BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
BỘ TƯ PHÁP
TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI
PHIMMASONE MONOLIN
QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ BẢN CỦA CÔNG DÂN
DƯỚI GÓC ĐỘ SO SÁNH GIỮA HIẾN PHÁP LÀO
NĂM 2003 VÀ HIẾN PHÁP VIỆT NAM NĂM 2013
LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC
Chuyên ngành
: Luật Hiến pháp và Luật Hành chính
Mã số
: 60.38.01.02
NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS. TRẦN THÁI DƯƠNG
HÀ NỘI - NĂM 2016
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin cảm ơn các thầy, cô giáo Trường Đại học Luật Hà Nội,
đặc biệt là các thầy, cô giáo Khoa sau Đại học và Khoa Pháp luật Hành chính Nhà nước đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
chương trình thạc sĩ luật học tại Trường.
Tôi xin cảm ơn chân thành và sâu sắc người hướng dẫn khoa học - TS. Trần
: Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
NDCM
: Nhân dân cách mạng
MỤC LỤC
Trang
MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài ................................................................................ 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài........................................................................... 2
3. Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu của luận văn ............................ 4
4. Mục tiêu nghiên cứu của luận văn ................................................................ 4
5. Các câu hỏi nghiên cứu .................................................................................. 5
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn..................... 5
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn ................................................ 5
8. Bố cục của luận văn ....................................................................................... 6
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ QUYỀN VÀ NGHĨA VỤ CƠ
BẢN CỦA CÔNG DÂN......................................................................................... 7
1.1. Khái niệm, đặc điểm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.................. 7
1.1.1. Khái niệm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân................................. 7
1.1.2. Đặc điểm quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân................................ 12
1.2. Quá trình phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân theo Hiến pháp Lào và Hiến pháp Việt Nam .......................................... 15
1.2.1. Quá trình phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân theo Hiến pháp Lào ................................................................................. 15
1.2.2. Quá trình phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công
dân theo Hiến pháp Việt Nam ......................................................................... 19
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO ............................................................ 90
1
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là chế định ra đời và phát triển gắn
liền với lịch sử lập hiến ở cả Lào và Việt Nam. Chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân bao giờ cũng nhận được sự quan tâm đặc biệt của Nhà nước và các
tầng lớp nhân dân. Trong các bản hiến pháp, chế định này luôn ở trước các chương
về bộ máy nhà nước. Điều đó khẳng định vị trí, vai trò to lớn và hết sức quan trọng
của chế định này trong các bản hiến pháp của hai nước Lào và Việt Nam.
Trong bối cảnh nước CHDCND Lào đang ra sức thực hiện công cuộc đổi
mới, hội nhập nhằm xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, đáp ứng yêu
cầu sửa đổi, bổ sung Hiến pháp của Lào để phù hợp các chính sách đổi mới của
Đảng NDCM Lào và tầm nhìn phát triển đất nước đến năm 2030, đưa đất nước ra
khỏi tình trạng kém phát triển vào năm 2020, Quốc hội Lào Khoá VII, kỳ họp thứ
10 đã thông qua bản Hiến pháp mới của Lào (Hiến pháp năm 2015). Bản Hiến pháp
này bắt đầu có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2016. Đây là lần sửa đổi Hiến pháp
thứ hai của Lào kể từ khi đạo luật gốc này được ban hành vào năm 1991. So với
Hiến pháp năm 2003, Hiến pháp năm 2015 của Lào đã có những điểm sửa đổi, bổ
sung quan trọng đáp ứng yêu cầu xây dựng nhà nước pháp quyền của dân, do dân,
vì dân; phù hợp với chủ trương, định hướng xây dựng nền kinh tế thị trường và hội
nhập quốc tế của Đảng nhân dân cách mạng Lào, tình hình phát triển kinh tế - xã
hội của đất nước Lào hiện nay. Tuy nhiên, các quy định về quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân lại không thay đổi so với Hiến pháp năm 2003. Theo ý kiến của
các nhà lập hiến Lào, chế định này vẫn còn phù hợp với điều kiện hiện nay và giai
đoạn phát triển tiếp theo của đất nước. Ở Việt Nam, khi Hiến pháp năm 2013 được
thông qua và chính thức có hiệu lực pháp luật (từ ngày 01 tháng 01 năm 2014) thì ở
Hiến pháp Việt Nam, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, Nxb. Đại học Quốc gia
Hà Nội, Hà Nội.
