Các tội xâm phạm tình dục trẻ em – so sánh pháp luật hình sự việt nam với pháp luật hình sự của một số nước - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

LÊ THỊ DIỄM HẰNG

CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM – SO SÁNH
PHÁP LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM VỚI PHÁP LUẬT
HÌNH SỰ CỦA MỘT SỐ NƯỚC
Chuyên ngành: Luật Hình sự và Tố tụng Hình sự

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Trương Quang Vinh

HÀ NỘI - 2016


LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan Luận văn là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
với sự hướng dẫn khoa học của PGS.TS. Trương Quang Vinh. Các số liệu, thông tin
và kết quả được nêu trong Luận văn là chính xác và trung thực. Những kết luận
khoa học của Luận văn chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nghiên cứu
khoa học nào.
Tác giả Luận văn

Lê Thị Diễm Hằng



Bảng 1.5. Tổng số vụ án và bị cáo tội Dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS năm
1999) từ năm 2011 – 2015 ................................................................. 97
Bảng 1.6. Tổng số vụ án và bị cáo tội Mua dâm người chưa thành niên (Điều 256
BLHS năm 1999) từ năm 2011 – 2015 ............................................... 97


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
CHƯƠNG 1: CÁC TỘI XÂM PHẠM TÌNH DỤC TRẺ EM THEO PHÁP
LUẬT HÌNH SỰ VIỆT NAM ............................................................................... 6
1.1. Khái quát về các tội xâm phạm tình dục trẻ em ....................................... 6
1.1.1. Khái niệm trẻ em ................................................................................................ 6
1.1.2. Khái niệm về các tội xâm phạm tình dục trẻ em ................................................ 8
1.1.3. Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo quy định của pháp luật quốc tế ......... 11
1.2. Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo Bộ luật Hình sự Việt Nam
năm 1999........................................................................................................................ 14
1.2.1. Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS năm 1999) ........................................... 16
1.2.2. Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114 BLHS năm 1999) ........................................ 29
1.2.3. Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115 BLHS năm 1999) ...................................... 31
1.2.4. Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116 BLHS năm 1999) .................................... 33
1.2.5. Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256 BLHS năm 1999) ................. 35
1.3. Một số điểm mới về các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo Bộ luật Hình
sự Việt Nam năm 2015 .................................................................................... 37
1.3.1. Tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (Điều 142 BLHS năm 2015) ....................... 39
1.3.2. Tội cưỡng dâm người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi (Điều 144 BLHS năm
2015)

..................................................................................................................... 41


1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Hiện nay, cùng với sự phát triển của đất nước, công tác bảo vệ, chăm sóc và
giáo dục trẻ em ngày càng được quan tâm, đặc biệt là sau khi Việt Nam phê chuẩn
Công ước của Liên hợp quốc về quyền trẻ em năm 1990. Hiến pháp Cộng hòa xã hội
chủ nghĩa Việt Nam năm 2013 đã ghi nhận “Trẻ em được Nhà nước, gia đình và xã
hội bảo vệ, chăm sóc và giáo dục; được tham gia vào các vấn đề về trẻ em. Nghiêm
cấm xâm hại, hành hạ, ngược đãi, bỏ mặc, lạm dụng, bóc lột sức lao động và những
hành vi khác vi phạm quyền trẻ em” (khoản 1 Điều 37). Văn kiện Đại hội Đảng toàn
quốc lần thứ XI đã đề ra yêu cầu: “Xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, thật
sự là tế bào lành mạnh của xã hội, là môi trường quan trọng, trực tiếp giáo dục nếp
sống và hình thành nhân cách”; “... Chú trọng cải thiện điều kiện sống, lao động và
học tập của thanh niên, thiếu niên, giáo dục và bảo vệ trẻ em...”; ngày 05-11-2012,
Bộ Chính trị ban hành Chỉ thị số 20-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối
với công tác chăm sóc, giáo dục và bảo vệ trẻ em trong tình hình mới, trong đó xác
định: “Xây dựng và tổ chức thực hiện có hiệu quả các chương trình, đề án chăm sóc,
giáo dục và bảo vệ trẻ em... Tổ chức thực hiện tốt Công ước Liên hợp quốc về quyền
trẻ em và các công ước, điều ước quốc tế khác có liên quan mà Nhà nước Việt Nam
ký kết hoặc tham gia...”. Việt Nam cũng đã xây dựng được một hệ thống pháp luật,
tạo cơ sở pháp lý quan trọng cho việc bảo vệ trẻ em khỏi những hành vi xâm hại đến
sự phát triển của các em.
Tuy nhiên, Việt Nam đang trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, quốc
tế hóa kéo theo nhiều hệ lụy về mặt xã hội, đặc biệt số vụ phạm tội với trẻ em – đối
tượng dễ bị xâm hại, dụ dỗ, lôi kéo ngày càng gia tăng. Và tình hình nhóm các tội
xâm phạm tình dục trẻ em cũng không nằm ngoài quy luật đó. Theo số liệu của Tòa
án nhân dân tối cao, tổng số vụ án và bị cáo thuộc nhóm các tội xâm phạm tình dục
trẻ em có chiều hướng tăng nhanh. Năm 2010, có 1166 vụ án bị đưa ra giải quyết với
1263 bị cáo thì đến năm 2015, con số này là 1767 vụ án và 1896 bị cáo1. Đây mới chỉ
là con số được thống kê các vụ án đã bị đưa ra xét xử, tuy nhiên, trên thực tế, con số

