Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 1 of 103.
MỞ ĐẦU
1. Lí do chọn đề tài
1.1. Nhân hóa là một biện pháp tu từ quan trọng giúp cho việc hình thành ở
học sinh Tiểu học tình cảm gần gũi, yêu thích thế giới xung quanh. Nhân hóa được
sử dụng rất nhiều trong văn thơ thiếu nhi.
1.2. Nguyễn Trọng Tạo là một nhà thơ tài năng với nhiều bài văn, thơ, nhạc viết
cho thiếu nhi.Ông đã thể hiện được tài năng sáng tạo nghệ thuật của mình, đồng thời
cũng khẳng định được chỗ đứng của mình trên thi đàn văn học Việt Nam.Thơ của ông
đã được lựa chọn đưa vào giảng dạy trong chương trình Tiểu học.
Qua việc khảo sát chúng tôi thấy nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo là một nhà thơ
đã vận dụng linh hoạt, phong phú và sáng tạo các biện pháp tu từ, đặc biệt là biện
pháp nhân hóa. Thơ của ông trong sáng, hồn nhiên và rất phù hợp với lứa tuổi thiếu
nhi.
Bởi vậy, việc nghiên cứu, tìm hiểu và phân tích hiệu quả của biện pháp tu từ
nhân hóa trong thơ của Nguyễn Trọng Tạo không những giải quyết được yêu cầu
của việc học tập, trau dồi vốn ngôn ngữ dân tộc và còn khẳng định được phong
cách sáng tạo của nhà thơ.
Từ những lí do trên, chúng tôi lựa chọn đề tài: “Hiệu quả của biện pháp
nhân hóa trong thơ viết cho thiếu nhi của Nguyễn Trọng Tạo”.
2. Lịch sử vấn đề
2.1. Việc nghiên cứu nhân hoá trong các giáo trình phong cách học
2.2. Việc nghiên cứu nhân hoá gắn với SGK và yêu cầu giảng dạy môn Tiếng
Việt ở Tiểu học
2.2.1. Cung cấp lý thuyết về nhân hoá
1
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 1 of 103.
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 2 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 3 of 103.
- Phân tích từ góc độ tu từ để nhận thấy hiệu quả của biện pháp tu từ nhân
hóa trong thơ Nguyễn Trọng Tạo và rút ra những kết luận cần thiết.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1. Đối tượng
Hiệu quả của biện pháp tu từ nhân hóa trong thơ viết cho thiếu nhi Nguyễn
Trọng Tạo.
4.2. Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát 30 bài thơ và 15 bài thơ phổ nhạc trong cuốn “Tuyển tập văn thơ
nhạc tuổi thơ”-Nhà xuất bản Thanh niên năm 2004 của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo.
5. Phương pháp nghiên cứu
5.1. Phương pháp khảo sát, thống kê, phân loại
5.2. Phương pháp phân tích
5.3. Phương pháp tổng hợp
5.4. Phương pháp hệ thống
6. Bố cục khoá luận
NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN
1. Biện pháp nhân hoá
1.1. Định nghĩa
Tác giả Đinh Trọng Lạc trong cuốn “99 phương tiện và biện pháp tu từ
Tiếng Việt” (Nxb GD, 1999) định nghĩa về nhân hoá: “Nhân hoá là một dạng của
ẩn dụ, dùng những từ ngữ biểu thị thuộc tính của con người cho đối tượng không
phải là người nhằm làm cho đối tương được miêu tả trở nên gần gũi, dễ hiểu hơn,
dùng nó trở thành người bạn tâm tình của trẻ thơ, giúp trẻ dễ hiểu và nhận biết thế
giới xung quanh.
- Nhân hóa có tác dụng giáo dục rất phù hợp với tâm lí trẻ thơ.
4
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 4 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 5 of 103.
2. Đôi nét về tác giả Nguyễn Trọng Tạo
2.1. Cuộc đời và sự nghiệp
2.2. Giá trị trong tác phẩm thơ, nhạc thiếu nhi của Nguyễn Trọng Tạo
CHƯƠNG 2: HIỆU QUẢ NGHỆ THUẬT CỦA BIỆN PHÁP
NHÂN HOÁ TRONG THƠ VIẾT CHO THIẾU NHI CỦA
NGUYỄN TRỌNG TẠO
1. Kết quả khảo sát, thống kê, phân loại
1.1.Thống kê theo bài thơ
Chúng tôi khảo sát 30 bài thơ và 15 bài thơ phổ nhạc, trong đó 28 bài thơ và 15 bài
thơ phổ nhạc là xuất hiện nhân hoá. Có tới 25 bài là có sử dụng nhân hoá cho toàn
văn bản.