Về các sách chuyên khảo, tham khảo, phải kể đến: Nxb. Phổ thông (1978),
Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân: tập luật lệ hiện hành thống nhất trong cả
nước; Đàm Văn Hiếu (1981), Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân, Nxb. Pháp
lý, Hà Nội; Vũ Kiều Oanh (2012), Chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân
ở một số nước trên thế giới, Nxb. Khoa học Xã hội, Hà Nội; Phạm Văn Ba, Nguyễn
Thị Báo, Vũ Công Giao (chủ biên), Quyền con người, quyền và nghĩa vụ cơ bản
của công dân trong Hiến pháp Việt Nam, Sách chuyên khảo, Văn phòng thường
trực về nhân quyền và Học viện chính trị quốc gia Hồ Chí Minh phối hợp thực hiện,
Hà Nội, 2015.
3
Về các công trình là luận án, luận văn có thể kê đến: Đoàn Thị Bạch Liên
(1998), Sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong
lịch sử lập hiến Việt Nam, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật Hà Nội,
Hà Nội; Trần Văn Bách (2002), Sự phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ
bản của công dân qua lịch sử lập hiến Việt Nam, Luận án tiến sĩ luật học, Viện Nhà
nước và pháp luật, Hà Nội.
Các bài viết đăng trên các báo, tạp chí khoa học chuyên ngành có rất nhiều,
trong đó tiêu biểu là: Nguyễn Đăng Dung, Bùi Tiến Đạt (2011), “Cải cách chế định
quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong hiến pháp theo nguyên tắc tôn trọng
quyền con người”, Tạp chí Nghiên cứu lập pháp, số 8/2011, tr. 5 – 10; Nguyễn Thị
Phương (2012), “Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong các bản hiến pháp
Việt Nam và kiến nghị sửa đổi, bổ sung Hiến pháp năm 1992”, Tạp chí Luật học số
8/2012, tr. 18 – 24; Nguyễn Linh Giang (2013), “Góp ý kiến Chương II: Quyền con
người, quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số
1/2013, tr. 6 – 12; Hoàng Thị Kim Quế (2013), “Một số vấn đề trong chương II: "
1. Những điểm tương đồng, khác biệt trong các nguyên tắc về quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân theo Hiến pháp Lào năm 2003 và Hiến pháp Việt
Nam năm 2013 là gì?
2. Những điểm tương đồng, khác biệt trong các quy định về quyền cơ bản
của công dân theo Hiến pháp Lào năm 2003 và Hiến pháp Việt Nam năm 2013 là
gì?
3. Những điểm tương đồng, khác biệt trong các quy định về nghĩa vụ cơ bản
của công dân theo Hiến pháp Lào năm 2003 và Hiến pháp Việt Nam năm 2013 là
gì?
6. Các phương pháp nghiên cứu áp dụng để thực hiện luận văn
Trên cơ sở phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa
duy vật lịch sử macxit; tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng
Cộng sản Việt Nam, chính sách, pháp luật của Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa
Việt Nam; quan điểm, đường lối của Đảng nhân dân cách mạng Lào, chính sách,
pháp luật của Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào, luận văn kết hợp và áp
dụng linh hoạt các phương pháp nghiên cứu cơ bản như: Phân tích, tổng hợp, khái
quát hoá, so sánh, liên hệ thực tiễn.
7. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu so sánh chế định quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp năm 2003 của Lào và Hiến pháp năm 2013
của Việt Nam, luận văn đã phân tích, chỉ rõ được những điểm tương đồng và khác
biệt trong các quy định của các bản Hiến pháp về quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân.
Luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho học tập, nghiên cứu tại các
cơ sở đào tạo chuyên ngành luật học, chính trị học… của Lào và Việt Nam; có thể
giúp cho các nhà nghiên cứu lập pháp của Lào trong việc hoạch định chính sách xây
6
vẫn phụ thuộc gần như hoàn toàn vào giai cấp chủ nô về kinh tế và chính trị.
Trong chế độ phong kiến, thân phận người nông dân có khá hơn nô lệ ở chỗ
họ không lệ thuộc về thân thế và địa chủ phong kiến song nông dân vẫn là người lệ
thuộc về kinh tế, chính trị, tinh thần vào nhà nước phong kiến. Khái niệm “Thần
dân” chỉ thân phận tôi đòi của nông dân dưới chế độ phong kiến. Các tầng lớp xã
hội khác như thợ thủ công, thương nhân, kiều dân, những người tự do… cũng có địa
vị rất thấp kém trong thang bậc giá trị kết cấu giai tầng phức tạp của xã hội phong
kiến. Nhà nước phong kiến đã thực hiện nhiều biện pháp, trong đó có pháp luật để
đàn áp, bóc lột nông dân và những người lao động khác. Quan hệ giữa nhà nước
phong kiến với thần dân cũng là quan hệ bất bình đẳng về quyền và nghĩa vụ.
Sang chế độ tư bản chủ nghĩa, hiến pháp tư sản công khai thừa nhận quyền
của các cá nhân chịu sự quản lý của nhà nước tư sản bằng việc quy định quyền bình
đẳng của công dân và xác lập địa vị pháp lý của họ trong xã hội. Công dân được
8
hưởng các quyền mà nhà nước tạo cho, đồng thời phải làm các nghĩa vụ với nhà
nước, còn nhà nước phải bảo vệ, đảm bảo các quyền của công dân. Như vậy, con
người trong mối quan hệ với nhà nước đã có bước phát triển về chất, vai trò của các
nhân con người tăng lên đáng kể nhưng trên thực tế, ở nhiều nước tư sản các quyền
của công dân luôn bị hạn chế, thậm chí bị vi phạm nghiêm trọng.
Nhà nước XHCN là nhà nước kiểu mới, có bản chất khác với ba kiểu nhà
nước chủ nô, phong kiến, tư sản. Lần đầu tiên trong lịch sử loài người, kiểu quan hệ
mới giữa Nhà nước với công dân được thiết lập. Đó là mối quan hệ bình đẳng thật
sự về quyền, nghĩa vụ giữa hai bên và được pháp luật ghi nhận, bảo vệ, đảm bảo…
có sự bình đẳng này là vì nhà nước XHCN là nhà nước thực sự của dân, do dân, vì
dân; luôn coi mục đích của nhân dân là mục đích tong tại và phát triển của mình.
Như vậy, mối quan hệ giữa nhà nước và cá nhân hình thành từ khi nhà nước ra đời
và phát triển quan các giai đoạn phát triển của nhà nước. Từ nhà nước chủ nô,
phải chịu trách nhiệm trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền về xử sự của mình.
Quyền và nghĩa vụ của công dân là những phạm trù pháp lý có giới hạn. Vì
không thể có một cá nhân nào được quyền làm tất cả những gì anh ta muốn, dù rằng
quyền là khả năng công dân có thể xử sự, được phép xử sự vì lợi ích của chính bản
thân công dân những cũng phải trong phạm vi pháp luật cho phép, có tính tới quyền
lợi của xã hội và của những công dân khác do đó nó phải được giới hạn trong phạm
vi nhất định. Đồng thời không thể có một cá nhân nào đó chỉ phải làm nghĩa vụ mà
không được hưởng quyền lợi gì cả. Bởi vì nếu một công dân chỉ phải làm nghĩa vụ
mà không có quyền, không xuất phát từ lợi ích của chính bản thân họ thì họ sẽ hành
động một cách gượng ép và kết quả sẽ không tốt, ảnh hưởng tới người khác và xã
hội nói chung. Vì thế, quyền và nghĩa vụ công dân luôn gắn liền với nhau và được
pháp luật ghi nhận, sự ghi nhận này có tính đến sự phù hợp giữa lợi ích của tập thể,
của nhà nước với lợi ích của các cá nhân công dân trong xã hội.