phụ nữ và trẻ em, Tòa án nhân dân, (9).
- Về luận văn có các công trình:
+ Nguyễn Văn Hương (2003), Luật Hình sự Việt Nam với việc bảo vệ trẻ em, Luận
văn thạc sĩ Luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
+ Trịnh Thị Thu Hương (2004), Các tội xâm phạm tình dục trẻ em trong luật hình
sự Việt Nam và đấu tranh chống loại tội phạm này, Luận văn thạc sĩ, Trường Đại
học Luật Hà Nội, Hà Nội.


3
+ Trần Thùy Chi (2011), Tội giao cấu với trẻ em theo quy định của Bộ luật Hình sự
hiện hành, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội.
+ Nguyễn Vương Thùy Dương (2013), Trẻ em bị xâm hại tình dục trong gia đình –
Thực trạng và giải pháp , Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội.
+ Nguyễn Minh Hương (2014), Các tội phạm xâm hại tình dục trẻ em trong luật
Hình sự Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Khoa Luật – Đại học quốc gia Hà Nội,
Hà Nội.
- Về các công trình khác:
+ Viện Gia đình và Giới (2008), Tổng quan nghiên cứu về tình trạng xâm hại tình
dục trẻ em ở Việt Nam trong những năm gần đây, Báo cáo nghiên cứu, Hà Nội.
+ Cơ quan Phòng chống Ma túy và Tội phạm của Liên hợp quốc, Văn phòng Khu
vực Đông Nam Á và Thái Bình Dương (2014), Bóc lột tình dục trẻ em trong du lịch
và lữ hành: Báo cáo phân tích hệ thống pháp luật quốc gia, Hà Nội.
Rõ ràng, xâm phạm tình dục trẻ em là một vấn đề rất được quan tâm, bằng
chứng là có nhiều các công trình nghiên cứu tổng quát cũng như chi tiết các nội
dung liên quan. Tuy nhiên, chưa có nghiên cứu nào về các tội xâm phạm tình dục
trẻ em đặt trong sự so sánh với pháp luật nước ngoài, đặc biệt từ sau khi BLHS năm
2015 được thông qua, những điểm mới về các tội phạm này so với BLHS năm 1999
vẫn chưa được phân tích làm rõ. Chính những vấn đề này dẫn đến sự khó khăn khi

thế nào?
-

Sự khác nhau giữa các tội xâm phạm tình dục trẻ em được quy định trong

BLHS năm 1999 và BLHS năm 2015?
-

So sánh quy định của pháp luật Hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình

dục trẻ em với pháp luật hình sự một số nước?
-

Từ sự so sánh với pháp luật hình sự một số nước, có đề xuất gì trong việc

hoàn thiện pháp luật Hình sự Việt Nam về các tội xâm phạm tình dục trẻ em?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
-