1.2. Thống kê theo tần số xuất hiện của đối tượng nhân hóa
Nhân hóa Dùng từ
chỉ tính
chất
hoạt
động
0
3
Sống tự nhiên trong
rừng
29
12
0
103 con
vật
41 (37%)
Được nuôi và sống
cùng con người
17
10
0
27
5
2
0
0
2
Cây cảnh
1
0
0
1
Cây cỏ
2
0
0
2
Cây hoa
cây
(18,4%)
(27,4%)
Đồ dùng
Trong học tập
3
0
0
3
18 Đ d
(Đ d)
Trong sinh hoạt
15
0
0
15 (6,4%)
2. Nhận xét sơ bộ kết quả thống kê
Qua kết quả thống kê ở trên ta thấy nhân hóa là một biện pháp tu từ có vai
trò không nhỏ trong tác phẩm nghệ thuật để diễn đạt nội dung tư tưởng của tác
phẩm. Chúng tôi thống kê được có 278 lần sử dụng biên pháp nhân hóa trong 30
bài thơ và 15 bài thơ phổ nhạc. Nhân hóa làm cho ngôn ngữ nghệ thuật giàu có,
phong phú, phù hợp với tư duy, tình cảm còn non trẻ của trẻ em.
3. Phân tích kết quả thống kê
3.1. Dùng những từ chỉ hoạt động, tính chất của con người cho đối không phải
là người.
6
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 6 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 7 of 103.
Đây là dạng nhân hóa được sử dụng nhiều nhất, chúng tôi thống kê được 217
lần nhân hóa chiếm 78%. Đối tượng nhân hóa rất đa dạng và phong phú.
3.1.1. Đối tượng nhân hóa là đồ vật
Đối tượng nhân hoá là đồ vật chiếm số lượng không nhiều, có 18 lần xuất
hiện chiếm 8,2%. Đồ vật ở đây có thể là đồ dùng trong học tập hay đồ dùng trong
sinh hoạt, tuy số lượng ít nhưng nó cũng thể hiện sự đa dạng của đối tượng nhân
hoá.
Ví dụ :
Đều đều võng đưa
Giữa trưa êm ả
Bé ngủ say sưa
Sân tròn bóng lá
Bé ngủ ngon quá
Đẫy cả giấc trưa
Lúa vui lá vẫy, chào bác xã viên
Lá lúa xanh rờn múa muôn cánh mỏng…
(Tiếng máy về làng)
Đối tương nhân hoá ở đây là cây lúa đang thời tươi tốt. Cách nói nhân hoá
thật ngộ nghĩnh, cây lúa như một bạn nhỏ ngoan ngoãn vẫy chào bác xã viên. Hình
ảnh nhân hoá miêu tả cánh đồng lúa mơn mởn, đầy sức sống và diễn tả được niềm
phấn khởi, niềm vui dào dạt của người nông dân trước vụ mùa hứa hẹn bội thu.
Cùng với những loại cây ở trên thì loại cây cảnh như cây mai, cây đào
cũng trở thành đối tượng để nhân hóa:
Chợ Tết nhiều trẻ con
Nhiều áo màu sặc sỡ
Mai đào đua nhau nở
Chợ dập dìu đua chen.
(Chợ Tết quê)
8
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 8 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 9 of 103.
Mai, đào là một loài hoa, đồng thời cũng là một loại cây cảnh dùng để trang
trí trong những ngày tết. Hoa mai, hoa đào được nhân hóa cũng có những hoạt
động như con người. Mai, đào đua nhau cùng nở để đón tết sang, cùng với những
hoạt động náo nhiệt của con người trong những ngày chuẩn bị tết, ngày mà trẻ em
rất thích và mong chờ. Câu thơ vẽ nên bức tranh mùa xuân rực rỡ và tràn đầy sức
sống, bức tranh bầu trời và cảnh vật trong những ngày chớm xuân.
3.1.3. Đối tượng nhân hóa là động vật
Đây là đối tượng được nhân hóa nhiều nhất chúng tôi thống kê có 69 phiếu
Chiều trôi thơ thẩn áng mây
Cài lên màu áo hây hây ráng vàng
Rèm thêu trước ngực vầng trăng
Trên nền nhung tím trăm ngàn sao lên
Khuya rồi, sông mặc áo đen
Nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ…
Sáng ra thơm đến ngẩn ngơ
Dòng sông đã mặc bao giờ áo hoa
Ngước lên bỗng gặp la đà
Ngàn hoa bưởi đã nở nhòa áo ai…
(Dòng sông mặc áo)
Đọc qua bài thơ, chúng ta nhận ra một bức tranh sinh động về dòng sông,
chúng ta chiêm ngưỡng vẻ đẹp một dòng sông hiền hòa suốt một ngày đêm. Đó là
dòng sông quê thơ mộng, thân thương, yểu điệu, duyên dáng, nhí nhảnh, ngộ
nghĩnh.
