1
“PHẦN MỞ ĐẦU”
“1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu””
“Điểm đến du lịch là nơi có nhiều yếu tố hấp dẫn, các yếu tố bổ sung và các
sản phẩm kết hợp những yếu tố này để đáp ứng các nhu cầu, mong muốn của du
khách và trong đa số trƣờng hợp, thƣơng hiệu điểm đến là động cơ thúc đẩy họ đi
du lịch. Định hƣớng phát triển sản phẩm mang tầm quốc tế đƣợc nhiều quốc gia/khu
vực/địa phƣơng quan tâm nhằm khẳng định giá trị thƣơng hiệu điểm đến, nâng cao
năng lực cạnh tranh, đẩy mạnh khả năng thu hút khách du lịch. ”
“Quảng Ninh đƣợc đánh giá là điểm đến du lịch có sự đa dạng về cảnh quan,
địa hình, lịch sử và văn hoá. Nổi bật nhất là Vịnh Hạ Long đã hai lần đƣợc UNESCO
công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới bởi những giá trị ngoại hạng về cảnh quan và
địa chất địa mạo; đƣợc bình chọn là kỳ quan thiên nhiên mới của thế giới. Ngoài ra,
Quảng Ninh còn có nhiều danh lam, thắng cảnh nổi tiếng khác đã đƣợc xếp hạng
cùng với các trung tâm du lịch đƣợc hình thành với hệ thống cơ sở lƣu trú, dịch vụ du
lịch ngày càng đƣợc cải thiện. Với những tiềm năng, thế mạnh đó, Quảng Ninh thực
sự là một trong những điểm đến du lịch nổi bật và hấp dẫn nhất của Việt Nam, luôn là
sự lựa chọn của khách du lịch quốc tế và khách du lịch nội địa. ”
“Trong Quy hoạch tổng thể phát triển Du lịch Việt Nam giai đoạn đoạn 20112020, tầm nhìn đến năm 2030, đã đƣợc Thủ tƣớng Chính phủ phê duyệt, xác định Hà
Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh là vùng động lực phát triển kinh tế - du lịch phía Bắc
của Việt Nam. Đặc biệt, với vị trí địa lý biên giới thuận lợi và hệ thống cảng biển
trực tiếp nối liền với duyên hải Trung Quốc, Quảng Ninh có nhiều điều kiện để khai
thác thị trƣờng tiềm năng nhất trên thế giới là thị trƣờng khách du lịch Trung Quốc.
Theo thống kê của ngành Du lịch, năm 2016, khách du lịch đến Quảng Ninh là
8.300.000 lƣợt (khách quốc tế là 3.500.000, chiếm 35,7%). Số lƣợt khách quốc tế
của Quảng Ninh so với cả nƣớc chiếm khoảng 42,2%; đây là một tỷ lệ cao so với
các trung tâm du lịch khác của cả nƣớc. Doanh thu từ khách du lịch đạt trên 13.000
tỷ đồng. So với năm 2015, tổng lƣợng khách du lịch tăng 7%, doanh thu tăng 23%.