Luận văn được nghiên cứu trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy

vật biện chứng.
-

Phương pháp nghiên cứu chủ đạo của đề tài là so sánh luật. Ngoài ra, trong

luận văn, tác giả sử dụng tổng hợp các phương pháp nghiên cứu khoa học khác như:
phương pháp phân tích, phương pháp tổng hợp, phương pháp chứng minh, phương
pháp diễn dịch, phương pháp quy nạp...
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn

1.1.1. Khái niệm trẻ em
Trẻ em – những chủ nhân tương lai của đất nước là một trong những nhóm
đối tượng đặc biệt được quan tâm trong xã hội. Bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em
luôn là ưu tiên hàng đầu của các quốc gia, trong đó có Việt Nam. Là nước thứ hai
trên thế giới và là quốc gia đầu tiên tại châu Á tham gia Công ước của Liên hợp
quốc về quyền trẻ em (CƯQTE) năm 1989, Việt Nam đã thể hiện sự chăm sóc đặc
biệt tới thế hệ tương lai này.
Vậy trẻ em được hiểu như thế nào? Trên thế giới và ngay tại Việt Nam, từ
trước đến nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khái niệm trẻ em.
Trong các công ước quốc tế, thuật ngữ trẻ em được sử dụng thống nhất và đã
được đề cập trong Tuyên ngôn Giơ-ne-vơ năm 1924, Tuyên ngôn của Liên hợp
quốc về quyền trẻ em năm 1959, Tuyên ngôn thế giới về quyền của con người năm
:1968, Công ước quốc tế về quyền kinh tế, xã hội và văn hóa năm 1966, Công ước
quốc tế về các quyền dân sự và chính trị năm 1966, Công ước quyền trẻ em năm
1989, Công ước 138 của Tổ chức lao động quốc tế về tuổi tối thiểu làm việc năm
1976, Công ước số 182 về Nghiêm cấm và hành động khẩn cấp xóa bỏ các hình
thức lao động trẻ em tồi tệ nhất năm 1999... Theo Điều 1 CƯQTE “Trẻ em là người
dưới 18 tuổi, trừ trường hợp pháp luật áp dụng đối với trẻ em có độ tuổi thành niên
sớm hơn” hay tại Điều 2 Công ước số 182 của Tổ chức Lao động quốc tế ban hành
năm 1999 cũng quy định “Trong Công ước này, thuật ngữ trẻ em sẽ áp dụng cho tất
cả những người dưới 18 tuổi”. Tuy nhiên trong một số điều ước quốc tế khác, khái
niệm trẻ em được gọi là người chưa thành niên hoặc vị thành niên, ví dụ như tại
Mục a Quy tắc số 2.2 – Quy tắc tiêu chuẩn tối thiểu của Liên hợp quốc về việc áp
dụng pháp luật đối với người chưa thành niên (Còn gọi Quy tắc Bắc Kinh) năm
1985 nêu rõ “Người chưa thành niên là trẻ em hay người ít tuổi tùy theo từng hệ
thống pháp luật có thể bị xét xử vì phạm pháp theo một phương thức khác với việc
xét xử người lớn”. Như vậy, có thể thấy, trong các điều ước quốc tế của thế giới
hiện nay đều thống nhất quan điểm trẻ em là người dưới 18 tuổi.



Trần Thị Chung (2010), Bảo vệ quyền trẻ em trong pháp luật hôn nhân và gia đình hiện hành, Khóa luận
tốt nghiệp, Người hướng dẫn: TS. Nguyễn Thị Lan, Hà Nội, trang 5.
3
Hoàng Thị Thùy Dung (2014), Các quyền cơ bản của trẻ em theo pháp luật Việt Nam hiện hành, Luận văn
thạc sĩ luật học, Người hướng dẫn khoa học: TS. Ngô Thị Hường, Trường Đại học Luật Hà Nội, Hà Nội,
trang 8.


