Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ THUẾ THU NHẬP
DOANH NGHIỆP
1. Lược sử phát triển của pháp luật Thuế thu nhập doanh nghịêp ở Việt Nam
1.1. Thuế lợi tức và nhược điểm của nó
Thực hiện đường lối đổi mới theo tinh thần Nghị quyết Đại hội lần thứ VI
của Đảng, chuyển từ kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế sản xuất nhiều
thành phần, vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của nhà nước theo định
hướng xã hội chủ nghĩa, từ năm 1990 hệ thống chính sách thuế của Việt Nam đã
được cải cách một cách căn bản. Luật thuế lợi tức mới đựơc ban hành để áp dụng
thống nhất đối với tất cả các tổ chức, cá nhân thuộc mọi thành phần kinh tế có thu
nhập từ hoạt động kinh doanh trong phạm vi lãnh lãnh thổ Việt Nam. Luật thuế lợi
tức đã được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa VIII, kỳ họp
thứ 7 thông qua ngày 30/6/1990 và sửa đổi, bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung một
số điều của Luật thuế lợi tức đã được Quốc hội khóa IX, kỳ họp khóa 3 thông qua
ngày 06/7/1993.
Trãi qua quá trình áp dụng trong thực tiễn, Luật thuế lợi tức đã thu được
nhiếu kết quả so với chế độ thu cũ2. Điển hình là áp dụng chung một chính sách
thuế lợi tức đối với các thành phần kinh tế đảm bảo sự công bằng, bình đẳng trong
cạnh tranh, tạo diều kiện thúc đẩy các thành phần kinh tế phát triển. Đối với kinh tế
quốc doanh áp dụng chính sách thuế lợi tức thay cho chế độ thu quốc doanh mang
nặng tính bao cấp trước đây đã thật sự có tác động mạnh mẽ thúc đẩy các xí nghiệp
tăng cường hoạch toán kinh doanh, từng bước thích ứng với cơ chế thị trường để
tồn tại và phát triển; hạn chế tình trạng “lãi giả, lỗ thật”. Ở các cơ sở kinh doanh, đã
được sắp xếp lại từ 12000, đến 1995 còn khoản 7000 cơ sở và đến năm 1998 chỉ
còn 5000 cơ sở, giảm bớt những doanh nghiệp kinh doanh bị thua lỗ. Đối với kinh
tế ngoài quốc doanh cũng được áp dụng một chính sách thuế như đối với kinh tế
quốc doanh đã tạo ra sự phấn khởi, kích thích các thành phần kinh tế bỏ vốn đầu tư
phát triển sản xuất kinh doanh, làm cho các ngành nghề ngày càng đa dạng, phong
phú hơn. Đến năm 1995 đã có thêm hàng vạn các cơ sở kinh doanh thhuộc các loại
tại kỳ họp thứ 10 Quốc hội khóa IX đã khẳng định: “Từ chỗ dựa một phần quan
trọng vào viện trợ nước ngoài, ngân sách nhà nước đã dần dần tích lũy trong nước
làm nguồn thu chủ yếu, đáp ứng được nhu cầu chi thường xuyên và dành một phần
cho đầu tư phát triển. Đó là một thành tựu quan trọng của quá trình đổi mới”. Song
bên cạnh đó tình hình kinh tế xã hội luôn có những bước phát triển mới, kinh tế thị
trường đã và đang hình thành ở nước ta, Luật Thuế lợi tức đã ngày càng bộc lộ
nhiều hạn chế và gây ảnh hưởng tiêu cực không nhỏ đến tiến trình phát triển của
nền kinh tế nước ta, cụ thể:
- Về tên gọi “Thuế lợi tức” không phản ánh đầy đủ nội dung kinh tế của thuế
này. Khái niệm lợi tức thường được hiểu là lợi tức trong kinh doanh.Trong kinh tế
thị trường, các khoản thu rất đa dạng, phong phú, có khoản thu từ lợi tức kinh
doanh, có khoản thu không phải từ kinh doanh như: các khoản thu từ chuyển
nhượng vốn, tài sản, chuyển giao công nghệ, bản quyền, các khoản nợ khó đòi đã
xử lý xóa nợ nay đòi được, thu các khoản phải trả nhưng không xác định được chủ
nợ và các khoản thu nhập khác trong kinh doanh. Do vậy, khái niệm lợi tức không
bao quát được hết các khoản thu nhập của cơ sở sản xuất, kinh doanh, dịch vụ.
- Phạm vi điều chỉnh của Luật Thuế lợi tức còn hạn hẹp, không bao quát hết
mọi loại hình kinh doanh, mọi loại thu nhập đã và đang phát sinh, phát triển đa dạng
trong nền kinh tế thị trường. Trong Luật Thuế lợi tức tuy đã có những quy định lợi
tức chịu thuế bao gồm: lợi tức kinh doanh và lợi tức khác, nhưng trong thực tế việc
giải thích các khoản lợi tức khác chưa có tính thuyết phục cao, nhất là các xí nghiệp
có vốn đầu tư nước ngoài.