Theo khoa học pháp lý, hệ thống các quyền và nghĩa vụ của công dân có thể
được phân chia theo hai cấp độ là: Quyền và nghĩa vụ cơ bản; quyền và nghĩa vụ cụ
thể. Trong đó, quyền và nghĩa vụ cơ bản là quyền, nghĩa vụ thuộc các lĩnh vực quan
trọng, cốt yếu nhất trong mối quan hệ giữa nhà nước và công dân, được ghi nhận
trong hiến pháp, các đạo luật, bộ luật. Quyền và nghĩa vụ cụ thể là quyền, nghĩa vụ
thuộc các lĩnh vực cụ thể của công dân, những quyền và nghĩa vụ này được xác
định trên cơ sở các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân.
Điều 14 Hiến pháp Việt Nam năm 2013 quy định:
10
“1. Ở nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, các quyền con người,
quyền công dân về chính trị, dân sự, kinh tế, văn hóa, xã hội được công nhận, tôn
trọng, bảo vệ, bảo đảm theo Hiến pháp và pháp luật.
2. Quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của
luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an
quyền lực nhà nước thông qua quốc hội, hội đồng nhân dân các cấp và các cơ quan
nhà nước khác, cho nên phải có những quy định chặt chẽ của pháp luật đối với tổ
chức và hoạt động của những cơ quan này nhằm đảm bảo cho chúng thực thi quyền
lực nhà nước đúng thẩm quyền, tránh sự lạm quyền dẫn đến vi phạm tự do cá nhân
của công dân. Do đó, quyền lực nhà nước luôn luôn là quyền có giới hạn được quy
định bằng pháp luật và nhằm thực thi pháp luật. Đồng thời, bằng pháp luật nhà nước
quy định các quyền và nghĩa vụ của công dân, đảm bảo các quyền và nghĩa vụ của
công dân được thực hiện trong thực tế.
Như vậy, dưới chế độ dân chủ XHCN, mọi công dân đều bình đẳng trước
pháp luật, Nhà nước đảm bảo các quyền của công dân, công dân phải làm tròn
nghĩa vụ của mình đối với Nhà nước và xã hội. Mỗi công dân có thể làm được tất cả
những gì mà pháp luật không cấm, có quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước, cán bộ
viên chức Nhà nước và công dân khác tôn trọng quyền và lợi ích hợ pháp của mình
hoặc chấm dứt những hành động cản trở mình thực hiện quyền và nghĩa vụ, có
quyền yêu cầu cơ quan Nhà nước có thẩm quyền bảo vệ quyền và lợi ích của mình
khi chúng bị xâm phạm.
Về phía Nhà nước, Nhà nước có quyền xác định các quyền và nghĩa vụ của
công dân và yêu cầu công dân phải thực hiện đúng quyền và làm tròn nghĩa vụ đối
với Nhà nước, có quyền xử lý theo pháp luật công dân nào xâm phạm lợi ích của
Nhà nước, xã hội và công dân khác. Để đảm bảo việc thực hiện những quyền và
nghĩa vụ của công dân nói riêng, quản lý và điều hành các công việc của xã hội nói
chung, Nhà nước phải đặt ra pháp luật là hệ thống các quy tắc, xác định cho cơ quan
Nhà nước, tổ chức xã hội và mọi công dân những việc được làm, không được làm
hoặc phải làm. Pháp luật hướng xử sự của mọi người vào một trật tự xã hội XHCN
mà Nhà nước thiết lập. Pháp luật là sự thể chế hóa đường lối chính sách của Đảng,
làm cho đường lối chính sách này trở thành hiện thực trong đời sống xã hội, song
pháp luật chỉ thực sự đi vào cuộc sống khi được các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã
hội mà đặc biệt là mọi công dân tự giác tuân thủ. Do vậy, mọi công dân hiểu biết
pháp luật, tin tưởng pháp luật sẽ tự giác thuân theo pháp luật và có ý thức đấu tranh
đối với những hành vi vi phạm pháp luật.
