ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THIỆN SƠN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG
VÀ CHO THỊT CỦA LỢN LỬNG
NUÔI TẠI HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHĂN NUÔI
THÁI NGUYÊN - 2017
i
ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
BÙI THIỆN SƠN
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH SẢN, SINH TRƯỞNG
VÀ CHO THỊT CỦA LỢN LỬNG
NUÔI TẠI HUYỆN TÂN SƠN TỈNH PHÚ THỌ
Chuyên ngành: Chăn nuôi
Mã số: 60. 62. 01. 05
LUẬN VĂN THẠC SỸ CHĂN NUÔI
Người hướng dẫn khoa học: 1. PGS.TS. Trần Huê Viên
2. TS. Hồ Lam Sơn
nghiệp đã động viên, tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình hoàn thành luận
văn này.
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng cảm ơn chân thành và sâu
sắc tới tất cả những sự giúp đỡ quý báu đó.
Hà Nội, ngày 10 tháng 12 năm 2017
Tác giả
Bùi Thiện Sơn
iii
MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN ............................................................................................................. i
LỜI CẢM ƠN ..................................................................................................................ii
MỤC LỤC ..................................................................................................................... iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT ................................................................................ iv
DANH MỤC CÁC BẢNG, BIỂU.................................................................................. vi
MỞ ĐẦU ......................................................................................................................... 1
Chương 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU .......................................................................... 3
1.1. Tổng quan về lĩnh vực bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương .......... 3
1.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến ngoại hình ...................................................................... 4
1.3. Khả năng sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái ..... 5
1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái ............................................ 6
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái .................................... 7
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất lượng thịt lợn......... 12
1.5. Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước ................................................... 15
1.5.1. Tình hình nghiên cứu ở trong nước ..................................................................... 15
1.5.2. Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài .................................................................... 22
1.6. Vài nét về điều kiện tự nhiên, xã hội huyện Tân Sơn tỉnh Phú Thọ ...................... 24
Chương 2: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU .... 26
2.1. Đối tượng nghiên cứu. ............................................................................................ 26
KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ ......................................................................................... 69
TÀI LIỆU THAM KHẢO........................................................................................... 71
v
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
a*
:
Redness (độ đỏ)
b*
:
Yellowness (độ vàng)
CS
:
Cai sữa
cs
:
Cộng sự
GRH
:
Ganadotropin Release Hormone
H-FABP
:
Heart-fatty acid binding protein
TL
:
Trọng lượng
L*
:
Lightness (độ sáng)
Mean
:
giá trị trung bình
TCVN
:
Tiêu chuẩn Việt Nam
TKL
:
Tăng khối lượng
TLMNBQ
:
Tỷ lệ mất nước bảo quản
TLMNCB
:
Tỷ lệ mất nước chế biến
TTTĂ
:
Tiêu tốn thức ăn
vii
Hình 3.10: Đồ thị sinh trưởng tương đối của lợn Lửng qua các tháng tuổi ........ 60
Hình 3.11: Biểu đồ khả năng cho thịt của lợn Lửng ........................................... 62
Hình 3.12: Biểu đồ độ pH của thịt lợn Lửng ...................................................... 67
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Việt Nam là một nước nằm ở khu vực Đông Nam Á, trên một dải đất hẹp
nhưng đa dạng về sinh thái tự nhiên, phong phú về văn hoá, với hơn 54 dân tộc
sinh sống. Vì mục tiêu tồn tại và sinh sống, các dân tộc đã biết thuần hoá động
vật thành vật nuôi phục vụ cho mục đích sản xuất của mình. Vì vậy, hầu như các
dân tộc đều sở hữu riêng những giống vật nuôi bản địa đặc trưng cho vùng miền
của mình. Cùng với thời gian, qua chiều dài năm tháng và những biến động về
tự nhiên, xã hội đã có nhiều loài động vật được sinh ra và mất đi theo lịch sử.
