SKKN Một số biện pháp giúp học sinh lớp 3 làm tốt dạng bài Viết đoạn văn theo chủ đề - Pdf 48

Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

PHẦN I: MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài:
Tiếng Việt là môn học trung tâm, môn học công cụ chiếm thời lượng lớn
nhất trong thời gian học tập ở trường của HS tiểu học. Một trong những phân
môn có vị trí quan trọng hàng đầu trong chương trình TV ở Tiểu học là phân
môn TLV.
Như vậy Tập làm văn là phản ánh trung thực và tổng thể quá trình, kết
quả học tập Tiếng việt ở Tiểu học của học sinh, nó còn rèn cho HS hai kĩ năng
không thể thiếu của con người đó là “ Nói ” và “ Viết ’’.
Với tầm quan trọng như vậy ngay từ lớp 2 HS đã được học riêng phân
môn TLV. Hiện nay các nhà trường rất chú trọng đến phân môn này. Học xong
CT TLV ở Tiểu học các em sẽ có một lượng kiến thức cơ bản để có thể tiếp tục
học lên các lớp trên. Hơn thế nữa kiến thức về TLV ( nếu các em lĩnh hội tốt ) sẽ
là một cái vốn vô giá trong cuộc đời các em. Là nền tảng căn bản vững chắc
giúp các em bước vào cuộc sống dễ dàng, phục vụ cho giao tiếp hàng ngày được
thuận lợi có hiệu quả.
Qua kinh nghiệm bản thân tôi nhận thấy, dạy tốt phân môn TLV không chỉ
“thức tỉnh” ở HS về nhận thức mà còn làm rung động về tình cảm, nảy nở những
ước mơ tốt đẹp, khơi dậy những năng lực hành động, sức mạnh sáng tạo cũng
như bồi dưỡng tâm hồn cao đẹp cho các em. Đó chính là cái đích mà bất cứ
người giáo viên nào cũng mong có được.
Với tầm quan trọng của phân môn Tiếng việt nói chung và TLV lớp 3 nói
riêng. Tôi luôn trăn trở “ Làm thế nào để dạy tốt và giúp HS học tốt phân môn
TLV ?’’ Chính những trăn trở đó đã giúp tôi đến với đề tài: Một số biện pháp
giúp học sinh làm tốt dạng bài “ Viết đoạn văn ngắn theo chủ đề ’’ ở lớp 3.
2. Mục đích nghiên cứu:
- Góp phần nâng cao kĩ năng giao tiếp cho HS. HS học theo chương trình
mới năng động hơn, khả năng giao tiếp tốt hơn, mạnh dạn hơn nhiều so với HS
học theo CT sách giáo khoa cũ.

- Phương pháp điều tra quan sát: Thông qua dự giờ, tìm hiểu thực trạng
dạy và học qua tiết TLV ở trường Tiểu học.
- Phương pháp đàm thoại: Trao đổi với giáo viên trong tổ khối về những
thuận lợi, khó khăn khi dạy tiết TLV. Trao đổi với HS về vướng mắc của HS khi
học TLV.Tham khảo sáng kiến kinh nghiệm của đồng nghiệp.
- Phương pháp thực nghiệm: Soạn giáo án, đặc biệt là giáo ánh điện tử để
dạy thực nghiệm trên lớp.
- Phương pháp thống kê toán học: Đánh giá, đối chiếu kết quả trước và
sau khi thực hiện các biện pháp.
PHẦN II: NỘI DUNG
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VIỆC DẠY HỌC TẬP LÀM VĂN
TRONG TRƯỜNG TIỂU HỌC.
1.1 Vị trí, nhiệm vụ của phân môn Tập làm văn trong trường Tiểu học
1.1.1 Vị trí
Tập làm văn được hiểu là tập sản sinh, tạo lập ngôn bản. Dạy TLV là dạy
các kiến thức và kĩ năng giúp HS tạo lập, sản sinh ra ngôn bản. Phân môn TLV
có vai trò, vị trí quan trọng trong việc hoàn thiện và nâng cao dần các kĩ năng sử
2/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