Cảnh dòng sông buổi sáng thì: "Nắng lên mặc áo lụa đào thướt tha" , Ấy thế
mà buổi trưa thì lại: " Áo xanh sông mặc như là mới may", buổi chiều thì dòng
sông có vẻ " hây hây ráng vàng" của áng mây, buổi tối trông rõ vầng trăng bơi lặn
trên sông và thêm nữa là "trên nền nhung tím muôn ngàn sao lên". Đêm đến, dòng
sông quê hiền lành ngủ yên, mà cứ "Nép trong rừng bưởi lặng yên đôi bờ". Đoạn
thơ có nhiều hình ảnh đẹp. Đây là một bài thơ tả cảnh thiên nhiên khá tinh tế. Phép
10
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 10 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 11 of 103.
nhân hóa đã được tác giả sử dụng rất khéo léo tài tình, kết hợp tinh tế với sử dụng
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 12 of 103.
Tớ là tàu hỏa
Giọng tớ rất khỏe
Vang khắp núi ngàn
Chân tớ săn gân
Chạy nghìn cây số
Lưng tớ vạm vỡ
Cõng chục ngôi nhà…
………………….
Hồi còi thân yêu
Vẫy trong nắng chiều
Bàn tay khói trắng
Tớ quen chạy thẳng
Xình xịch xình xịch.
(Tàu hỏa)
Tàu hỏa- đồ vật vô tri vô giác được nhân hóa trở thành một con người có
nhiều phẩm chất đáng quý: khỏe mạnh, làm việc tích cực ( Giọng tớ…..Chân tớ
săn gân…chạy nghìn cây số…), luôn mong muốn đem lại niềm vui và hạnh phúc
đến cho mọi người (Tớ lại tiễn đưa…chào mùa xuân tới). Tác giả để tàu hỏa tự kể
về bản thân mình, tàu hỏa xưng “tớ”, tàu hỏa cũng như một con người với thân
hình vạm vỡ, to khỏe và cũng có giọng nói vang khắp núi ngàn…Tàu hỏa có tính
tình rất hồn nhiên , vui vẻ và tốt bụng.Từ hình ảnh tàu hỏa chúng ta liên tưởng tới
những người làm trong ngành đường sắt đáng kính trọng. Bằng biện pháp nhân hóa
tác giả ca ngợi con người lái những con tàu chạy khắp đất nước, đưa mọi người đi
đến nơi về đến chốn, mang lại niềm vui hạnh phúc cho mọi nhà.
3.2.2. Dùng đại từ nhân xưng ngôi thứ ba
Dạng này được sử dụng rất đa dạng và phong phú.
12
(Kể chuyện chim)
13
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 13 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 14 of 103.
Các loài chim được nhân hoá bằng cách gọi “cô” Khắc Khắc, “dì” Sáo Sậu,
“ả” Vàng Anh, “anh” Gõ Kiến, “chị” Chìa Vôi gắn với đặc điểm tính cách đặc
trưng của từng loài vật. Tác giả thật khéo quan sát khi miêu tả đặc điểm của đối
tượng để liên tưởng thật thú vị. Chim Chìa Vôi có chiếc đuôi dài tác giả đã liên
tưởng tới hình ảnh chị Chìa Vôi õng à õng ẹo thật điệu đà. Chim Sáo Sậu lúc nào
cũng nhảy nhót chuyền từ cành này sang cành khác tác giả đã gọi bằng cái tên thật
thân thương “dì Sáo Sậu”. Vàng Anh là một loại chim có màu lông đẹp, sặc sỡ
được liên tưởng như cô gái diện áo quần mới. Chăm chỉ nhất là anh Gõ Kiến lúc
nào cũng thức dậy thật sớm cần mẫn kiếm ăn. Những con vật bỗng trở nên thật hài
hước và có tính cách khi được gọi bằng các đại từ chỉ quan hệ họ hàng của con
người và có hành động như con người. Bài hát sáng tác theo thể đồng dao rất dễ
thuộc, giúp cho các em hiểu thêm về thế giới loài chim. Các em được biết đến đặc
điểm của nhiều loài chim, từ đó giúp các em có thêm nhiều kiến thức lí thú bổ ích.