Đối với con lợn, trước đây do nền kinh tế còn khó khăn nên mục tiêu là
tạo ra nhiều sản phẩm. Vì vậy, chúng ta đã nhập nhiều giống lợn ngoại năng suất
cao (Yorkshire, Landrace, Duroc…). Việc sử dụng các giống lợn cao sản nhập
nội này và đặc biệt khi ưu thế lai càng được khai thác nhiều, lợn lai nuôi thịt đã
có tốc độ tăng trọng nhanh, các chỉ tiêu về độ dày mỡ lưng, tiêu tốn thức ăn đã
giảm nhiều so với các giống lợn nội nên đã gây nên hiện tượng lãng quên đi các
giống lợn địa phương, một số giống lợn còn có nguy cơ tuyệt chủng. Trong thực
tế, nước ta đã mất đi nhiều giống lợn nội quý như: lợn Ỉ, lợn Trắng Phú Khánh,
lợn Thuộc Nhiêu … Ý thức về việc bảo vệ và phát triển các nguồn gen lợn nội,
trong những năm gần đây nhà nước quan tâm đặc biệt và đã đầu tư lớn cho
chương trình: “Nghiên cứu đánh giá, bảo tồn, phục tráng, khai thác và phát triển
…” được thể chế qua các nhiệm vụ đối với các giống lợn nội như: Khai thác và
phát triển giống lợn Hạ Lang và Táp Ná; Khai thác và phát triển giống lợn Vân
Pa, Nghiên cứu đánh giá tiềm năng di truyền của các giống lợn nội… đã và đang
tính năng sản xuất, chất lượng, tính chất lý hóa của thịt. Kết quả đề tài cũng làm
cơ sở để xây dựng và triển khai đề án phát triển chăn nuôi lợn Lửng tại địa
phương.
- Bảo tồn nguồn gen vật nuôi, làm nguyên liệu cho việc lai tạo kế tiếp
3.2. Ý nghĩa thực tiễn:
- Nhằm định hướng bảo tồn và phát triển giống lợn này phục vụ thị trường
và tăng thu nhập cho người dân.
- Làm tài liệu trong giảng dạy và là tài liệu tham khảo cho những người
chăn nuôi.
3
Chương 1
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
1.1. Tổng quan về lĩnh vực bảo tồn và phát triển các giống vật nuôi địa phương
Việt Nam là nước thuộc vùng nhiệt đới gió mùa, có dải đất hẹp trải dài theo
chiều Bắc - Nam và chịu nhiều tổn thất nặng nề trong các cuộc chiến tranh xâm
lược. Nhưng chúng ta lại có một kho tàng đa dạng sinh học phong phú, mặc dù
một số loại động thực vật đã bị tuyệt chủng hay một số khác đang có nguy cơ
tuyệt chủng bởi một số nguyên nhân như: áp lực của cơ chế thị trường chạy theo
năng suất cao, chạy theo thị trường mà đã bỏ quên giống địa phương năng suất
thấp nhưng có chất lượng thịt cao; tác động của kỹ thuật mới về truyền giống
nhân tạo đã tạo ra nhiều giống lai có năng suất cao, làm cho giống nội thuần có
năng suất thấp dần biến mất. Sự tuyệt chủng của một số loại động vật, vật nuôi
địa phương có năng suất thấp nhưng mang những đặc điểm quý giá như: thịt thơm
ngon, chịu đựng kham khổ tốt, dinh dưỡng thấp, thích nghi cao với điều kiện sinh
thái khắc nghiệt là một điều đáng tiếc.
Nhận thấy hiểm họa đang đến đối với các giống vật nuôi nội địa, cho nên
từ những năm 1989 đến nay Bộ Khoa học và Công nghệ đã cho thực hiện đề án
Bảo tồn nguồn gen vật nuôi một trong nhiều đề án bảo tồn nguồn gen động, thực
thể hiện ra bên ngoài. Điều này thường thấy ở các giống lợn bản địa khi đặc
điểm ngoại hình của giống là màu đen toàn thân, nhưng có khi trong đàn xuất
hiện một vài cá thể có loang trắng ở chân, bụng, mõm, v.v..
* Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh
Điều kiện sống cũng làm ảnh hưởng đến đặc điểm ngoại hình của lợn do
đấu tranh, tồn tại và thích nghi. Ví dụ, lợn rừng có thân hình thanh chắc, chân
khỏe, mõm dài và thường có răng nanh dài, các yếu tố này sẽ giúp lợn rừng có
thể di chuyển linh hoạt, tìm kiếm, đào bới và săn mồi để tồn tại trong môi trường
tự nhiên. Ngoài ra, nhiệt độ và cường độ chiếu sáng của môi trường sống cũng
làm thay đổi màu sắc lông da của lợn.