dụng tiếng Việt đã được hình thành, xây dựng ở các phân môn khác. Nhờ quá
trình vận dụng các kĩ năng để tạo lập, sản sinh văn bản trong dạy học TLV,
Tiếng Việt trở thành một công cụ sinh động trong quá trình học tập và giao tiếp
của HS tiểu học.
1.1.2 Nhiệm vụ
Nhiệm vụ cơ bản của phân môn TLV là giúp HS tạo ra được các ngôn bản
nói và viết theo các phong cách chức năng ngôn ngữ, hình thành và phát triển
năng lực tạo lập ngôn bản - một năng lực được tổng hợp từ các kĩ năng bộ phận


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

năng do nhiều phân môn trong môn Tiếng Việt đảm nhiệm và góp phần
phát triển và hoàn thiện chúng: Để dạy TLV cho HS, giáo viên không những
cần quan tâm rèn luyện các kĩ năng làm bài mà còn quan tâm đến việc bồi
dưỡng tâm hồn, cảm xúc, mở rộng và nâng cao vốn hiểu biết, vốn sống cho các
em. Chỉ có như vậy bài văn của các em mới trở nên sinh động và có hồn.
1.3.2 Tính chất sáng tạo của phân môn TLV
Đổi mới phương pháp dạy học thực chất là tìm cách chuyển hóa những
thành tựu mới nhất của khoa học kĩ thuật và khoa học giáo dục vào thực tiễn dạy
hoc. Một vấn đề như vậy đòi hỏi sự đổi mới đồng bộ từ nội dung, phương pháp
đến phương tiện, hình thức tổ chức dạy học. Trong dạy TLV, giáo viên không
chỉ quan tâm đến sản phẩm là bài nói, bài viết của HS mà còn phải quan tâm đến
quá trình làm ra bài nói, bài viết đó. Điều đó có nghĩa là giáo viên cần hướng
dẫn HS các thao tác để các em dựa trên các hiểu biết của mình để tự tìm ra kiến
thức. Mỗi bài văn là một sản phẩm không lặp lại của từng HS trước đề bài. Do
đó có thể nói trong việc học làm văn, HS được chủ động, tự do thể hiện cái “tôi”
của mình một cách rõ ràng, bộc bạch cái riêng của mình một cách trọn vẹn. Dạy
TLV là dạy các em tập suy nghĩ riêng, tập sáng tạo, tập thể hiện trung thực con
người mình.
1.4. Nguyên tắc và phương pháp dạy học
1.4.1. Nguyên tắc
Nguyên tắc dạy học Tiếng Việt là những quan điểm cơ bản được coi là
tiền đề để xác định nội dung, phương pháp, cách thức tổ chức hoạt động dạy học Tiếng Việt trong nhà trường :
- Nguyên tắc phát triển tư duy.
- Nguyên tắc giao tiếp ( nguyên tắc phát triển lời nói ).
- Nguyên tắc chú ý tâm lý và trình độ Tiếng Việt vốn có của HS.
- Nguyên tắc kết hợp rèn luyện cả hai hình thức lời nói dạng viết và dạng
nói.

các em.
CHƯƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN
2.1. Cơ sở thực tiễn
Thực tế ở những lớp tôi dạy, HS rất ngại học TLV, thậm trí có em còn
“sợ” học TLV. Các em đều cho rằng học TLV là khó, khó nhất trong các môn
học.Vì vậy các em ít cố gắng hoặc có cố gắng nhưng chưa bền bỉ nên không thu
được hiệu quả cao.Và hiện nay đa số các em HS lớp 3 đều rất ngại học phân
môn TLV vì không biết nói gì? viết gì? Ngay cả bản thân giáo viên đôi khi cũng
không tự tin lắm khi dạy phân môn này so với các phân môn khác.
Trong chương trình TLV lớp 2 các em đã được làm quen với dạng bài viết
đoạn văn ngắn từ 3 đến 5 câu liên quan đến những nội dung mang tính gần gũi
với các em trong cuộc sống hàng ngày như :“ Viết về một người thân của em”
hay “ Viết về em và trường em”.
Nhưng lên lớp 3 thì bài tập đã yêu cầu cao hơn, không chỉ về số lượng câu
mà nội dung viết yêu cầu cao hơn rất nhiều, đòi hỏi các em phải có vốn hiểu biết
rộng về cuộc sống xung quanh, như bài “ Viết về một trận thi đấu thể thao”. Vì
vậy trong quá trình làm bài các em còn rất lúng túng, nhiều em làm bài chưa đạt
yêu cầu. Nhiều em dùng từ sai, viết chưa thành câu. Có những bài đủ số câu
nhưng không đủ ý. Có em diễn đạt còn lủng củng, sắp xếp ý còn lộn xộn, câu
5/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