Tiểu kết
Như vậy nhân hoá bằng cách dùng các từ chỉ quan hệ thân thuộc của người
gán cho đối tượng không phải người cũng không kém phân phong phú và đa dạng.
Nguyễn Trọng Tạo đã huy động tất cả các đại từ nhân xưng chỉ người để chỉ các
loài động vật: ngôi thứ nhất (tôi, tớ, ta…), ngôi thứ ba (cô, dì chú, ông…)…Cái
độc đáo của Nguyễn Trọng Tạo là ông đã khéo khai thác đặc điểm, hình dáng, tính
cách của các loài vật để miêu tả làm cho các đối tượng vô tri, vô giác khi vào thơ
có tình cảm tha thiết hơn, sâu sắc hơn. Qua đó giúp cho trẻ thơ nhận biết được thế
giới xung quanh một cách sinh động, hấp dẫn.
cất tiếng gọi thật thân thương:
Vòm trời của tháng năm ơi!
Nắng ong ong nắng không nguôi chân người…
(Vòm trời quê Bác tháng năm)
Đối tượng được nhân hoá ở đây là “vòm trời của tháng năm”, tác giả gọi
vòm trời tháng năm như gọi một người bạn tâm tình. Tháng năm, tháng của cái
15
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 15 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 16 of 103.
nắng ong ong chói chang trên mảnh đất miền Trung. Tuy vậy, nơi đây không lúc
nào nguôi bước chân của con người, bởi lẽ tất cả mọi người đều luôn hướng về với
Bác với lòng biết ơn vô bờ bến. Về quê Bác trong dịp tháng năm mang một ý
nghĩa lớn, tháng năm, chính là tháng sinh nhật Bác, tác giả gọi vòm trời tháng năm
để gửi gắm vào đó tình cảm tha thiết, mến yêu dành cho vị cha già kính yêu của
dân tộc.
3.3.3. Đối tượng nhân hoá là sự vật
Ví dụ:
Ơi niềm vui ơi!
Niềm vui đâu rồi.
(Niềm vui)
Coi niềm vui là người bạn thân, chỉ có nhân hoá mới giúp cho sự vật vô tri
trở thành có hồn, có tình cảm. “Niềm vui” là một khái niệm trừu tượng, niềm vui
giúp cho cuộc sống có ý nghĩa hơn, trong cuộc sống có rất nhiều điều mang đến
cho chúng ta niềm vui. Như bạn nhỏ trong bài thơ “Niềm vui” chỉ những điều bình
dị trong cuộc sống hàng ngày cũng đem lại niềm vui cho bạn nhỏ. Đó là nhặt chiếc
gai bỏ vào thùng rác, là giải được một bài toán khó, là đọc được bức thư báo tin
từ ngữ gắn với sinh hoạt hàng ngày và một hệ thống ngôn ngữ mang đậm chất dân
gian. Ông luôn chọn đề tài được thiếu nhi yêu thích. Bằng sử dụng biện pháp nghệ
thuật nhân hoá, nhà thơ đã dựng lên cả một thế giới loài vật, cây cỏ mang những
nét tính cách như con người, làm cho nó trở nên gần gũi với các em. Tập thơ-nhạc
đã góp phần phát triển ngôn ngữ cho các em, tích cực hoá vốn từ cho trẻ. Bên cạnh
đó còn giúp mở rộng nhận thức cho các em về thiên nhiên và cuộc sống xã hội.
Tập thơ - nhạc còn là bài học giáo dục đạo đức sâu sắc đối với trẻ thơ, giáo dục các
em tình yêu con người, yêu thiên nhiên và tình yêu quê hương đất nước.
17
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 17 of 103.
Header Page -Header Page -Header Page - Header Page -Header Page -Header Page 18 of 103.
Với những đóng góp vô cùng to lớn của nhà thơ Nguyễn Trọng Tạo trong
nền văn học thiếu nhi, với sự độc đáo, phong phú về nội dung và nghệ thuật, chúng
tôi mong muốn thơ Nguyễn Trọng Tạo được đưa vào giảng dạy nhiều hơn trong
chương trình Tiểu học để thơ ông đến với thiếu nhi mọi lứa tuổi, từ đó cho các em
thêm yêu thích văn học nước nhà, góp phần nuôi dưỡng đời sống tâm hồn cho các
em.
Do thời gian nghiên cứu có hạn nên đề tài không thể tránh khỏi những hạn
chế và thiếu sót. Chúng tôi rất mong có được những ý kiến đóng góp của Thầy Cô
và các bạn để chúng tôi tiếp tục hoàn thiện đề tài này trong quá trình học tập và
công tác sau này.
18
Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page -Footer Page 18 of 103.