5
1.3. Khả năng sinh sản và các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Sinh sản là một quá trình sinh học hết sức phức tạp của cơ thể động vật
đồng thời là chức năng duy trì giống nòi và tái sản xuất của vật nuôi. Sinh sản
hữu tính là hình thức sinh sản cao nhất và phổ biến nhất ở cơ thể động vật, đó là
quá trình có sự tham gia của hai cơ thể đực và cái, là một quá trình mà ở đó con
đực sản sinh ra tinh trùng, con cái sản sinh ra trứng, thụ tinh giữa tinh trùng và
trứng hình thành hợp tử, hợp tử phát triển trong tử cung của con cái và sinh ra đời
con. Quá trình sinh sản đối với con cái xảy ra bắt đầu bằng sự xuất hiện chu kỳ tính
và được điều khiển bởi một hệ thống thần kinh, thể dịch hết sức phức tạp. Sự điều
khiển được mô phỏng theo sơ đồ dưới đây:
Vỏ
Hypothalamus
não
+
CUcccung
Sơ đồ 1.1. Điều khiển hormone chu kỳ tính ở lợn cái
6
GRH: Gonadotropin releaser hormone
LH: Lutein hormone
FSH: Foliculin stimulin hormone
PL: Prolactin
Tất cả các kích thích bên ngoài và trong cơ thể như khí hậu, nhiệt độ, ánh
sáng, chế độ nuôi dưỡng, quản lý, tác động xoa bóp, mùi vị con đực, tình trạng
cơ quan sinh dục và các bộ phận khác của cơ thể đều ảnh hưởng trực tiếp đến
chu kỳ tính một cách phản xạ theo phương thức thần kinh, thể dịch.
1.3.1. Các chỉ tiêu đánh giá khả năng sinh sản của lợn nái
Chỉ tiêu tổng quát để đánh giá năng suất sinh sản của bản thân lợn nái là
số con cai sữa/nái/năm. Chỉ tiêu về số con cai sữa/nái/năm còn phụ thuộc vào rất
nhiều nhân tố. Các nhân tố cấu thành khả năng sản xuất của lợn nái được minh
hoạ như sơ đồ 1.2
Số lợn con cai sữa/nái/năm
Số lợn con cai sữa/lứa
Hao hụt
chăn nuôi
thai, không
thụ thai
Thời
gian bú
sữa
Không
có khả
năng sinh
sản
Sơ đồ 1.2. Các nhân tố xác định thành tích sinh sản
7
1.3.2. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh sản của lợn nái
Việc xác định và cải thiện các nhân tố ảnh hưởng đến thành tích sinh sản
góp phần phát huy tiềm năng vốn có của mỗi giống vật nuôi, nâng cao hiệu quả
kinh tế trong chăn nuôi. Trong quá trình nghiên cứu các nhà khoa học đã nhận
thấy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng trực tiếp cũng như gián tiếp tới thành tích
sinh sản của bản thân lợn nái nhưng được chia làm 2 loại chính là yếu tố di
truyền và yếu tố ngoại cảnh.
* Ảnh hưởng của yếu tố di truyền
Trong chăn nuôi, giống là tiền đề và là yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến
các chỉ tiêu sinh sản của lợn nái (Đặng Vũ Bình, 1999)[3]. Các giống khác nhau
biểu hiện thành tích sinh sản khác nhau vì kiểu gen của chúng khác nhau, mỗi
giống gia súc đều có cả gen trội và gen lặn đối với chỉ tiêu mong muốn và không
mong muốn. Trong chọn lọc cần chọn đàn giống có tỷ lệ kiểu gen trội đối với chỉ
tiêu mong muốn cao nhất và hạn chế đến mức tối thiểu sự thể hiện gen lặn của
+ Hệ số di truyền
Hệ số di truyền cũng là yếu tố ảnh hưởng đến năng suất sinh sản của lợn
nái. Đa số các tính trạng về năng suất sinh sản của lợn nái đều có hệ số di truyền
thấp. Hệ số di truyền của các chỉ tiêu sinh sản là thấp, vì vậy vấn đề đặt ra đối
với các nhà chọn giống, là để nâng cao năng suất sinh sản của lợn nái, chỉ bằng
cách tăng cường qua trình chọn lọc, đáp ứng tối đa yêu cầu về môi trường để
nâng cao hiệu quả sản xuất.