vậy, quyền nghĩa vụ pháp lý cơ bản và quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể có mối quan
hệ mật thiết với nhau, trong đó các quyền, nghĩa vụ cơ bản được quy định trong
Hiến pháp, luật là cơ sở trong việc quy định các quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể; các
1
Thái Vĩnh Thắng, Vũ Hồng Anh (chủ biên, 2015), Giáo trình Luật Hiến pháp Việt Nam, Trường Đại học
Luật Hà Nội, Nxb. Công an nhân dân, Hà Nội, tr.254.
13
quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể không được mâu thuẫn với các quyền, nghĩa vụ pháp
lý cơ bản, và thông qua quyền, nghĩa vụ pháp lý cụ thể mà các quyền, nghĩa vụ cơ
bản được cụ thể hóa, đi vào thực tế đời sống.
- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân là nguồn gốc phát sinh các
quyền và nghĩa vụ khác của công dân. Cơ sở phát sinh duy nhất của các quyền và
nghĩa vụ cơ bản của công dân là quyền công dân – nghĩa là người có quốc tịch của
Nhà nước đó, còn cơ sở phát sinh các quyền và nghĩa vụ khác của công dân là sự
tham gia của họ vào các quan hệ pháp luật, là các sự kiện pháp lý v.v..
- Các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân thể hiện tính chất dân chủ,
nhân văn và tiến bộ của Nhà nước.
Nhìn vào các quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân được ghi nhận trong
hiến pháp và thực tiễn thực hiện các quy định đó, chúng ta có thể đánh giá được mức
độ dân chủ, nhân đạo, tiến bộ và mối quan hệ giữa nhà nước, xã hội và cá nhân.
Tuy xuất phát trên cơ sở các quyền con người được cộng đồng quốc tế thừa
nhận rộng rãi nhưng quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân gắn liền với nền hiến
pháp và pháp luật của mỗi quốc gia và đều có những đặc điểm riêng.
Quyền con người (human rights) là một phạm trù đa diện, do đó có nhiều
định nghĩa khác nhau.
chính là những quyền con người được các nhà nước thừa nhận và áp dụng cho công
dân của mình2. Tuy nhiên, quyền công dân không phải là hình thức cuối cùng và
toàn diện của quyền con người. Với ý nghĩa là một khái niệm gắn liền với Nhà
nước, thể hiện mối quan hệ giữa công dân với Nhà nước, được xác định thông qua
một chế định pháp luật đặc biệt là chế định quốc tịch, quyền công dân là tập hợp
những quyền tự nhiên được pháp luật của một nước ghi nhận và bảo đảm, nhưng
chỉ cho những người có quốc tịch của nước đó. Không phải ai cũng được hưởng các
quyền công dân của một quốc gia nhất định và không phải hệ thống quyền công dân
của mọi quốc gia đều giống hệt nhau, cũng như đều hoàn toàn tương thích với
hệ thống các tiêu chuẩn quốc tế về quyền con người.
Ba là, đa số hiến pháp các nước đều quy định rạch ròi quyền công dân và
quyền con người; và đều sử dụng cả hai thuật ngữ công dân và mọi người. Những
quyền dành cho công dân thì chế định “công dân có quyền, ...”; những quyền dành
cho mọi người thì sử dụng thuật ngữ mọi người/hoặc không ai. Ví dụ: không ai bị
bắt, giam giữ vô cớ, hoặc bị tra tấn, nhục hình.
2
Nguyễn Đăng Dung, Vũ Công Giao, Lã Khánh Tùng (Đồng chủ biên, 2009), Giáo trình lý luận và pháp
luật về quyền con người, Nxb. Đại học quốc gia Hà Nội, tr.82.