8
như một số điều ước quốc tế khác mà Việt Nam tham gia, tuy nhiên đến dự thảo thứ
6, cũng là dự thảo cuối cùng được đưa ra trình Quốc hội, độ tuổi của trẻ em lại quay
trở về dưới 16 tuổi. Như vậy hiện nay, đây là văn bản quy phạm pháp luật duy nhất
của Việt Nam quy định về khái niệm trẻ em. Và căn cứ độ tuổi khẳng định “Trẻ em
là người dưới 16 tuổi” cũng là quan điểm được nhiều nhà nghiên cứu đồng tình khi
xác định thế nào là trẻ em.
1.1.2. Khái niệm về các tội xâm phạm tình dục trẻ em
Theo quan điểm của Liên hợp quốc, trẻ em là đối tượng thuộc nhóm yếu thế
trong xã hội. Đây cũng chính là nhóm đối tượng dễ bị xâm hại bởi các tội phạm
khác nhau, trong đó có các tội phạm xâm hại tình dục.
Để có thể đưa ra được khái niệm về các tội xâm phạm tình dục trẻ em, trước
hết, cần hiểu thế nào là xâm phạm tình dục trẻ em. Xét về mặt ngữ nghĩa, “Xâm
phạm là xâm hại đến khiến cho bị tổn hại ” còn “Tình dục là nhu cầu tự nhiên của
con người về quan hệ tính giao”4. Hiện nay, thuật ngữ xâm phạm và xâm hại tình
dục trẻ em chưa có cách dùng thống nhất, tuy nhiên, theo quan điểm của người
nghiên cứu, xét về mặt ngữ nghĩa, hai cách hiểu này tương đương nhau, đều thể
hiện bản chất các hành vi gây tổn hại đến nhu cầu tình dục của trẻ em.
Hiện nay, chưa có một định nghĩa thống nhất của quốc tế về hiện tượng xâm
hại tình dục trẻ em mặc dù đã có nhiều tiêu chí, đặc điểm của hiện tượng này được
nêu ra.
Baker và Ducan (1985) trong cuốn “Xâm hại tình dục trẻ em” nghiên cứu về

nhiên, khái niệm này của UNICEF lại giới hạn phạm vi chủ thể của hành vi này, khi
chỉ quy định chủ thể là người “có mối quan hệ về trách nhiệm và quyền hạn với trẻ”.
Tại Việt Nam, xâm phạm tình dục trẻ em là đề tài được nhiều cơ quan, tổ
chức quan tâm, nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau, thế nhưng, chưa có sự
thống nhất về khái niệm này. Tại báo cáo “Phân tích kết quả kết nối can thiệp các
ca trẻ em bị xâm hại tình dục qua hoạt động của đường dây tư vấn và hỗ trợ trẻ
em” năm 2008 của Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông – Cục Bảo vệ, Chăm
sóc trẻ em thuộc Bộ Lao động, Thương binh và Xã hội định nghĩa:
“Xâm hại tình dục trẻ em là hành vi có chủ ý làm hài lòng, thỏa mãn nhu cầu
tình dục của một người đối với trẻ em, là sự tham gia của trẻ em vào một hành vi
tình dục mà các em chưa hiểu biết đầy đủ, không thể đồng ý, vi phạm pháp luật và
đạo lý xã hội. Hành vi này có thể bao gồm việc thuyết phục hoặc đe dọa trẻ tham
gia vào bất kỳ hành vi tình dục phi pháp nào; sử dụng trẻ em mang tính bóc lột làm
mại dâm hoặc các hoạt động tình dục phi pháp khác; sử dụng trẻ em trong các ấn
phẩm khiêu dâm, hiếp dâm trẻ em”8.
6