3
PGS.Quách Đức Pháp – “Thuế - Công cụ điều tiết vĩ mô nền kinh tế” – NXB Xây dựng, Hà Nội 1999,
trang 114
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
7
và bảo hành trên địa bàn cả nước nên khó có thể phân định số lợi tức đạt được trong
từng khâu sản xuất, vận tải, thương nghiệp, dịch vụ để thu thuế theo đúng quy định.
Điều bất lợi thứ hai là không thực tế vì những mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và
đời sống thì thường được áp dụng thuế suất thấp với mong muốn là có giá bán rẻ
hơn nhằm mang lại sự ưu đãi cho đối tượng tiêu dùng. Nhưng trong kinh tế thị
trường, giá cả hàng hóa do cung - cầu quyết định, cho nên trong trường hợp cung
nhỏ hơn cầu thì giá bán vẫn tăng lên và người tiêu dùng không được hưởng ưu đãi
đó. Vì vậy, chế độ đa thuế suất không còn phù hợp nên chẳng mang lại kết quả
trong thực tế.
- Nhiều quy định chưa được tập trung rải ra nhiều văn bản và phức tạp dẫn
đến việc thực hiện gặp nhiều khó khăn. Các cơ sở kinh doanh trong nước và các
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
8
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài nhưng hoạt động không theo Luật Đầu tư
nước ngoài tại Việt Nam chịu sự điều chỉnh của Luật Thuế lợi tức. Trong khi đó
doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài dưới các hình thức trong Luật Đầu tư phải
nộp thuế lợi tức được quy định trong luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam. Với
những nội dung không nhất quán, thuế lợi tức chồng chéo, thiếu rõ ràng dẫn đến vai
trò điều tiết vĩ mô nền kinh tế của Thuế lợi tức còn hạn chế.
Vì vậy, phải đổi Luật Thuế lợi tức thành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp.
1.2. Sự ra đời của Thuế thu nhập doanh nghiệp (Thuế TNDN)
Để khắc phục những nhược điểm cơ bản của Luật Thuế lợi tức, đảm bảo sự
phù hợp của chính sách thuế đối với sự phát triển kinh tế xã hội của nước ta trong
giai đoạn đổi mới, đảm bảo cho hệ thống thuế Việt Nam từng bước hòa nhập với hệ
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng
lực sản xuất, khuyến khích các tổ chức, cá nhân đầu tư vào lĩnh vực, ngành nghề,
vùng kinh tế theo đúng mục tiêu phát triển kinh tế xã hội của Đảng và Nhà nước.
Thứ hai, Luật Thuế TNDN đã điều tiết được hầu hết các khoản thu nhập từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh; số thu về Thuế TNDN tăng trưởng hàng năm và
chiếm tỷ trọng khoảng 24,4% trong tổng thu thuế và phí.
Thứ ba, thông qua việc quy định doanh thu, các khoản chi phí hợp lý phải có
hóa đơn, chứng từ hợp pháp, Luật Thuế TNDN đã thúc đẩy các cơ sở kinh doanh
tăng cường hoạch toán kinh doanh, củng cố công tác kế toán, hóa đơn, chứng từ, tiết
kiệm chi phí, từng bước nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Thứ tư, Luật Thuế TNDN đã đơn giản, dễ thực hiện hơn so với Luật Thuế lợi
tức trước đây. Luật Thuế TNDN vối mức thuế suất chung 32% đã tạo điều kiện
thuận lợi cho cơ sở kinh doanh trong công tác hoạch toán, kế toán, trong việc xác
định thu nhập chịu thuế, trong việc kê khai, nộp thuế, nhất là đối với doanh nghiệp
kinh doanh đa dạng, nhiều ngành nghề (Luật Thuế lợi tức cũ có ba mức thuế suất
phân biệt cho ba loại nghành nghề). Do dó, đã tiết kiệm được thời gian, chi phí vật
chất, nhân lực của cơ sở kinh doanh và của cơ quan thuế.
Bên cạnh những ưu điểm, Luật Thuế TNDN 1997 còn bộc lộ một số hạn chế
chủ yếu sau:
- Một là, đối tượng chịu thuế chưa bao quát hết các khoản thu nhập cần điều
tiết cho ngân sách nhà nước.
- Hai là, thuế suất thuế TNDN còn cao, chưa tạo điều kiện cho cơ sở kinh
doanh tích tụ vốn tái sản xuất mở rộng.
- Ba là, mức thuế suất thuế TNDN và ưu đãi thuế còn phân biệt giữa doanh
nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.
Các quy định về ưu đãi, miễn giảm thuế TNDN được quy định trong nhiều
văn bản quy phạm pháp luật gây khó khăn, phức tạp cho việc theo dõi thực hiện.