Những số liệu trên cho thấy Quảng Ninh đang ngày càng khẳng định vị thế của một
điểm đến du lịch nổi bật của Việt Nam. ”
độc đáo của điểm đến du lịch Quảng Ninh. Có nhƣ vậy, điểm đến du lịch Quảng
Ninh mới có những sự khác biệt, trở thành một trung tâm du lịch trọng điểm quốc
gia; điểm đến hấp dẫn và an toàn cho du khách trong nƣớc và quốc tế. ”
“Tổng quan tình hình nghiên cứu vấn đề trong và ngoài nƣớc cho thấy, đến nay
chƣa có công trình nghiên cứu nào đánh giá toàn diện phát triển sản phẩm điểm đến
du lịch nói chung và của điểm đến du lịch Quảng Ninh - Việt Nam nói riêng. Hoặc
có đề cập đến thì khá sơ lƣợc, hoặc đề cập đến từng lĩnh vực cụ thể nhƣ lữ hành,
khách sạn hoặc sản phẩm du lịch. Bên cạnh đó, trên một số tạp chí chuyên ngành
trong và ngoài nƣớc cũng có những bài viết nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm về
3
vấn đề này. Nhƣng hiện nay chƣa có công trình nào nghiên cứu toàn diện về phát
triển sản phẩm du lịch nhằm khai thác tiềm năng, thế mạnh của điểm đến du lịch
Quảng Ninh, cũng nhƣ đánh giá các tác động của nó đối với phát triển kinh tế, văn
hóa, xã hội của địa phƣơng. Xuất phát từ các lý do trên, nghiên cứu sinh chọn đề tài:
“Phát triển sản phẩm của điểm đến du lịch Quảng Ninh - Việt Nam" làm luận án
Tiến sỹ kinh tế, chuyên ngành Kinh doanh thƣơng mại. ”
“2. Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu”
“Mục tiêu nghiên cứu của luận án là đề xuất các giải pháp định hƣớng phát
triển sản phẩm của điểm đến du lịch Quảng Ninh - Việt Nam mang tính dài hạn và
phát triển bền vững. ”
“Từ mục tiêu trên, luận án có các nhiệm vụ cơ bản sau: ”
“Một là, hệ thống hóa chọn lọc các vấn đề lý luận cơ bản về điểm đến du lịch,
marketing điểm đến du lịch, sản phẩm của điểm đến du lịch, phát triển sản phẩm của
điểm đến du lịch. Nghiên cứu một số các mô hình đánh giá quá trình phát triển phát triển
sản phẩm để lựa chọn một mô hình lý thuyết phù hợp cho việc nghiên cứu đề tài. ”
“Hai là, nghiên cứu và lựa chọn kinh nghiệm của một số điểm đến du lịch tại
Việt Nam và trên thế giới có điều kiện tƣơng đồng với điểm đến du lịch Quảng
với Tiểu vùng Khu kinh tế Vân Đồn và huyện đảo Cô Tô). ”
“Về thời gian: Luận án nghiên cứu, phân tích thực trạng giai đoạn 2010-2016;
các khuyến nghị và đề xuất giải pháp đến 2025, tầm nhìn 2030. ”
“4. Những đóng góp mới của luận án”
“Luận án hy vọng có những đóng góp mới nhƣ sau: ”
“Về mặt lý luận: Luận án tổng quan một cách có hệ thống những vấn đề lý
luận cơ bản về điểm đến du lịch, sản phẩm của điểm đến du lịch, phát triển sản
phẩm của điểm đến du lịch. Đề xuất mô hình lý thuyết phát triển sản phẩm của điểm
đến du lịch mang tính dài hạn và phát triển bền vững. ”
“Về mặt thực tiễn: Luận án đề xuất quan điểm, đƣa ra một số kiến nghị về
chính sách và giải pháp định hƣớng phát triển sản phẩm của điểm đến du lịch
Quảng Ninh có những sự khác biệt nhằm tăng cƣờng thu hút khách du lịch trong
nƣớc và quốc tế đến Quảng Ninh trong thời gian tới. ”
“5. Kết cấu của luận án”
“Nội dung chính của luận án đƣợc kết cấu thành 4 chƣơng: ”
“- Chƣơng 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu và phƣơng pháp nghiên cứu; ”
“- Chƣơng 2. Cơ sở lý luận và thực tiễn về phát triển sản phẩm điểm đến du lịch; ”
“- Chƣơng 3. Thực trạng phát triển sản phẩm của điểm đến du lịch Quảng
Ninh giai đoạn 2010-2016n, nhiều nghiên cứu về điểm đến du lịch/sản phẩm điểm đến du lịch
ở những góc độ khác nhau nên cũng đƣa ra các khái niệm chƣa có sự thống nhất.