Danya Glaser and Stephen Frosh (1993), Child sexual abuse, England trích trong tài liệu: Viện Gia đình và
Giới, tlđd, chú thích 4, tr 3
7
Karin Heissler (2001), Background paper on good practices and priorites to combat sexual abuse and
exploitation of children in Bangladesh, Dhaka, tr 12
8
Trung tâm tư vấn và dịch vụ truyền thông – Cục Bảo vệ, Chăm sóc trẻ em thuộc Bộ Lao động, Thương binh
và Xã hội (2008), Phân tích kết quả kết nối can thiệp các ca trẻ em bị xâm hại tình dục qua hoạt động của


10
Tác giả Nguyễn Vương Thùy Dương đưa ra quan điểm:
“Xâm hại tình dục trẻ em là những hành vi dùng sức mạnh để cưỡng ép, lôi

Luận văn thạc sĩ luật học, Người hướng dẫn khoa học: TS. Nguyễn Phương Lan, Trường Đại học Luật Hà
Nội, tr 14.


11
- Thứ hai, tính có lỗi – theo đó, hành vi nguy hiểm cho xã hội chỉ được coi là
tội phạm nếu chủ thể có lỗi khi thực hiện hành vi đó. Lỗi được xác định là kết quả
của sự tự lựa chọn của người phạm tội trong điều kiện khách quan và chủ quan để
thực hiện xử sự khác phù hợp với đòi hỏi của xã hội.
- Thứ ba, tính được quy định trong BLHS: có một số quan điểm cho rằng đặc
điểm này nên là “tính trái pháp luật hình sự” vì “có trường hợp được phép thực
hiện hành vi được quy định trong (Bộ) luật hình sự và khi đó hành vi đã thực hiện
không phải là tội phạm”10. Tuy nhiên, theo quan điểm của người nghiên cứu, tính
được quy định trong BLHS bao quát hơn cho mọi trường hợp, đồng thời có thể hiểu
hành vi gây nguy hiểm cho xã hội, có lỗi và được quy định trong BLHS là tội phạm
là cách định nghĩa hợp lí, phù hợp với cách xây dựng của BLHS.
Từ phân tích khái niệm xâm phạm tình dục trẻ em và tội phạm, có thể hiểu,
“các tội xâm phạm tình dục trẻ em là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi,
được quy định trong BLHS nhằm lôi kéo, ép buộc hoặc dụ dỗ người dưới 16 tuổi
vào các hành vi liên quan đến tình dục”.
1.1.3. Các tội xâm phạm tình dục trẻ em theo quy định của pháp luật quốc tế
Từ đầu thế kỷ XX, thế giới đã chứng kiến sự ban hành của hàng loạt các hiệp
ước quốc tế liên quan, trực tiếp hoặc gián tiếp, tới bóc lột tình dục trẻ em. Một số các
hiệp ước chính có thể kể ra như: Công ước quốc tế về phòng chống buôn bán phụ nữ
và trẻ em năm 1921, Công ước về nô lệ năm 1923, Công ước về phòng chống mọi
hình thức phân biệt chống lại phụ nữ năm 1979, Công ước quốc tế về quyền trẻ em
năm 1989 và Nghị định thư không bắt buộc về mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và
khiêu dâm trẻ em (2000) (Nghị định thư không bắt buộc bổ sung cho CƯQTE), Công
ước của Liên hợp quốc về chống tội phạm có tổ chức xuyên quốc gia năm 2000, Nghị
định thư về phòng ngừa, trấn áp, trừng trị tội phạm buôn bán người, đặc biệt là phụ