- Ảnh hưởng của cá thể đực:
Cá thể đực giống có ảnh hưởng lớn đến năng suất sinh sản của lợn nái.
Trong phối giống trực tiếp, ảnh hưởng của cá thể đực giống đối với tỷ lệ thụ thai
là rất rõ rệt. Đực giống quá già cũng sẽ làm giảm số con đẻ ra trong một lứa đẻ.
* Ảnh hưởng của các yếu tố ngoại cảnh
Khi ta đã có một giống tốt tức là qua khâu chọn lọc nghiêm ngặt thì yếu tố
quyết định đến thành bại trong chăn nuôi lại là các nhân tố ngoại cảnh. Có nhiều
yếu tố ảnh hưởng tới khả năng sinh sản của lợn nái như chế độ nuôi dưỡng, tuổi,
trọng lượng phối, phương thức phối, lứa đẻ, mùa vụ, nhiệt độ môi trường...
9
+ Ảnh hưởng chế độ nuôi dưỡng
Trong chăn nuôi lợn nái, dinh dưỡng là yếu tố hết sức quan trọng không
những để đảm bảo khả năng sinh sản của lợn nái mà còn quyết định đến hiệu
quả kinh tế chăn nuôi. Lợn nái ở các giai đoạn khác nhau như hậu bị, có chửa,
nuôi con, chờ phối đều cần được cung cấp đủ về số và chất lượng các chất dinh
dưỡng để có kết quả sinh sản tốt.
Lợn nái nuôi con nên cho ăn tự do để đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng. Giảm
lượng thức ăn thu nhận khi nuôi con sẽ làm giảm trọng lượng cơ thể, hậu quả là
thời gian động dục trở lại sau cai sữa dài, giảm tỷ lệ thụ tinh và giảm số phôi
sống (Zak và cs, 1995, Reese và cs, 1984, Carrol và cs, 1993, Kirkwood và cs,
1987)[57]. Theo Ian Gordon (2004)[57] cho biết: tăng lượng thức ăn thu nhận
vitamin B1 dẫn tới hiện tượng thần kinh yếu, co giật, bại liệt tứ chi. Thiếu
vitamin C làm giảm sức đề kháng của cơ thể, vi khuẩn dễ xâm nhập và gây
bệnh. Thiếu vitamin E có hiện tượng chết phôi, chết thai, trứng rụng ít, ngoài ra
còn gây bệnh trắng cơ.
Nếu bổ sung vitamin thừa cũng là liều thuốc độc cho cơ thể. Thừa vitamin
A sẽ gây ảnh hưởng hấp thu vitamin E gây cho lợn không động dục hay động dục
kém, thai phát triển kém. Thừa vitamin D thì sẽ bị vôi hóa, tim, phổi, thận.
+ Ảnh hưởng của số trứng rụng
Trứng được sản xuất ra từ buồng trứng sau khi rụng xuống trứng sẽ đến
tử cung chờ thụ tinh, số trứng rụng nhiều hay ít sẽ ảnh hưởng số con sinh ra.
Như vậy, số trứng rụng trong một chu kỳ động dục là giới hạn cao nhất của số
con đẻ ra trong một lứa, trong thực tế mỗi lợn nái đẻ trên dưới 10 con điều đó
chứng tỏ số trứng rụng sẽ nhiều hơn số con đẻ ra. Trong suốt thời kỳ động dục,
số tế bào trứng rụng trong 1 lần động dục bình quân là 14 trứng, giao động 7 16 trứng, ở lợn trưởng thành 15 - 25 trứng. Số tế bào trứng rụng tăng lên theo
chiều tăng của tuổi lợn, đặc biệt là sau lứa đẻ thứ nhất, tuy nhiên sau khi đạt đến
tuổi trưởng thành thì số tế bào trứng rụng lại giảm dần.