chưa thoát ý. Qua thực trạng trên tôi thấy mình cần phải có phương pháp giảng
dạy như thế nào để HS ham thích, hứng thú học TLV. Hơn nữa, trong phân phối
chương trình hiện nay, một tuần chỉ có 1 tiết TLV, với thời gian như vậy đòi hỏi
người giáo viên phải tìm ra một hướng đi ngắn nhưng đem lại hiệu quả cao.
Kiểu bài Viết đoạn văn ngắn theo chủ đề ở lớp 3 có nội dung gắn với một
chủ điểm nhất định và có liên quan đến nội dung, kiến thức của các phân môn

- Viết về người lao động trí óc ( Chủ điểm Sáng tạo- Tuần 22)
- Viết về buổi biểu diễn nghệ thuật ( Chủ điểm Nghệ thuật- Tuần 23)
- Viết về lễ hội
( Chủ điểm Lễ hội- Tuần 26)
- Viết về một trận thi đấu thể thao
( Chủ điểm Thể thao- Tuần 29)
6/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

- Viết về bảo vệ môi trường
( Chủ điểm Ngôi nhà chung- Tuần 32)
Trong số các bài viết trên, chỉ có bài Viết về một trận thi đấu thể thao
được dạy trong một tiết. Các bài còn lại chỉ được dạy trong nửa tiết. Bài làm viết
thường được thực hiện sau bài làm miệng. Dạng bài này rèn cho HS kĩ năng
viết, kĩ năng tạo lập văn bản. Viết đúng đề tài, đúng ngữ pháp, đúng chính tả.
2.3 . Quy trình dạy kiểu bài Viết đoạn văn ngắn theo chủ đề
Bài viết đoạn văn ngắn theo chủ đề là bài làm viết, được thực hiện sau bài
làm miệng nên phần gợi ý nội dung bài viết nằm trong bài tập 1- bài làm miệng.
Vì vậy giáo viên cần tiến hành giảng dạy theo các bước sau:
- HS đọc đề bài.
- Xác định yêu cầu của bài viết.
- Hướng dẫn viết bài.
- HS viết bài.
- Chấm, nhận xét, rút kinh nghiệm bài viết của HS.
Tuy quy trình dạy học là như vậy nhưng nếu người giáo viên không linh
hoạt trong việc lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức dạy học sao cho phù
hợp với trình độ HS của mình thì hiệu quả giờ dạy sẽ không cao.
2.4. Thực trạng dạy và học kiểu bài Viết đoạn văn ngắn theo chủ đề lớp 3