quốc gia thành viên phải đặc biệt thực hiện tất cả các biện pháp thích hợp ở cấp
quốc gia, song phương và đa phương để ngăn ngừa việc xúi giục hay ép buộc trẻ em
tham gia bất kì hoạt động tình dục trái pháp luật; việc sử dụng có tính chất bóc lột
trẻ em trong mại dâm hay các hoạt động tình dục trái pháp luật khác; việc sử dụng
có tính chất bóc lột trẻ em trong các cuộc biểu diễn hay tài liệu khiêu dâm.
Điều 39 quy định các quốc gia thành viên phải tiến hành tất cả các biện pháp
thích hợp để thúc đẩy sự phục hồi về thể chất, tâm lý và tái hòa nhập xã hội của trẻ
em là nạn nhân của bất kỳ hình thức bỏ mặc, bóc lột hay lạm dụng nào, tra tấn hay
bất kỳ hình thức đối xử hay trừng phạt độc ác, vô nhân đạo và nhục hình nào khác,
hoặc các cuộc xung đột vũ trang. Sự phục hồi và tái hòa nhập phải diễn ra trong một
môi trường giúp tăng cường sức khỏe, lòng tự trọng và phẩm giá trẻ em.


13
Năm 2000, với Nghị định thư không bắt buộc liên quan đến phòng chống
buôn bán, mại dâm và khiêu dâm trẻ em là những sự bổ sung cần thiết, là căn cứ
pháp lý quan trọng trong việc bảo vệ trẻ em chống lại sự xâm hại, đòi hỏi các quốc
gia thành viên phải có biện pháp cụ thể để nghiêm cấm và phải hình sự hóa các
hành vi mua bán trẻ em, mại dâm trẻ em và khiêu dâm trẻ em. Những hành vi cụ thể
được Nghị định thư liệt kê như cung cấp, chuyển giao hay tiếp nhận trẻ em dưới bất
kì hình thức nào nhằm mục đích bóc lột tình dục trẻ em; mời chào, tìm giúp, môi
giới hoặc cung cấp trẻ em cho mục đích mại dâm trẻ em; làm ra, phát tán, phổ biến,
nhập khẩu, xuất khẩu, chào mời, bán hoặc tàng trữ tài liệu khiêu dâm trẻ em; tổ
chức, xúi giục, giúp sức người thực hiện tội phạm thực hiện một trong các hành vi
kể trên hoặc hành vi của người thực hiện tội phạm ở giai đoạn chưa hoàn thành11.
Nghị định thư cho các quốc gia có cơ hội khẳng định quyền tài phán rộng rãi của
mình đối với cả hành vi phạm tội xảy ra bên trong và cả bên ngoài lãnh thổ nước
họ. Các quốc gia thành viên phải tiến hành nhiều biện pháp tương trợ lẫn nhau
nhằm tạo thuận lợi cho quá trình điều tra, truy tố và dẫn độ tội phạm tình dục trẻ
em, cũng như trong việc tịch thu, xung công lợi nhuận bất hợp pháp tạo ra từ những


thấy, Bộ luật Hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sung năm 2009 quy định:
- Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112);
- Tội cưỡng dâm trẻ em (Điều 114);
- Tội giao cấu với trẻ em (Điều 115);
- Tội dâm ô đối với trẻ em (Điều 116);
- Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256)
Là các tội thuộc nhóm các tội xâm phạm tình dục trẻ em. Và từ sự nghiên
cứu cấu thành tội phạm của các tội này, có thể chỉ ra một số dấu hiệu pháp lý chung
như sau:
- Thứ nhất, về khách thể của tội phạm.
“Khách thể của tội phạm là quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ và bị tội
phạm xâm hại”13. Phần lớn các tội được liệt kê trên thuộc nhóm “Các tội xâm phạm
tính mạng, sức khỏe, nhân phẩm, danh dự của con người” tại chương XII BLHS
năm 1999, ngoại trừ Tội mua dâm người chưa thành niên (Điều 256) được quy định
tại chương XIX – Các tội xâm phạm an toàn công cộng, trật tự công cộng. Khách
thể của nhóm các tội phạm này chính là quyền được tôn trọng nhân phẩm, danh dự
và quyền bất khả xâm phạm về tình dục của trẻ em.
- Thứ hai, về mặt khách quan của tội phạm.
“Mặt khách quan của tội phạm là mặt bên ngoài của tội phạm, bao gồm
những biểu hiện của tội phạm diễn ra hoặc tồn tại bên ngoài thế giới khách
quan”14. Những biểu hiện bên ngoài đó ban gồm: Hành vi khách quan nguy hiểm
cho xã hội; hậu quả nguy hiểm cho xã hội cũng như mối quan hệ nhân quả giữa
13
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Xem “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Tập 1”, Nxb. Công an
nhân dân, Hà Nội, tr. 86.
14
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Xem “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Tập 1”, tlđd, chú thích 13,
tr. 99.



15

/>Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Xem “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Tập 1”, tlđd, chú thích 13,
tr. 133
16


16
Đối với nhóm tội này, có thể khẳng định lỗi của chủ thể là lỗi cố ý. Cụ thể ở
đây, người phạm tội nhận thức rõ được hành vi của mình có tính chất nguy hiểm
cho xã hội; thấy trước hậu quả mà hành vi của mình có thể gây ra cho trẻ em và
mong muốn hoặc có ý thức để mặc cho hậu quả đó xảy ra. Tuy nhiên, một vấn đề
đặt ra khi định tội trong nhóm tội này, đó là việc chủ thể của tội phạm biết hay
không biết tuổi của nạn nhân. Về vấn đề này sẽ được người nghiên cứu phân tích
khi đi vào các tội cụ thể.
Như vậy, nhóm các tội xâm phạm tình dục trẻ em có những dấu hiệu pháp lý
chung về khách thể, hậu quả và lỗi cố ý của chủ thể. Những dấu hiệu khác, trong
cấu thành tội phạm khác nhau, lại có những đặc điểm riêng, cụ thể:
1.2.1. Tội hiếp dâm trẻ em (Điều 112 BLHS năm 1999)
BLHS năm 1985 không quy định hiếp dâm trẻ em là một tội danh độc lập mà
chỉ là tình tiết định khung tăng nặng của tội hiếp dâm17. Đến lần sửa đổi thứ tư năm
1997, nhà làm luật đã tách hiếp dâm trẻ em thành một tội danh độc lập trong BLHS
năm 1985 (Điều 112a). Và đến BLHS năm 1999, tội hiếp dâm trẻ em vẫn được giữ
nguyên là một tội độc lập được quy định tại Điều 112, theo đó: “Người nào hiếp
dâm trẻ em từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm
năm” (khoản 1) và “Mọi trường hợp giao cấu với trẻ em chưa đủ 13 tuổi là phạm
tội hiếp dâm trẻ em” (khoản 4). Như vậy, từ quy định trên và quy định về tội Hiếp
dâm tại Điều 111, có thể rút ra khái niệm “Tội hiếp dâm trẻ em là hành vi dùng vũ
lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân

hành vi phạm tội tác động đến để gây thiệt hại hoặc đe dọa gây thiệt hại cho những
quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ”20. Đối tượng tác động của tội phạm có thể
là con người, các đối tượng vật chất với ý nghĩa là khách thể của quan hệ xã hội
hoặc hoạt động bình thường của chủ thể. Như vậy, con người hay nạn nhân của tội
hiếp dâm chính là đối tượng tác động của tội này. Tuy nhiên, con người ở đây là
nam giới hay nữ giới vẫn đang là một vấn đề gây tranh cãi. Pháp luật hình sự Việt
Nam từ trước đến nay chỉ thừa nhận nạn nhân của tội hiếp dâm là nữ giới, và tương
tự với tội hiếp dâm trẻ em, nạn nhân là trẻ em gái, cụ thể là trẻ em dưới 16 tuổi.
Mặc dù một số nhà nghiên cứu cũng như thực tiễn xét xử đồng tình với quan
điểm chủ thể của tội hiếp dâm trẻ em là nam giới và nạn nhân là trẻ em nữ dưới 16
tuổi, nhưng trên thực tế đã có những trường hợp mới phát sinh mà pháp luật chưa
quy định. Ví dụ trong những năm gầy đây, những vụ án hiếp dâm trẻ em đồng giới
ngày càng nhiều, có thể kể đến vụ Nguyễn Đình Việt thực hiện hành vi tình dục với
bé trai gần nhà tại Quảng Ninh21 hay vụ án của Thi Trường Hận22. Trong vụ án của
bị cáo Nguyễn Đình Việt, nạn nhân là bé trai 3 tuổi còn vụ án của Thi Trường Hận,
tuổi của các nạn nhân là từ 8 đến 14 tuổi; và cả hai đối tượng này chỉ bị xét xử về
tội dâm ô đối với trẻ em. Tuy nhiên, về bản chất, nếu nạn nhân của Việt hay Hận là
trẻ em nữ, thì rõ ràng Việt và Hận đã phạm tội Hiếp dâm trẻ em do có hành vi giao
20
Trường Đại học Luật Hà Nội (2013), Xem “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam – Tập 1”, tlđd, chú thích 13,
tr. 94.
21
Phụ lục 2
22
Phụ lục 3


18
cấu với trẻ em dưới 13 tuổi và khung hình phạt nghiêm khắc hơn. Trong các vụ án
trên, cả cơ quan điều tra, viện kiểm sát và tòa án còn xử lí khá khiên cưỡng, mặc dù

đồng tính trong lĩnh vực hôn nhân và gia đình”, Viện nghiên cứu xã hội kinh tế và môi trường ISEE.


19
dương vật và bộ phận sinh dục nữ, nghĩa là gián tiếp thừa nhận hành vi giao cấu chỉ
xảy ra giữa hai người khác giới tính. Có thể thấy rằng, đây là một định nghĩa được
đưa ra từ những năm 1967 nên đã không còn phù hợp với khái niệm giao cấu thông
thường, thực tiễn cũng như xu hướng lập pháp của các nước trên thế giới hiện nay.
Trong việc quan hệ tình dục nhằm thỏa mãn khoái cảm của bản thân, con người
không chỉ đơn thuần sử dụng một hành vi duy nhất là đưa dương vật vào âm hộ. Để
làm rõ về vấn đề này, người nghiên cứu đã tìm hiểu về hành vi tình dục của con
người dưới góc độ sinh học. Trong cuốn “Tình dục học đại cương” của bác sỹ Đào
Xuân Dũng có đề cập đến khái niệm tình dục như sau: “Tình dục là hành vi để tìm
kiếm khoái cảm hoặc để sinh sản, có nội hàm rộng, không chỉ có nghĩa là giao hợp
giữa người nam và người nữ mà còn bao gồm cả nhiều hành vi khác nhằm đem lại
khoái cảm bằng tay hay bằng miệng, ở vùng cơ quan sinh dục hay ở những bộ phận
khác của cơ thể. Cũng vẫn là tình dục khi thực hành tìm kiếm khoái cảm với bạn
tình khác giới hay cùng giới, với một hay nhiều hơn một người, tự mình gây ra
khoái cảm hay gây khoái cảm cho nhau, mơ tưởng đến chuyện tình dục hay sử dụng
dụng cụ chuyên dụng”24. Như vậy hành vi tình dục ở con người là rất rộng, ngoài
hành vi đưa dương vật vào âm hộ, họ còn có thể đưa dương vật vào nhiều bộ phận
khác trên cơ thể như miệng, hậu môn,… bạn tình nhằm thỏa mãn khoái cảm; không
những sử dụng dương vật, người tham gia quan hệ tình dục còn có thể dùng tay,
miệng hoặc các dụng cụ hỗ trợ tình dục khác như đồ chơi tình dục, dương vật giả…
Đặc biệt trong quan hệ tình dục đồng giới thì việc đưa dương vật vào âm hộ bạn
tình là điều không thể, do đó những hành vi trên xảy ra rất phổ biến như hai người
nam quan hệ tình dục qua đường hậu môn, hai người nữ dùng tay hoặc dương vật
giả để kích thích cho người còn lại… Ngay cả trong thực tiễn xét xử hiện nay, khái
niệm giao cấu cũng đã được mở rộng, như vụ án của Nguyễn Văn S25, mặc dù
không có hành vi giao cấu như trong hướng dẫn tại Bản tổng kết 329/HS2, tuy


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status