Theo cách tiếp cận truyền thống, điểm đến du lịch nhƣ một nơi đƣợc xác định đơn
thuần bởi yếu tố địa lý, ví nhƣ một đất nƣớc, một hòn đảo hay một thị trấn, nơi mà
khách du lịch đến tham quan, nơi có thể chế chính trị và khuôn khổ pháp lý riêng
biệt, và đƣợc áp dụng các kế hoạch marketing cũng nhƣ cung cấp các sản phẩm,
dịch vụ du lịch cho khách (Hall, 2000; Buhalis, 2000). ”
“Về mặt thực tiễn, mặc dù có rất nhiều nghiên cứu khác nhau về phát triển sản
phẩm/thƣơng hiệu sản phẩm/xây dựng thƣơng hiệu điểm đến đƣợc đề cập thì cũng
đã có nhiều nghiên cứu tổng hợp rà soát và chỉ ra sự mâu thuẫn, không thống nhất
giữa các khái niệm và lý thuyết về lĩnh vực này. Chính vì vậy mà đây là lĩnh vực
vẫn tiếp tục đƣợc quan tâm nghiên cứu trong thực tiễn. Ở Việt Nam, đã có một số
sản phẩm của điểm đến Quảng Ninh gồm các nguồn số liệu nhƣ: số liệu thống kê của
Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch Quảng Ninh (trƣớc năm 2015), Sở Du lịch Quảng
Ninh (từ 2016), Sở Kế hoạch và Đầu tƣ, Sở Tài nguyên và Môi trƣờng, Ban Quản lý
vịnh Hạ Long, Cục Thống kê Quảng Ninh; các báo cáo và số liệu thống kê của Ủy ban
nhân dân tỉnh Quảng Ninh; Tổng cục Thống kê, Tổng cục Du lịch, Bộ Văn hóa, Thể
thao và Du lịch; các văn bản, chính sách liên quan đến phát triển sản phẩm của điểm
đến du lịch Quảng Ninh; các công trình nghiên cứu đã tổng quan, các trang tin điện tử
của cơ quan quản lý nhà nƣớc về du lịch Việt Nam, của du lịch Quảng Ninh,… ”
“- Phương pháp thu thập dữ liệu sơ cấp: Nghiên cứu sinh tiến hành thu thập
dữ liệu sơ cấp qua phiếu thông tin khảo sát với các bƣớc nhƣ sau: ”
“+ Xác định mẫu khảo sát. Nghiên cứu sinh lựa chọn 04 đối tƣợng khảo sát
gồm: 1) Khách du lịch; 2) Chuyên gia; 3) Doanh nghiệp; 4) Dân cƣ địa phƣơng. ”
20
“+ Xây dựng bảng hỏi, xác định các tiêu chí khảo sát. Nghiên cứu sinh xây
dựng 04 loại phiếu thu thập thông tin với những thông tin liên quan và các tiêu chí
đánh giá cụ thể đƣợc trình bày trong phần Phụ lục kèm theo. Khách du lịch sử dụng
phiếu ở Phụ lục 1a với 8 tiêu chí. Chuyên gia sử dụng phiếu ở Phụ lục 1b với 9 tiêu
chí. Doanh nghiệp sử dụng phiếu ở Phụ lục 1c với 8 tiêu chí. Dân cƣ địa phƣơng sử
dụng phiếu ở Phụ lục 1d với 5 tiêu chí. ”
“+ Xác lập thang đo. Tùy theo tính chất, tiêu chí của mỗi câu hỏi, nghiên cứu
sinh lựa chọn phƣơng án đánh giá kết quả trả lời của từng đối tƣợng khảo sát. Tuy
nhiên, chủ yếu có hai loại thang đo là lựa chọn một trong các phƣơng án cho sẵn
hoặc lựa chọn đánh giá một trong năm mức độ từ cao xuống thấp. ”
“+ Tiến hành khảo sát. Nghiên cứu sinh tiến hành khảo sát thu thập thông tin
với 04 đối tƣợng nêu trên từ tháng 6/2015 đến tháng 12/2015. ”
“+ Thu phiếu khảo sát. Trong khả năng, phạm vi và thời gian nhất định,
nghiên cứu sinh tiến khảo sát 04 nhóm đối tƣợng. Cụ thể nhƣ sau: ”