Viết đoạn văn ngắn theo chủ đề, phần lớn các giáo viên đều bám sát vào sách
giáo khoa và câu hỏi gợi ý trong sách giáo khoa để soạn bài và hướng dẫn HS
làm bài mà chưa đi sâu khám phá, tìm tòi các kiến thức, cung cấp thêm cho HS
vốn từ hoặc sử dụng thêm tranh ảnh tư liệu để dẫn dắt HS đến với bài tập một
cách tự nhiên, nhẹ nhàng. Giáo viên còn nói nhiều, nói cho cả HS, dẫn đến HS
làm theo mẫu, chỉ nhớ lại lời của cô để viết bài mà không có sự sáng tạo của
chính mình. Giáo viên chưa biết khai thác triệt để các kiến thức qua các phân
môn khác của môn Tiếng việt để bổ trợ cho phân môn TLV. Các em viết văn
trên cơ sở trả lời các câu hỏi. Câu văn ngắn gọn, khô khan, dùng từ thiếu chính
xác, câu còn chưa rõ ý. Một bài văn nhưng thực tế không khác gì việc liệt kê các
ý cho đủ nội dung. Kĩ năng đặt câu còn rất hạn chế và gần như các em chưa vận
dụng 2 nghệ thuật đã học là so sánh và nhân hóa vào việc viết văn. Có em hết
giờ vẫn chỉ viết được hai, ba câu. Trong bài Viết về người lao động trí óc có em
viết “ HS như nuốt từng lời của cô Hoa”. Hay bài Viết về trận thi đấu thể thao
có em viết “ Một cầu thủ của đội 3A đã đá bóng vào gôn của đội 3B nhưng thủ
môn của đội 3B đã túm được bóng”.
Qua khảo sát, tôi thấy phần lớn các em chưa biết dùng từ đặt câu. Bài viết
chưa đủ ý, diễn đạt còn lủng củng. Có bài đủ ý nhưng câu văn còn khô khan,
không có hình ảnh. Sử dụng dấu câu tự do.
HS có kĩ năng viết văn
tốt
4/44 = 9,1%

HS có kĩ năng viết văn
12/44 = 27,2%

HS chưa có kĩ năng viết
văn
28/44 = 63,6%



Hội đua thuyền
9/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

Lễ hội Chọi Trâu

Múa rồng

Lễ hội Đền Hùng
10/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

Đấu vật
Đánh đu
Để chuẩn bị cho bài Viết về cảnh đẹp đất nước tuần 12, tôi sưu tầm thêm
các tranh ảnh về cảnh đẹp của đất nước chứ không chỉ dựa vào một bức tranh
của sách giáo khoa. Các em có thể chọn cho mình một cảnh đẹp theo ý thích để
kể. Bài viết của các em sẽ phong phú và giàu cảm xúc.

Cảnh biển Nha Trang

Cảnh sông Hương
11/30



xuất phát từ tình hình thực tiễn của lớp để có những điều chỉnh, thay đổi phù
hợp với đối tượng HS lớp mình.
- Không nên sao chép y nguyên theo SGV hoặc dùng lại hoàn toàn các
thiết kế bài dạy của những năm trước bởi thiết kế bài dạy của những năm
trước dù tốt nhưng không thể phù hợp với đối tượng HS năm nay. SGV chỉ
đưa ra những hướng dẫn chung. Việc dạy học có hiệu quả xuất phát từ đối
tượng cụ thể, tức là HS từ lớp đang dạy. Vì vậy, tôi luôn có thiết kế bài dạy
mới hoặc dùng giáo án của năm học trước có chỉnh sửa, bổ sung cho phù hợp.
3.2.2. Giúp HS nắm được trình tự các bước khi viết một đoạn văn:
Mặc dù ở lớp ba chưa yêu cầu HS viết thành một bài văn có đầy đủ ba
phần: mở bài- thân bài - kết bài. Tuy nhiên, ở mỗi bài viết tôi vẫn hướng dẫn HS
viết theo một trình tự chung như sau:
- Viết câu mở đầu (Giới thiệu đối tượng cần viết)
- Phát triển đoạn văn (Kể về đối tượng)
- Câu kết thúc (Tình cảm, suy nghĩ, mong ước của mình về đối tượng)
Khi viết theo một trình tự quy định như thế này, các em sẽ dễ dàng viết
được một đoạn văn hoàn chỉnh, đủ ý và đó cũng là nền tảng để các em viết văn
tốt ở các lớp học cao hơn.
3.3. Tích lũy và phát triển vốn từ cho HS:
Để giúp HS tích lũy và mở rộng vốn từ, giáo viên chú trọng khi dạy các
tiết Luyện từ và câu, tăng cường tìm từ, mở rộng vốn từ theo chủ điểm, thi tìm
nhanh, tìm đúng các từ theo chủ điểm.
Bài tập 1: Tìm những từ chỉ:
+ Tên một số lễ hội.
+ Tên các hoạt động lễ hội.
Bài tập 2: Tìm từ chỉ:
+ Tên các môn thể thao.
+ Hoạt động thể thao bắt đầu bằng tiếng “ đấu”.
Tôi tổ chức cho HS làm bài dưới dạng trò chơi. Chia HS ra thành các đội
chơi, cùng làm một yêu cầu trong một thời gian nhất định.