11
+ Ảnh hưởng mùa vụ, nhiệt độ và chế độ chiếu sáng:
Yếu tố mùa vụ, liên quan đến nhiệt độ, ẩm độ và chế độ chiếu sáng tự
nhiên là các yếu tố môi trường ảnh hưởng đến khả năng sản xuất của lợn cái.
Các yếu tố này ảnh hưởng dễ nhận biết như lợn cái chậm thành thục về tính, thời
gian chờ phối sau cai sữa kéo dài, tỷ lệ chết phôi cao hơn, tỷ lệ sẩy thai cao và
số con đẻ ra/ổ giảm. Những lợn cái hậu bị sinh ra trong mùa đông và mùa xuân
thì tuổi động dục lần đầu chậm hơn so với những lợn cái hậu bị được sinh ra
trong các mùa khác trong năm. Cho phối giống vào các tháng nóng trong mùa hè
thì tỷ lệ chết phôi ở giai đoạn ban đầu mang thai tăng 15-20% so với khi phối
giống vào các tháng mùa đông (Music và cs., 1984, trích theo Phan Xuân Hảo,
2002)[18].
Việc nuôi nhốt hoàn toàn lợn cái hậu bị gây trở ngại cho phối giống, chủ
yếu là lợn cái không động dục. Các nhà chăn nuôi dự tính khắc phục vấn đề này
bằng cách không nuôi nhốt kín lợn cái hậu bị mà thả chúng ra bên ngoài trước
thời kỳ phối giống (Zimmerman và cs., 1996)[50]. Việc nuôi nhốt cá thể hoặc
nuôi riêng biệt từng lợn cái hậu bị cũng sẽ làm chậm thành thục về tính so với
những cái hậu bị được nuôi theo nhóm. Do vậy, nhiều nhà nghiên cứu khuyến
cáo không nên nuôi lợn cái hậu bị tách biệt đàn trong thời kỳ phát triển.
1.4. Các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng, năng suất và chất
lượng thịt lợn
Sinh trưởng là quá trình tự nhiên của sinh vật, sự tăng lên về kích thước,
trọng lượng, thể tích của từng bộ phận hay của toàn cơ thể con vật trong giai
đoạn còn non cho đến thành thục về thể vóc. Thực chất của sự sinh trưởng chính
là sự tăng trưởng và phân chia của các tế bào trong cơ thể vật nuôi.
* Ảnh hưởng các yếu tố di truyền
+ Ảnh hưởng của giống
Các giống khác nhau có quá trình sinh trưởng khác nhau, tiềm năng di
truyền của quá trình sinh trưởng của các gia súc được thể hiện thông qua hệ số
di truyền. Hệ số di truyền đối với tính trạng trọng lượng sơ sinh và sinh trưởng
13
trong thời gian bú sữa dao động từ 0,05- 0,21, hệ số di truyền này thấp hơn so
với hệ số di truyền của tính trạng này trong thời kỳ vỗ béo.
Tăng khối lượng và tiêu tốn thức ăn có mối tương quan di truyền nghịch
và khá chặt chẽ đã được nhiều tác giả nghiên cứu kết luận, đó là: - 0,51 đến 0,56 (Nguyễn Văn Đức và cs, 2001)[13]; .
Ngoài ra, hàng loạt các thông báo của nhiều nhà khoa học đã xác nhận các
chỉ tiêu thân thịt như tỷ lệ móc hàm, tỷ lệ nạc, độ dày mỡ lưng, chiều dài thân
thịt và diện tích cơ thăn ở các giống khác nhau là khác nhau. Chẳng hạn như ở
lợn Landrace có chiều dài thân thịt dài hơn so với ở lợn Large White là 1,5 cm;
ngược lại, tỷ lệ móc hàm ở Large White lại cao hơn so với Landrace (Hammell
Tuy nhiên, nhu cầu về năng lượng cho duy trì của lợn đực cũng cao hơn lợn cái
và lợn đực thiến.
+ Ảnh hưởng của tuổi và trọng lượng giết mổ
Khả năng sản xuất và chất lượng thịt cũng phụ thuộc vào tuổi và trọng
lượng lúc giết thịt. Giết thịt ở độ tuổi lớn hơn thì chất lượng thịt sẽ tốt hơn do sự
tăng lên của các mô ở giai đoạn cuối của thời kỳ trưởng thành. Song không nên
giết thịt ở tuổi quá cao vì lợn sau 6 tháng tuổi khả năng tích lũy mỡ lớn, dẫn đến
tỷ lệ nạc sẽ thấp và hiệu quả kinh tế kém.