15
Như vậy, quyền con người và quyền công dân là hai phạm trù khác nhau,
song có mối liên hệ rất chặt chẽ, tác động, bổ sung lẫn nhau. Khái niệm và viễn
cảnh về quyền con người có thể được nhìn nhận qua lăng kính của quyền công dân
và ngược lại. Thực tế cho thấy sự gắn bó giữa quyền con người và quyền công dân
ngày càng trở lên mật thiết, đến nỗi trong một số trường hợp rất khó phân biệt và
trong một số bối cảnh không cần thiết phải phân biệt giữa chúng (ví dụ các quyền
CHDCND Lào đã trải qua ba bản Hiến pháp tương ứng với các giai đoạn phát triển
của đất nước. Hiến pháp là đạo luật có hiệu lực cao nhất được Quốc hội ban hành.
Hiến pháp là thành quả chung của trí tuệ và sự đóng góp ý kiến của nhân dân trên
toàn quốc, phản ánh ý chí và sự quyết tâm mạnh mẽ của cộng đồng cùng nhau
hướng tới mục tiêu xây dựng thành công đất nước Lào trở thành nước hòa bình, tự
do, dân chủ, thống nhất và thịnh vượng.
Nước CHDCND Lào là quốc gia có nhiều bộ tộc cùng sinh sống, Đảng và
Nhà nước Lào luôn đề cao tinh thần đoàn kết giữa các dân tộc, xây dựng và triển
khai đường lối chính sách đúng đắn, phù hợp về quản lý và phát triển đất nước
trong từng thời kỳ.
Xuyên suốt quá trình phát triển của Hiến pháp Lào từ năm 1991 đến nay cho
thấy, chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn được coi trọng. Các bản
Hiến pháp năm 1991 và sửa đổi vào các năm 2003 và 2015 thể hiện rõ các quyền và
quyền nghĩa vụ cơ bản của công dân luôn có sự vận động, phát triển theo nguyên
tắc kế thừa biện chứng, ngày một hoàn chỉnh và phù hợp với các công ước quốc tế
mà Lào là thành viên.
Hiến pháp Lào năm 1991, được thông qua ngày 14/8/1991 tại kỳ họp thứ
6 Hội đồng Nhân dân Tối cao khóa 2. Việc thông qua Hiến pháp có ý nghĩa hết sức
quan trọng, là cơ sở để Nhà nước được tổ chức và hoạt động thống nhất, thể hiện rõ
bản chất là nhà nước của dân, do dân, vì dân. Hiến pháp là đạo luật gốc, có giá trị
pháp lý cao nhất, là cơ sở để xây dựng một hệ thống pháp luật mới thống nhất, đồng
bộ, có hiệu lực, hiệu quả. Đồng thời, việc thông qua Hiến pháp, một mặt, thể hiện
sự đổi mới tổ chức và hoạt động của Nhà nước trong giai đoạn mới, mặt khác, tạo
cơ sở pháp lý cho quá trình đổi mới và hoàn thiện nhà nước theo hướng xây dựng
nước CHDCND Lào là Nhà nước của dân, do dân và vì dân. Lần đầu tiên chế độ
CHDCND Lào đã có đạo luật cơ bản là Hiến pháp, trên cơ sở đó mà ban hành các
đạo luật khác, nhằm bảo vệ thành quả cách mạng cũng như bảo đảm các quyền lợi
và nghĩa vụ của mọi công dân Lào dưới chế độ xã hội mới3.