i. Múa hát
Việc bồi dưỡng vốn sống, tích lũy vốn từ để giúp các em học văn, làm văn.
Học văn, làm văn cũng như con người, bước vào cuộc đời. Mỗi con người bước
vào cuộc đời đều phải chuẩn bị cho mình những hành trang cần thiết. Vì vậy
người giáo viên phải giúp HS tích lũy vốn từ trong suốt quá trình học chứ không
phải ngày một, ngày hai.
3.4. Rèn kĩ năng viết câu; Hình thành đoạn văn trên cơ sở các câu hỏi gợi
ý; Sử dụng biện pháp nghệ thuật trong viết văn:
3.4.1. Rèn kĩ năng viết câu:
Để giúp HS nói, viết thành câu, tôi tăng cường sử dụng biện pháp phân
tích ngôn ngữ.
Dựa vào các mẫu câu đã học trong phân môn Luyện từ và câu “ Ai là gì?”“
Ai làm gì?” hay “ Ai thế nào?”, tôi hướng dẫn các em nhận biết: Câu văn em nói
và viết ra đã đủ hai bộ phận chưa? Bộ phận trả lời cho câu hỏi Ai? ( hoặc cái gì?
con gì?). Bộ phận trả lời cho câu hỏi là gì? làm gì? như thế nào? Trên cơ sở đó
giúp các em biết viết dấu chấm khi hết câu.
Ngoài ra tôi còn xây dựng hệ thống bài tập để giúp HS biết viết những câu
văn hay thể hiện được cảm xúc.
- Em hãy viết 3 câu, trong mỗi câu có sử dụng ít nhất một dấu phẩy.
- Em hãy viết 3 câu hỏi.
- Em hãy viết câu có dùng dấu chấm than.
- Em hãy viết 3 câu, trong mỗi câu có dùng dấu hai chấm.
14/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

- Điền dấu ngoặc kép thích hợp trong mỗi câu sau:
+ Mẹ nói Hôm qua con được điểm tốt, mẹ rất vui.
+ Tôi trả lời Có, tôi có đi.

c) Công việc hàng ngày của người đó là gì?
d) Người đó làm việc như thế nào?
e) Công việc của người đó mang lại ích lợi gì?
15/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

g) Em ước mơ sau này sẽ làm gì?
Bài Kể về buổi đầu đi học - Tuần 6 không có câu hỏi gợi ý. HS khá giỏi
có thể làm được bài, HS trung bình sẽ rất khó để làm tốt được vì buổi đầu đi học
của các em đã cách đây 2 năm rồi.
Để HS làm được bài này, đầu tiên tôi giúp HS nhớ lại buổi đầu đi học của
mình bằng các gợi ý như sau:
a) Buổi đầu tiên em đi học là buổi sáng hay buổi chiều? Ai đưa em đi
học?
b) Cảnh vật 2 bên đường như thế nào? Có như mọi ngày không?
c) Quang cảnh ở cổng trường ra sao? Sân trường có đông người không?
d) Các bạn HS và các thầy cô giáo như thế nào? Điều gì làm em nhớ nhất?
e) Cảm xúc của em lúc đó thế nào?
Hay bài Viết đoạn văn giới thiệu về tổ em
Ở bài này cũng không có câu hỏi gợi ý nên tôi đã xây dựng hệ thống câu
hỏi cho bài tập này như sau:
a) Tổ em có bao nhiêu bạn?
b) Mỗi bạn trong tổ em có những nét gì đáng yêu?
c)Tình cảm của các bạn trong tổ đối với nhau như thế nào?
d)Tình cảm của em với các bạn trong tổ như thế nào?
Việc xây dựng hệ thống các câu hỏi gợi ý sẽ giúp các em cảm thấy dễ nói,
dễ viết hơn và viết được đầy đủ nội dung . Không những thế còn giúp cho HS
sắp xếp các ý theo trật tự hợp lý để có một bài văn có bố cục hoàn chỉnh.