Chất lượng thịt lợn cũng thay đổi theo tuổi giết thịt là do thành phần cơ
thể phát triển khác nhau ở từng giai đoạn. Mô cơ phát triển rất mạnh ngay từ khi
còn nhỏ nhưng tốc độ giảm dần, còn mô mỡ tốc độ tích lũy ngày càng tăng.
+ Ảnh hưởng của cơ sở chăn nuôi và chuồng trại
Cơ sở chăn nuôi và chuồng trại cũng ảnh hưởng đến khả năng sản xuất và
chất lượng thịt. Cơ sở chăn nuôi biểu thị tổng hợp chế độ quản lý, chăm sóc nuôi
dưỡng đàn lợn. Thông thường, lợn bị nuôi chật hẹp thì khả năng tăng trọng
lượng thấp hơn lợn được nuôi trong điều kiện chuồng trại rộng rãi.
+ Ảnh hưởng của dinh dưỡng
Dinh dưỡng là một trong những nhân tố quan trọng nhất trong các nhân tố
ngoại cảnh, ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh trưởng và cho thịt ở lợn. Trong
15
chăn nuôi chi phí cho thức ăn chiếm 70-80% giá thành sản phẩm, do đó chỉ tiêu về
tiêu tốn thức ăn/kg tăng trọng càng thấp thì hiệu quả kinh tế sẽ cao và ngược lại,
qua nghiên cứu và thực tế cho thấy vật nuôi có khả năng sinh trưởng tốt do khả
năng đồng hóa cao, hiệu quả sử dụng thức ăn cao thì tiêu tốn thức ăn thấp, do đó
thời gian nuôi sẽ được rút ngắn, tăng số lứa đẻ/nái/năm. Tiêu tốn thức ăn/kg tăng
trọng chính là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn của cơ thể. Chỉ tiêu về tiêu tốn thức ăn và
tăng trọng lượng có mối tương quan nghịch do đó khi nâng cao khả năng tăng trọng
lượng có thể sẽ giảm chi phí thức ăn.
Theo Nguyễn Văn Đức, (2012)[14] đã tổng hợp mô tả đặc điểm ngoại
hình của một số giống lợn bản địa tương đối phổ biến tại Việt Nam. Kết quả cho
thấy, lợn Móng Cái có tầm vóc trung bình, ngắn mình, cổ ngắn, tai nhỏ, lưng
võng, bụng sệ, màu đen, trừ 6 điểm trắng (đốm trắng hình tam giác hoặc hình
thoi nằm giữa trán, mõm trắng, cuối đuôi có chùm lông trắng, bụng trắng, bốn
chân trắng và đặc biệt là có khoang trắng nối giữa 2 bên hông với nhau vắt qua
vai trông giống như cái “yên ngựa”. Giống lợn Ỉ có lông da đen bóng, lông nhỏ,
thưa; đầu hơi to, mặt cong và nhăn, trán hẹp, mắt híp, nọng cổ và má chảy sệ,
mõm to bè, ngắn, càng già mõm càng dài và cong lên, môi dưới thường dài hơn
môi trên; vai tương đối nở, ngực sâu, thân mình ngắn hơn so với loại hình lợn ỉ
pha; chân thấp, chân trước thẳng, chân sau hơi bị nghiêng, lợn nái thường đi chữ
bát; bụng sệ hầu như bụng luôn quét trên mặt đất. Lợn Mường Khương có lông
thưa, mềm, màu đen hoặc nâu, có một đốm trắng ở giữa đầu, chân và cuối đuôi,
mõm dài thẳng hay hơi cong, trán nhăn, tai to, hơi cúp về phía trước như
Landrace lai với các giống lợn bản địa khác. Giống lợn Táp Ná có nhiều nét
giống lợn Móng Cái, nhưng có những nét khác biệt như lông và da đen, ngoại
trừ 6 điểm trắng: giữa trán, 4 cẳng chân, chóp đuôi, đầu to vừa phải, tai hơi rủ
cúp xuống, mặt thẳng, mặt không nhăn nheo như lợn Ỉ.