm thanh… khi người

1. Tập thể dục bằng cách chạy bộ để kích thích tuần hoàn máu làm
cho máu tưới sâu hơn vào bên trong các mô, để tách bong ra các cặn độc
bám đọng lại trong đó.
2. Tắm hơi theo chỉ dẫn: Ngay sau khi chạy bộ, phải lập tức tắm hơi
cho xuất nhiều mồ hôi, tạo điều kiện bài tiết ra ngoài cơ thể những cặn
độc đã bị trục xuất ra ngoài các mô.
24
3. Dùng đầy đủ thức uống và chất khoáng để bù đắp lượng đã mất
theo mồ hôi, giữ cân bằng nước muối khoáng cho cơ thể.
4. Dùng đầy đủ các sinh tố để bù đắp lượng sinh tố dự trữ của cơ thể
bị tiêu hao do tác hại của ma túy và các chất độc hóa sinh khác.
5. Chế độ ăn bình thường, nhiều rau tươi, thêm nhiều dầu ăn để loại bỏ,
thay thế các chất béo của cơ thể đã bị biến đổi do ảnh hưởng các chất độc.
6. Thời biểu sinh hoạt cá nhân đúng đắn, có đủ thời gian ngủ và
nghỉ ngơi bình thường.
Những quy tắc này không xa lạ gì với mọi người, nhưng phải được
kết hợp thật chuẩn xác, đúng đắn mới mang lại kết quả tốt đẹp. Vì
chương trình có tính chất kỹ thuật và đòi hỏi phải gắng sức nên chỉ được
thực hiện sau khi có bác sỹ khám sức khỏe và phê chuẩn. Người bệnh
tim, thiếu máu hoặc bệnh về thận, cơ thể quá suy nhược phải có một
chương trình tương tự nhưng nhẹ nhàng hơn [42], [75].
Một điều cần chú ý là: Khi thực hiện chương trình, người NMT
thường bị tái cảm nghiện nhiều kiểu tác động của những chất đã dùng
trước đó, để bảo đảm nếu ở nơi tập trung, phải luôn luôn làm các biện
pháp trên ít nhất với một người nữa dưới sự giám sát của những nhân
viên đã được huấn luyện có kinh nghiệm. Nếu thực hiện riêng trong gia
đình thì người thân phải bảo đảm nắm chắc các yếu tố, quy luật và luôn ở
cạnh người bệnh để chỉ dẫn, động viên và giải quyết kịp thời những sự
cố có thể xảy ra [42], [80].
1.3.3. Các giải pháp chăm sóc sức khỏe người nghiện ma túy tại Việt Nam


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status