bài viết.
Tôi còn sưu tầm các bài văn hay của HS năm trước, đọc cho các em nghe
để khích lệ các em cố gắng.
3.4.3. Sử dụng biện pháp nghệ thuật trong viết văn:
Ở lớp 3, các em đã được học hai biện pháp nghệ thuật đó là: Nhân hóa và
So sánh. Đây là một yêu cầu cao khi viết văn nhưng không phải là không làm
được. Để có bài văn hay thì không thể thiếu biện pháp nghệ thuật. Chính vì vậy
tôi đã soạn ra một số bài tập, giúp các viết được các câu văn có hình ảnh và giàu
cảm xúc.
Bước đầu tôi yêu cầu các em nhận biết câu văn có hình ảnh.
Ví dụ:
Bài 1. Trong các câu sau, câu nào có hình ảnh nhân hóa:
+ Mây trắng mải mê vui chơi cùng bạn bè.
+ Mây trắng bồng bềnh như uốn lượn.
+ Chú voi như một nghệ sĩ đang biểu diễn trên sân khấu.
+ Cây tùng đứng im như người lính canh.
Sau khi HS nhận biết câu văn có hình ảnh, tôi tiếp tục đưa ra các bài tập
với yêu cầu cao hơn một chút :
Bài 2. Hãy viết lại các câu văn sau cho hay hơn bằng cách thêm các từ
ngữ.
- Các em HS mặc quần áo đủ màu sắc sặc sỡ đang nô đùa trên sân trường.
+Các em HS mặc quần áo sặc sỡ, đang nô đùa trên sân trường tựa như
một đàn bướm xinh tung tăng bay lượn.
- Bông hoa hồng xinh đẹp.
+ Bông hoa hồng xinh đẹp đang tươi cười thì thầm với gió.
17/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”


tất cả các phân môn trong môn Tiếng việt, từ việc dùng từ, viết câu, viết đúng
chính tả, viết đúng cỡ chữ, diễn đạt lưu loát đúng nội dung. Mối quan hệ này thể
hiện rất rõ trong cấu trúc sách giáo khoa. Các bài học xoay quanh một chủ điểm
ở tất cả các phân môn. Vì vậy người giáo viên phải biết tận dụng và khai thác
triệt để các kiến thức trong chủ điểm để bổ trợ cho phân môn TLV.

18/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

* Ví dụ: Chủ điểm Sáng tạo dạy trong 2 tuần, tuần 21 và tuần 22, gồm các
bài Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả… Trong quá trình rèn đọc khai thác nội
dung bài đọc, cung cấp cho HS vốn từ, những câu văn có hình ảnh về chủ điểm
Sáng tạo….
- Cụ thể khi dạy bài Tập đọc: Nhà bác học và bà cụ, giáo viên khai thác
bài theo hệ thống các câu hỏi:
+ Hãy nói những điều em biết về Ê- đi- xơn.
+ Câu chuyện giữa Ê- đi- xơn và bà cụ xảy ra lúc nào?
+ Vì sao bà cụ mong có chiếc xe không cần ngưạ kéo?
+ Nhờ đâu mà mong ước của bà cụ được thực hiện?
+ Theo em, nhà khoa học đem lại lợi ích gì cho con người?
Qua các câu trả lời của HS giáo viên định hướng cho các em biết các nhà
khoa học họ phải dùng trí óc của mình để nghiên cứu, phát minh những công
trình khoa học vĩ đại nhằm phục vụ cuộc sống của con người. Như nhà bác học
Ê- đi- xơn đã chế ra đèn điện, chế tạo ra xe điện để tiện lợi hơn trong việc đi lại
của con người. Qua đó giáo dục các em biết kính trọng và yêu quý những thành
quả của các nhà khoa học. Từ đó có mục đích phấn đấu. Những điều này giúp
các em làm bài viết Kể về người lao động trí óc.
- Câu chuyện “ Nâng niu từng hạt giống” nói về nhà bác học Lương Định

trọt….).
Các kĩ sư cơ khí họ làm gì? ( Sản xuất máy móc,…)
Công việc của bác sĩ là gì? ( Chữa bệnh cho bệnh nhân, …)
Những người lao động trí óc họ làm việc như thế nào? ( quên mình).
Qua tiết chính tả, HS không chỉ biết viết đúng chính tả mà còn có thêm
hiểu biết về công việc của những người lao động trí óc để phục vụ cho việc viết
bài văn.
Nhưng nếu giáo viên chỉ dừng lại ở việc chữa bài, HS điền đúng hay sai
thì chưa hiểu đúng ý đồ của sách giáo khoa, chưa khai thác triệt để, để giúp HS
lĩnh hội đầy đủ kiến thức, hiệu quả học tập sẽ bị hạn chế.
- Bài Luyện từ và câu. Tuần 22 - Chủ điểm Sáng tạo
Bài 1: Dựa vào những bài tập đọc, chính tả đã học ở các tuần 21, 22 em
hãy tìm các từ ngữ:
a) Chỉ trí thức M: Bác sĩ,….
b) Chỉ hoạt động của trí thức: M: Nghiên cứu.
HS sẽ tìm được:
- Từ chỉ trí thức: Bác sĩ, giáo viên, kiến trúc sư, giảng viên, kĩ sư,….
- Chỉ hoạt động trí thức: Nghiên cứu, phát minh, chế tạo máy móc, chế
thuốc…
Sau bài tập này, tôi nhấn mạnh cho HS biết trí thức chính là những người
lao động trí óc, công việc của họ rất vất vả và thành quả lao động của họ mang
lại rất nhiều ích lợi cho xã hội. Điều đó sẽ giúp HS viết được các ý về ích lợi
công việc của những người lao động trí óc trong bài văn của mình.
Tiết Luyện từ và câu này không chỉ giúp HS hiểu biết thêm các công việc
của những người trí thức mà còn giúp cho HS tích luỹ thêm vốn từ để viết văn
về chủ điểm Sáng tạo.
* Chủ điểm Cộng đồng
Có bài Tập đọc: Các em nhỏ và cụ già Tuần 8.
20/30


Ông cảm ơn lòng tốt của các cháu. Dẫu các cháu không giúp gì được, nhưng
ông cũng thấy lòng nhẹ hơn.
Đám trẻ lặng đi. Các em nhìn cụ già đầy thương cảm.
Một lát sau, xe buýt đến. Giúp ông cụ lên xe rồi, các em còn đứng nhìn theo
mãi mới ra về.
Khi viết đoạn văn trên, HS được rèn viết chính tả, cách sử dụng các dấu
câu; thấy được sự cảm thông, chia sẻ giữa con người với nhau làm dịu bớt buồn
phiền tăng cho mỗi người niềm hy vọng, nghị lực trong cuộc sống. HS vận dụng

21/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

cái hay, cái đẹp của ngôn từ trong đoạn văn để thể hiện tình cảm, thái độ đánh
giá trong từng bài văn của các em.
Tương tự ở môn Tập viết - Tuần 8. Các em được luyện viết câu ứng dụng:
Khôn ngoan đối đáp người ngoài
Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau
Ý nghĩa câu tục ngữ khuyên: Anh em trong nhà phải đoàn kết thương yêu
nhau.
Xuất phát từ phân môn: Tập đọc, Luyện từ và câu, Chính tả, Tập viết xoay
quanh chủ đề Cộng đồng; HS biết “ Kể về người hàng xóm mà em quý mến” (
Tập
làm văn- Tuần 8) và viết được đoạn văn hoàn chỉnh, thể hiện tình cảm thái độ
đánh
giá đối với người hàng xóm qua việc sử dụng từ ngữ, câu văn có hình ảnh.
Như vậy, khi dạy tất cả các phân môn: Luyện từ và câu, Chính tả, Tập đọc
…đều nhằm mục đích giúp HS có kĩ năng hình thành văn bản, ngôn bản. Do đó,
tích hợp lồng ghép phương pháp đặc trưng khi dạy phân môn TLV lớp 3.