Điều 1: Đối tượng nộp thuế TNDN
Điều 2: Đối tượng không nộp thuế TNDN
Điều 3: Giải thích từ ngữ
Điều 4: Nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện
Luật thuế TNDN
Chương I
Những quy định chung
Điều 1: Đối tượng nộp thuế TNDN
Điều 2: Đối tượng không nộp thuế TNDN
Điều 3: Giải thích từ ngữ
Điều 4: Nghĩa vụ, trách nhiệm thực hiện
Luật thuế TNDN
Chương II
Căn cứ tính thuế và thuế suất
Điều 5: Căn cứ tính thuế
Điều 6: Thu nhập chịu thuế
Điều 7: Xác định thu nhập chiu thuế
Điều 8: Doanh thu
Điều 9: Chi phí
Điều 10: Thuế suất
Chương II
Căn cứ tính thuế và thuế suất
Điều 5: Căn cứ tính thuế
Điều 6: Thu nhập chịu thuế
Điều 7: Xác định thu nhập chiu thuế
Điều 8: Doanh thu
Điều 9: Chi phí
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
11
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
kinh doanh mới thành lập
Điều 18: Miễn thuế, giảm thuế cho cơ sở
kinh doanh trong nước trong trường hợp
đầu tư xây dựng dây chuyền sản xuất mới,
mở rộng quy mô, đổi mới công nghệ, cải
thiện môi trường sinh thái, nâng cao năng
lực sản xuất
Điều 19: Hoàn thiện cho số thu nhập tái
đầu tư đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư
ngước ngoài tham gia hợp đồng hợp tác
kinh doanh
Điều 20: Miễn thuế cho sơ sở kinh doanh
di chuyển đến vùng núi, hải đảo và những
vùng khó khăn khác
Điều 21: Miễn thuế, giảm thuế cho các
trường hợp khác
Điềi 22: Xét miễn, giảm thuế
đầu tư thành lập cơ sở kinh doannh, hợp tác
xã, cơ sở kinh doanh di chuyển địa điểm
Điều 18: Miễn thuế, giảm thuế cho cơ sở
Chương VI
Khiếu nại và thời hiệu
Điều 28: Quyền và trách nhiệm của đối
tượng nộp thuế trong khiếu nại về thuế
Điều 29: Trách nhiệm và quyền hạn của
cơ quan thuế trong giải quyết khiếu nại về
thuế
Chương VI
Khiếu nại và thời hiệu
Điều 26: Quyền và trách nhiệm của đối
tượng nộp thuế trong khiếu nại về thuế
Điều 27: Trách nhiệm và quyền hạn của cơ
quan thuế trong giải quyết khiếu nại về
thuế
Chương VII
Tổ chức thực hiện
Điều 30: Trách nhiệm của Chính phủ
Chương VII
Tổ chức thực hiện
Điều 28: Trách nhiệm của Chính phủ
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
12
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Thuế thu nhập doanh nghiệp là một loại thuế trực thu. Thuế này đánh vào thu
nhập của các cơ sở kinh doanh có thu nhập phát sinh trong kỳ tính thuế sau khi trừ
các chi phí liên quan đến thu nhập của các cơ sở kinh doanh, dịch vụ đó. Bản chất
kinh tế của thuế trực thu là người nộp thuế đồng thời là người chịu thuế. Căn cứ
mức thuế qui định trong pháp luật thuế, người nộp thuế tự tính và trích một phần
thu nhập của mình trực tiếp nộp cho nhà nước. Tuy nhiên nghĩa vụ thuế thu nhập
doanh nghiệp cũng có thể được chuyển cho những đối tượng khác, chẳng hạn như
cổ đông ở công ty cổ phần (vì lấy thu nhập sau thuế để chia lợi nhuận), hoặc người
tiêu dùng (vì doanh nghiệp doanh nghiệp có thể tính luôn tiền thuế vào giá thành
sản phẩm) …
Ví dụ: Một doanh nghiệp có thu nhập trước thuế là 100 triệu đồng sau khi
thực hiện nghĩa vụ thuế (với thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 28%), doanh
nghiệp còn lại 72 triệu. Doanh nghiệp sẽ dùng 72 triệu này để chia cho các cổ đông
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
13
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
của mình. Như vậy chính các cổ đông phải là người chịu thuế mà không phải công
ty cổ phần.
Ưu điểm của thuế trực thu là động viên vào thu nhập của từng tổ chức, cá
nhân có thu nhập cho nên đảm bảo được tính công bằng xã hội: người có thu nhập
cao thì phải nộp thuế nhiều người có thu nhập vừa thì phải nộp thuế ít hơn, người
không có thu nhập thì không phải nộp thuế. Nhưng thuế trực thu cũng có những mặt
bất lợi (mặt hạn chế) là: việc tính toán phức tạp hơn và thường là phải xác định rõ
thu nhập thì mới thu được thuế nên rất chậm. Nhiều trường hợp phải đến kỳ quyết
14
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
phát sinh thu nhập, thời gian cư trú của chủ sở hữu thu nhập, tính ổn định của thu
nhập…
Trong phần xác định thu nhập chịu thuế, phải xác định được các khoản khấu
trừ hợp lý để tiến hành khấu trừ khi tính thuế nhằm đảmbảo mực tiêu công bằng và
khuyến khích đối với đối tượng nộp thuế .
- Thứ tư, nguồn luật điều chