BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
NGUYỄN THỊ HUYỀN
NÂNG CAO CHẤT LƯỢNG ĐỘI NGŨ CHẤP HÀNH VIÊN TRONG
THỰC HIỆN PHÁP LUẬT VỀ THI HÀNH ÁN DÂN SỰ Ở TỈNH
THANH HÓA
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành : Lý luận và lịch sử Nhà nước và pháp luật
Mã số
: 60380101
Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS. Nguyễn Quốc Sửu
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi. Mọi số liệu,
kết quả nêu trong luận văn đều trung thực ; các tài liệu tham khảo đều được trích
dẫn và dẫn nguồn rõ ràng. Luận văn này chưa từng được công bố dưới bất kỳ
hình thức nào.
TÁC GIẢ
hành án tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010 đến năm 2015
Bảng 2.2:
Kết quả thi hành án dân sự về tiền của cơ quan thi
hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010 đến năm
2015
Bảng 2.3:
Số lượng đơn thư khiếu nại, tố cáo, kháng nghị về
quyết định hoặc hành vi vi phạm pháp luật trong thi
hành án của chấp hành viên cơ quan thi hành án dân
sự tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010 đến năm 2015
Bảng 2.4:
Số việc phải thi hành án của chấp hành viên tỉnh
Thanh Hóa
52
52
58
60
MỤC LỤC
LỜI NÓI ĐẦU................................................................................................1
1
LỜI NÓI ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Cán bộ, công chức luôn là một nhân tố quyết định đối với sự phát triển
kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia. Sinh thời Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ:
“Cán bộ là cái gốc của mọi công việc”[20,tr 269], “Công việc thành công
hoặc thất bại đều do cán bộ tốt hay kém”[20,tr 273] . Vì đội ngũ cán bộ, công
chức là “cầu nối” giữa Đảng, Nhà nước với quần chúng. Nếu đội ngũ này yếu
thì dù có đường lối, chính sách đúng cũng không thể hiện thực hoá. Hồ Chí
Minh cũng khẳng định: “Cán bộ là cái sợi dây chuyền của bộ máy. Nếu dây
chuyền không tốt, không chạy thì động cơ dù tốt, dù chạy toàn bộ máy cũng
tê liệt. Cán bộ là những người đem chính sách của Chính phủ, của đoàn thể thi
hành trong nhân dân, nếu cán bộ dở thì chính sách hay cũng không thể thực
hiện được”[20,tr 54] . Do đó, Người luôn chú trọng đến công tác nâng cao
chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức. Theo Người: “Muốn xây dựng chủ
nghĩa xã hội, trước hết cần có những con người xã hội chủ nghĩa”[20,tr 310].
Con người xã hội chủ nghĩa trong tư tưởng Hồ Chí Minh phải là người vừa có
đức, vừa có tài, có phẩm chất chính trị, đạo đức cách mạng tốt, có năng lực
tương xứng với nhiệm vụ được giao và phải có đủ khả năng hoàn thành nhiệm
vụ mà Đảng, Chính phủ và nhân dân giao phó.
Thực hiện pháp luật có vai trò rất quan trọng trong cơ chế điều chỉnh
pháp luật, bởi pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò của nó trong việc
điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát
triển khi nó được tôn trọng và được thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong thực
tế cuộc sống. Thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự có vai trò trong việc
đưa các bản án, quyết định của Tòa án được thực hiện trong thực tế cuộc
sống, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp luật và pháp chế xã hội
chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân và Nhà
nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng cường hiệu lực, hiệu
Hóa, đòi hỏi đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa phải
vững vàng về mặt chính trị, gương mẫu về đạo đức, trong sạch về lối sống, có
trí tuệ, kiến thức và kỹ năng nghiệp vụ, gắn bó với nhân dân. Trong tiến trình
cải cách tư pháp hiện nay, thì nâng cao chất lượng đội ngũ Chấp hành viên thi
hành án dân sự nói chung, đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự tỉnh
Thanh Hóa nói riêng trong quá trình thực hiện pháp luật về thi hành án dân
3
sự, giúp họ hoàn thành tốt nhiệm vụ, đáp ứng yêu cầu thực tiễn đặt ra là một
vấn đề rất đáng quan tâm. Do vậy, tác giả đã chọn việc nghiên cứu đề tài
“Nâng cao chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về
thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa” làm luận văn thạc sĩ của mình nhằm
nghiên cứu về mặt lý luận và thực tiễn của đề tài, đáp ứng yêu cầu cải cách tư
pháp và xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
mà Đảng ta đã đặt ra.
2. Tình hình nghiên cứu đề tài
Ở nước ta những năm gần đây, nghiên cứu về thi hành án dân sự và
chất lượng đội ngũ chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án
dân sự đang được quan tâm nghiên cứu ở nhiều khía cạnh, nhiều công trình
nghiên cứu khoa học khác nhau. Cụ thể:
Về thi hành án dân sự đã có một số công trình nghiên cứu như:
- “Hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự ở Việt Nam hiện nay”
(2008) của tác giả Nguyễn Thanh Thủy, Luận án Tiến sĩ Luật học, Học viện
Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh[33]. Luận án đã làm rõ cơ sở lý
luận cho việc hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự, đề xuất các quan điểm
và giải pháp hoàn thiện pháp luật thi hành án dân sự trong điều kiện xây dựng
Nhà nước pháp quyền XHCN, phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội
chủ nghĩa.
sự tại Việt Nam” (2009) của tác giả Nguyễn Thị Phíp, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội[25].
Trên cơ sở nghiên cứu lý luận và thực trạng pháp luật về địa vị pháp lý của
Chấp hành viên trong thi hành án dân sự, luận văn đề xuất một số quan điểm
và giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định về quyền và nghĩa vụ của Chấp
hành viên trong thi hành án dân sự tại Việt Nam.
- “Nghiên cứu thực trạng, nhu cầu phát triển đội ngũ Chấp hành viên
và xây dựng chương trình đào tạo theo yêu cầu cải cách tư pháp” (2007) của
Bộ Tư pháp, Đề tài khoa học cấp Bộ, Hà Nội[7]. Đề tài đã đánh giá tổng quan
thực trạng đội ngũ chấp hành viên hiện nay. Trên cơ sở đó, đề xuất nhu cầu
phát triển đội ngũ chấp hành viên và chương trình khung về đào tạo chấp
hành viên trong thời gian tới đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp.
5
- “Xây dựng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh
Hóa” (2016) của tác giả Nguyễn Xuân Thái, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học
viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội[32]. Luận văn đã nghiên cứu
vấn đề lý luận về xây dựng đội ngũ Chấp hành viên và trên cơ sở đánh giá
thực trạng xây dựng đội ngũ Chấp hành viên ở tỉnh Thanh Hóa, đề xuất những
quan điểm, giải pháp bảo đảm xây dựng đội ngũ Chấp hành viên thi hành án
dân sự ở tỉnh Thanh Hóa.
Một số công trình nghiên cứu khác như: “Chất lượng đội ngũ chấp
hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh Đồng Tháp” (2015) của tác giả Vũ Quang
Hiện, Luận văn Thạc sĩ Luật học, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh,
Hà Nội[17]; “Chất lượng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở tỉnh
Bắc Giang” (2013) của tác giả Nguyễn Thành Bắc, Luận văn Thạc sĩ Luật
học, Học viện Chính trị - Hành chính quốc gia Hồ Chí Minh, Hà Nội[1]; “Xây
dựng đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự ở thành phố Hà Nội” (2015)
luật về thi hành án dân sự;
+ Phân tích, đánh giá thực trạng chất lượng đội ngũ Chấp hành viên
trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa và tìm ra
nguyên nhân của thực trạng đó;
+ Đề xuất các quan điểm, giải pháp nâng cao chất lượng đội của ngũ
chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh
Hóa.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là chất lượng đội ngũ chấp hành viên
trong thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự ở tỉnh Thanh Hóa.
Phạm vi nghiên cứu của đề tài được giới hạn trong việc thực hiện pháp
luật về thi hành án dân sự trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, thông qua thực tiễn và
số liệu của cơ quan thi hành án dân sự tỉnh Thanh Hóa từ năm 2010 đến năm
2015.
5. Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu đề tài
Luận văn được nghiên cứu dựa trên lý luận của chủ nghĩa Mác – Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; chủ trương đường lối của
Đảng, chính sách pháp luật của nhà nước về công tác thi hành án dân sự và
chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020.
7
Luận văn sử dụng những phương pháp nghiên cứu sau:
+ Phương pháp phân tích, tổng hợp
+ Phương pháp so sánh
+ Phương pháp thống kê
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Ý nghĩa khoa học của luận văn:
- Luận văn góp phần làm rõ thêm cơ sở lý luận về chất lượng đội ngũ
tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện trong
cuộc sống. Vì vậy, thực hiện pháp luật là hoạt động không thể thiếu khi pháp
luật ra đời.
Thực hiện pháp luật là giai đoạn không thể thiếu và vô cùng quan trọng
của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Thực hiện pháp luật một mặt nhằm đạt được
những mục đích xã hội mặt khác còn cho phép làm rõ những hạn chế, bất cập
của hệ thống pháp luật thực định để từ đó có thể đưa ra những giải pháp hữu
hiệu cho việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật hiện hành và cơ
chế đưa pháp luật vào cuộc sống. Pháp luật được thực hiện nghiêm minh sẽ
tạo ra trật tự cần thiết để các quan hệ xã hội tồn tại và phát triển theo những
định hướng mong muốn có lợi cho xã hội, cho nhà nước cũng như cho cá
nhân[34].
Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể
pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự
liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử
sự chung mà Nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể đó thông qua hành
vi thực tế hợp pháp của mình, nói cách khác, những đòi hỏi, cấm đoán hay
cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành
các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật. Dưới
góc độ pháp lý thì thực hiện pháp luật là hành vi pháp luật (hành động hoặc
không hành động) hợp pháp, nghĩa là nó được tiến hành phù hợp với những
yêu cầu, đòi hỏi trong phạm vi các quy định của pháp luật[14].
9
Thực hiện pháp luật là nghĩa vụ của tất cả các tổ chức và cá nhân, mọi
tổ chức và cá nhân trong xã hội. Đối với Nhà nước thì thực hiện pháp luật là
một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của nhà
nước, quản lý và bảo vệ xã hội, còn đối với các tổ chức phi nhà nước hoặc các
được đưa ra thi hành theo quy định. Điều 2 Luật thi hành án dân sự 2008
được sửa đổi bổ sung năm 2014 quy định về những bản án, quyết định được
đưa ra thi hành bao gồm:
- Những bản án đã có hiệu lực pháp luật: Bản án, quyết định hoặc phần
bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm không bị kháng cáo, kháng nghị
theo thủ tục phúc thẩm; bản án, quyết định của Tòa án cấp phúc thẩm; Quyết
định giám đốc thẩm hoặc tái thẩm của Tòa án; bản án, quyết định dân sự của
Tòa án nước ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài đã được Tòa án Việt
nam công nhận và cho thi hành tại Việt Nam; quyết định xử lý vụ việc cạnh
tranh của Hội đồng xử lý vụ việc cạnh tranh mà sau 30 ngày kể từ ngày có
hiệu lực pháp luật đương sự không tự nguyện thi hành, không khởi kiện tại
Tòa án; quyết định của Trọng tài thương mại; quyết định của Tòa án giải
quyết phá sản.
- Những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành
ngay, mặc dù có thể bị kháng cáo, kháng nghị: Bản án, quyết định về cấp
dưỡng, trả lương, trả công lao động, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất việc làm,
trợ cấp mất sức lao động hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe,
tổn thất về tinh thần, nhận người lao động trở lại làm việc; quyết định áp dụng
biện pháp khẩn cấp tạm thời.
Như vậy, hoạt động thi hành án dân sự là việc tổ chức thi hành các bản
án, quyết định của Tòa án theo trình tự, thủ tục mà pháp luật quy định nhằm
bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân, cơ quan, tổ chức.
Bản án, quyết định của Tòa án mới chỉ giải quyết nội dung vụ án, xác
định được quyền và nghĩa vụ của các đương sự, còn phán quyết của Tòa án có
trở thành hiện thực hay không còn tùy thuộc vào quá trình thực thi nó trong
cuộc sống. Thực hiện nghiêm chỉnh pháp luật về thi hành án dân sự sẽ phát
huy hiệu lực của các bản án, quyết định của Tòa án, đảm bảo chúng được tôn
trọng và thi hành trên thực tế, góp phần bảo đảm tính nghiêm minh của pháp
luật và pháp chế xã hội chủ nghĩa; bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của tổ
chức, cá nhân và Nhà nước, góp phần giữ vững ổn định chính trị - xã hội, tăng
nghiệm, nâng cao chất lượng và hiệu quả trong công tác xét xử.
1.1.2. Các hình thức thực hiện pháp luật về thi hành án dân sự
Nhà nước điều tiết xã hội bằng pháp luật, điều chỉnh các quan hệ xã hội
bằng các quy phạm pháp luật nhất định. Việc biến chuẩn mực pháp luật thành
12
hành vi pháp luật thực tế của con người gắn liền với việc thực hiện pháp luật
và gắn liền với các nhân tố có ảnh hưởng đến việc thực hiện pháp luật. Theo
cách tiếp cận này, thực hiện pháp luật nói chung, thực hiện pháp luật về thi
hành án dân sự nói riêng có các hình thức cơ bản là: tuân thủ (tuân theo) pháp
luật, thi hành (chấp hành) pháp luật, sử dụng pháp luật và áp dụng pháp luật.
Tuân thủ (tuân theo) pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong
đó các chủ thể pháp luật kiềm chế, không tiến hành những hoạt động mà pháp
luật cấm. Các quy phạm pháp luật cấm được thực hiện ở hình thức này. Tuân
thủ pháp luật biểu hiện cách cư xử thụ động của các chủ thể pháp luật.
Ở hình thức thực hiện pháp luật này, chấp hành viên trong quá trình thi
hành án không được tiến hành những hoạt động mà pháp luật cấm. Ví dụ:
chấp hành viên không được thực hiện những công việc mà cán bộ công chức
không được làm theo quy định tại các Điều 18, 19, 20 của Luật cán bộ, công
chức 2008 và các văn bản liên quan[28]. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 21
Luật thi hành án dân sự 2008 được sửa đổi bổ sung năm 2014 thì trong quá
trình Thi hành án dân sự, chấp hành viên không được làm những việc sau:
- Tư vấn cho đương sự làm cho việc thi hành án không đúng quy định
của pháp luật;
- Can thiệp trái pháp luật vào việc giải quyết các vụ việc thi hành án;
hoặc lợi dụng ảnh hưởng của mình tác động đến người có trách nhiệm thi
hành án;
- Sử dụng trái phép tiền, tài sản, vật chứng có liên quan đến thi hành án;
chỉnh chuẩn mực đạo đức chấp hành viên;
- Triệu tập đương sự, người có liên quan đến việc thi hành án; xác minh
tài sản, điều kiện thi hành án của người phải thi hành án...
Sử dụng pháp luật: Là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó các chủ
thể pháp luật thực hiện quyền, tự do pháp lý của mình (những hành vi mà
pháp luật cho phép chủ thể thực hiện). Các quy phạm pháp luật quy định về
các quyền tự do pháp lý được thực hiện ở hình thức này. Vì quyền tự do pháp
lý là những hành vi mà pháp luật cho phép chủ thể thực hiện nên chủ thể có
thể thực hiện hoặc không thực hiện các quyền, tự do đó theo ý chí của mình.
Trong quá trình thi hành án, chấp hành viên thực hiện các quyền hạn
mà pháp luật quy định. chấp hành viên có thể lựa chọn thực hiện hoặc không
thực hiện, tùy thuộc vào ý chí của mình. Ví dụ: chấp hành viên có thể lựa
14
chọn sử dụng hoặc không sử dụng công cụ hỗ trợ khi thi hành công vụ; có
quyền yêu cầu cơ quan Công an tạm giữ người chống đối việc thi hành án
theo quy định của pháp luật (Khoản 9; khoản 6, Điều 21, Luật thi hành án dân
sự 2008 sửa đổi bổ sung năm 2014)…
Áp dụng pháp luật: là hình thức thực hiện pháp luật, trong đó Nhà nước
thông qua các cơ quan nhà nước hoặc nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức
cho các chủ thể pháp luật thực hiện những quy định của pháp luật hoặc tự
mình căn cứ vào các quy định của pháp luật để tạo ra các quyết định làm phát
sinh, thay đổi, đình chỉ hoặc chấm dứt các quan hệ pháp luật cụ thể.
Ở hình thức thực hiện pháp luật này, chấp hành viên là người nhân
danh Nhà nước căn cứ vào các quy định của pháp luật về thi hành án dân sự,
căn cứ vào tình hình thực tế của vụ việc để lựa chọn và ra quyết định và áp
dụng các biện pháp cưỡng chế, biện pháp đảm bảo thi hành án phù hợp.
Trong áp dụng pháp luật thi hành án dân sự, tính chủ động trong hoạt động
sung năm 2014 thì: “Chấp hành viên là người được Nhà nước giao nhiệm vụ
thi hành các bản án, quyết định theo quy định tại Điều 2 của Luật này. Chấp
hành viên có ba ngạch là Chấp hành viên sơ cấp, Chấp hành viên trung cấp
và Chấp hành viên cao cấp”[29] .
Theo Giáo trình Luật thi hành án dân sự thì: “Chấp hành viên là người
được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định dân sự được
đưa ra thi hành”[35,tr 86].
Vậy chấp hành viên là chức danh gì và có đặc thù ra sao thì hiện nay
đang có nhiều ý kiến khác nhau.
Liên quan đến vấn đề này, đa số ý kiến cho rằng, chấp hành viên là
chức danh tư pháp, được pháp luật quy định nhiều nhiệm vụ, quyền hạn quan
trọng (tương tự như chức danh Kiểm sát viên và Thẩm phán).
Tuy nhiên, cũng có một số ý kiến cho rằng chấp hành viên là công chức
hành chính - tư pháp vì xuất phát từ đặc thù của hoạt động thi hành án là hoạt
động mang tính chất hành chính - tư pháp.
Về vấn đề này tác giả cho rằng, chấp hành viên trước hết là công chức
Nhà nước, được bổ nhiệm theo những tiêu chuẩn do pháp luật quy định, công
tác tại các cơ quan THADS ở cấp tỉnh, cấp huyện, được pháp luật quy định
nhiều nhiệm vụ, quyền hạn nhằm thực hiện những mục tiêu mà Nhà nước đặt
ra. Theo đó, chấp hành viên sẽ nhân danh Nhà nước, thực hiện quyền lực nhà
16
nước để tổ chức thi hành các bản án, quyết định của Tòa án. Trong quá trình
thực thi nhiệm vụ, chấp hành viên chỉ tuân theo pháp luật, chịu trách nhiệm
trước pháp luật và được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, do hoạt động trong lĩnh
vực tư pháp, có nhiều đặc thù nên khác với các công chức khác, chấp hành
viên cùng với Thẩm phán, Kiểm sát viên được Nhà nước quy định riêng về
chế độ tiền lương, phụ cấp trách nhiệm nghề, đồng thời cũng bị áp dụng hình
chức trong xã hội như: Đội ngũ trí thức, đội ngũ cán bộ công chức, đội ngũ
chấp hành viên... Đó là sự gắn kết những cá thể với nhau, hoạt động qua sự
phân công, hợp tác lao động, là những người có chung mục đích, lợi ích và
ràng buộc với nhau bằng trách nhiệm pháp lý.
Đội ngũ chấp hành viên thi hành án dân sự là tập hợp những người
người được Nhà nước giao nhiệm vụ thi hành các bản án, quyết định của Tòa
án theo trình tự, thủ tục quy định.
1.2.2. Tiêu chuẩn bổ nhiệm chấp hành viên
Theo quy định tại Khoản 1, Điều 18 Luật thi hành án dân sự 2008 sửa
đổi bổ sung năm 2014, để trở thành chấp hành viên cần thỏa mãn những điều
kiện sau: Là công dân Việt Nam trung thành với tổ quốc, trung thực, liêm
khiết, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ cử nhân Luật trở lên, đã được đào
tạo về nghiệp vụ thi hành án dân sự, có thời gian làm công tác pháp luật theo
quy định, có sức khỏe để hoàn thành nhiệm vụ được giao. Tuy nhiên, ngoài
các điều kiện theo quy định nêu trên để được bổ nhiệm vào ngạch chấp hành
viên thì bắt buộc phải qua kỳ thi tuyển. Để tham dự kỳ thi tuyển này, Điều 57
nghị định số 62/2015/NĐ - CP ngày 18/07/2015 của Chính phủ quy định chi
tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật thi hành án dân sự quy định:
ngoài việc có đủ tiêu chuẩn của ngạch chấp hành viên, người tham dự kỳ thi
tuyển phải không thuộc trường hợp đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự hoặc
đang bị xem xét xử lý kỷ luật nhưng chưa có kết luận, quyết định cuối cùng
của cơ quan, tổ chức có thẩm quyền và các trường hợp khác theo quy định
của pháp luật về cán bộ, công chức.
Bên cạnh đó, để được bổ nhiệm làm chấp hành viên sơ cấp, trung cấp
hay cao cấp thì ngoài những tiêu chuẩn chung đã nêu ở trên, người được bổ
nhiệm làm chấp hành viên sơ cấp phải có thời gian làm công tác pháp luật từ
03 năm trở lên, đã được đào tạo nghiệp vụ thi hành án dân sự và trúng tuyển
kỳ thi chấp hành viên sơ cấp. Người được bổ nhiệm làm chấp hành viên trung
cấp phải có thời gian làm chấp hành viên sơ cấp từ 05 năm trở lên và trúng
quốc tế liên quan đến công tác thi hành án của cấp mình; am hiểu sâu về nội
dung pháp luật về thi hành án dân sự; áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế
độ, thủ tục về nghiệp vụ thi hành án dân sự; nắm chắc tình hình kinh tế, xã hội
của địa phương, của đất nước; có khả năng độc lập tổ chức thực hiện công
19
việc được giao; có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc
thi hành án; có khả năng giáo dục, thuyết phục đương sự thi hành bản án,
quyết định của tòa án; có khả năng phân tích, tổng hợp và soạn thảo được văn
bản liên quan đến chức trách, nhiệm vụ được giao.
+ Về trình độ: Có chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ ngạch chấp hành viên
trung cấp theo nội dung, chương trình của Bộ Tư pháp; có ngoại ngữ trình độ
B trở lên (một trong năm thứ tiếng: Anh, Pháp, Nga, Đức, Trung Quốc) hoặc
một ngoại ngữ khác theo yêu cầu của vị trí làm việc; có trình độ tin học văn
phòng; chủ trì hoặc tham gia xây dựng đề tài, đề án, công trình nghiên cứu
khoa học về công tác thi hành án dân sự được áp dụng có hiệu quả trong thực
tiễn.
- Đối với chấp hành viên cao cấp:
+ Về năng lực: Có kiến thức lý luận của chủ nghĩa Mác - Lê nin và tư
tưởng Hồ Chí Minh, nắm vững đường lối chính sách của Đảng, pháp luật của
Nhà nước, chỉ thị, nghị quyết của cấp trên để vận dụng vào công tác thi hành
án dân sự; các mục tiêu chiến lược phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội; am hiểu
các nội dung về hệ thống pháp luật hiện hành và pháp luật quốc tế liên quan
đến công tác thi hành án của cấp mình; am hiểu sâu các nội dung pháp luật về
thi hành án dân sự; áp dụng thành thạo các nguyên tắc, chế độ, thủ tục về
nghiệp vụ thi hành án dân sự; am hiểu sâu rộng tình hình kinh tế, xã hội trong
nước và quốc tế; có khả năng độc lập tổ chức thực hiện công việc được giao;
có khả năng phối hợp tốt với các cơ quan hữu quan trong việc tổ chức thi
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự còn quy định
trong trường hợp do nhu cầu cấp bách phải bổ nhiệm thủ trưởng, phó thủ
trưởng cơ quan thi hành án dân sự, người có đủ tiêu chuẩn quy định tại khoản
1, Điều 18 Luật thi hành án dân sự 2008 đã có thời gian làm công tác pháp
luật từ 05 năm trở lên có thể được bổ nhiệm chấp hành viên sơ cấp; có 10 năm
làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm chấp hành viên trung
cấp; có 15 năm làm công tác pháp luật trở lên có thể được bổ nhiệm chấp
hành viên cao cấp không qua thi tuyển. Việc xác định tiêu chuẩn và bổ nhiệm
chấp hành viên trong một số trường hợp đặc biệt nêu trên được quy định cụ
thể tại Điều 18 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự
2014, Điều 63 Nghị định số 62/2015/NĐ-CP.
1.2.3. Vai trò của Chấp hành viên trong thực hiện pháp luật về thi hành án
dân sự
Thứ nhất, chấp hành viên là người thi hành nội dung bản án, quyết
định của Tòa án tuân theo đúng trình tự, thủ tục quy định của pháp luật
Nhiệm vụ trọng tâm của cơ quan THADS là thi hành phần dân sự trong