c) Tình cảm của gia đình em đối với người hàng xóm như thế nào?
(Mọi người trong gia đình em đều quý bác Tâm. Thỉnh thoảng rảnh rỗi
mẹ cho em sang nhà bác Tâm chơi để trò chuyện với bác.
Cả nhà em đều thương bác Lan vì các con của Bác đều công tác xa, ít khi về
được. Những lúc nhà bác Lan có việc gì khó, gia đình em đều sẵn sàng giúp đỡ.
Những hôm chú Sơn phải đi công tác, bố em thường sang nhà chú ngủ để
trông nhà hộ vì chú ở một mình.)
d) Tình cảm của người hàng xóm đối với gia đình em như thế nào?
(Bác Tâm cũng rất quan tâm đến gia đình em. Bác thường hỏi thăm sức khỏe
của ông bà em ở quê, hỏi han về việc học hành của em và khuyên em nhiều
điều tốt.
Bác Lan quan tâm đến gia đình em bằng những tình cảm rất mộc mạc,
chân thành. Có lần mẹ em đi làm về bị cảm nắng, Bác vội đi lấy gừng để đánh
gió cho mẹ em, rồi giúp em nấu cháo cho mẹ ăn.
Mỗi khi nhà em bị hỏng điện chú sẵn sàng sang sửa giúp.)
Sau khi các em được luyện nói theo từng phần, tôi mờì hai, ba HS luyện
nói cả bài. Sau mỗi một HS trình bày miệng, tôi lại cho HS khác nhận xét về nội
dung, ý, dùng từ, bạn nói thành câu chưa?....Việc chỉnh sửa khi làm bài miệng sẽ
hạn chế được những sai sót khi làm viết.
Nhờ việc rèn kĩ năng làm văn miệng, các em được nghe nhiều bạn nói,
với cùng một gợi ý nhưng lại có nhiều cách nói khác nhau. Các em được học hỏi
lẫn nhau, tự so sánh câu của mình với câu của các bạn, để từ đó biết lựa chọn
những cái hay, cái đẹp cho mình. Điều này sẽ giúp các em viết được những bài
viết phong phú mà không dập theo khuôn mẫu nào. Các em đã nói thành câu thì
viết cũng thành câu, diễn đạt lưu loát thì bài văn sẽ trôi chảy hơn.
3.7. Vận dụng linh hoạt đánh giá theo thông tư 22:
Thời gian 40 phút một tiết thì thời gian dành cho việc chữa bài sẽ rất ít.
Chính vì vậy, sau khi HS viết xong bài tôi sẽ thu một vài bài của các em học tốt

học khá – học trung bình hoặc yếu để nhận xét, đánh giá.

HS có kĩ năng viết văn HS có kĩ năng viết văn HS chưa có kĩ năng viết
tốt
văn
27/44 = 61,3%
16/44 = 36,4%
1/44 = 2,3%
Qua bảng thống kê kết quả, tôi thấy lớp 3A2 là lớp tôi thực nghiệm đã có tiến
bộ rõ rệt. Hầu hết HS viết đúng nội dung của chủ đề yêu cầu. Các em sử dụng từ
ngữ rất chính xác, viết thành câu và đã biết dùng các dấu câu đã học vào bài
viết. Có những bài văn viết rất tự nhiên và chân thực. Tôi xin dẫn một số bài
văn của HS lớp tôi.
Đây là bài văn của em Thu Hương. Chỉ sau một thời gian tôi áp dụng biện
pháp mới, em đã tiến bộ rất nhiều. Em viết được bài văn viết về cảnh đẹp đất
nước
24/30


Một số biện pháp giúp HS lớp 3 làm tốt dạng bài:“Viết đoạn văn theo chủ đề”

đủ ý, câu văn có nhiều hình ảnh.

Khi kể lại một buổi biểu diễn nghệ thuật em Minh Tuyết đã kể lại ngay buổi đi
25/30



Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status