3
nước pháp quyền, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa và hội nhập
kinh tế quốc tế từ năm 2001. Do đó, các quyền và nghĩa vụ của công dân cũng phải
được quy định phù hợp với những quy định của các điều ước quốc tế về quyền con
người. Lào đã là thành viên của Liên hợp quốc từ 14/12/1955, và đã gia nhập
ASEAN vào cuối thập niên thứ 9 của thế kỷ XX, cùng với đó, Lào đã ký kết những
điều ước quốc tế quan trọng về quyền con người trong đó có Công ước quốc tế về
18
các quyền dân sự, chính trị năm 1966 vào ngày 07/12/20004 và Công ước quốc tế về
các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 vào ngày 07/12/20005. Để phù hợp
với các quy định của pháp luật quốc tế, cũng như tạo tiền đề cho việc phê chuẩn các
Công ước quốc tế quan trọng về quyền con người sau này (Lào phê chuẩn Công ước
quốc tế về các quyền dân sự, chính trị năm 1966 vào ngày 25/9/2009, phê chuẩn
Công ước quốc tế về các quyền kinh tế, xã hội và văn hoá năm 1966 vào ngày
13/2/2007), Hiến pháp năm 2003 đã sửa đổi, bổ sung chương “Các quyền và nghĩa
vụ cơ bản của công dân”. Trong đó, Điều 3 khẳng định: “Quyền làm chủ đất nước
của nhân dân các bộ tộc được thực hiện và bảo đảm thông qua hoạt động của hệ
thống chính trị với Đảng nhân dân cách mạng Lào là hạt nhân lãnh đạo”6. Quy
định trên đã tạo cơ sở pháp lý vững chắc cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống
pháp luật Lào. Hiến pháp Lào năm 2003 ghi nhận các quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân như: Quyền bình đẳng trước pháp luật không phân biệt giới tính, địa vị xã
hội, giáo dục, tín ngưỡng và dân tộc (Điều 35 Hiến pháp 2003); quyền được bầu cử
(Điều 36); quyền bình đẳng giới (Điều 37); quyền được giáo dục và tự học tập
(Điều 38), quyền tự do đi lại và cư trú (Điều 40); quyền khiếu nại (Điều 41); quyền
tự do tôn giáo (Điều 43); quyền tự do tiến hành nghiên cứu và áp dụng khoa học, kĩ
thuật và công nghệ… mà không trái với pháp luật… (Điều 45)… Cùng những nghĩa
vụ như: Công dân Lào có nghĩa vụ tôn trọng hiến pháp và pháp luật, quy định lao
động quy tắc để sống và một trật tự xã hội (Điều 47), công dân Lào có nghĩa vụ nộp
năm 2015 của Lào quy định Lào là một quốc gia dân chủ, với tất cả quyền lực thuộc
về nhân dân, do dân và vì lợi ích của người dân. Tuy nhiên, các quy định về quyền
và nghĩa vụ của công dân vẫn giữ nguyên như Hiến pháp Lào năm 2003.
1.2.2. Quá trình phát triển của chế định quyền và nghĩa vụ cơ bản của
công dân theo Hiến pháp Việt Nam
Tính đến nay, lịch sử lập hiến Việt Nam mới được 70 năm - một khoảng thời
gian không dài so với lịch sử lập hiến hơn hai trăm năm của đất nước Pháp, Mỹ và
nhiều nước khác trên thế giới. Tuy vậy, lịch sử lập hiến Việt Nam đã có năm bản
Hiến pháp (1946, 1959, 1980, 1992 và 2013) đánh dấu năm giai đoạn phát triển của
Nhà nước Việt Nam. Cùng với sự phát triển của các chế định khác trong Hiến pháp
như chế định Chính thể, Quốc hội, Chính phủ, TAND, VKSND… Chế định Quyền
và nghĩa vụ cơ bản của công dân cũng phát triển và ngày càng hoàn thiện, phù hợp
với hoàn cảnh lịch sử của từng giai đoạn cách mạng Việt Nam. Căn cứ vào hoàn
cảnh, đặc điểm của cách mạng Việt Nam và nội dung của mỗi bản Hiến pháp Việt
Nam ra đời trong từng thời kỳ cách mạng, chúng ta có điều kiện để nghiên cứu chế
định quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân một cách toàn diện.
1.2.2.1. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của công dân trong Hiến pháp Việt Nam
năm 1946
Nhằm thực hiện tư tưởng lập hiến của mình sau khi đọc bản Tuyên ngôn độc
lập khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh xúc tiến
ngay việc xây dựng Hiến pháp. Trong ngày 3/9/1945, Người nói: “Trước chúng ta
đã bị chế độ quân chủ chuyên chế cai trị, rồi đến chế độ thực dân không kém phần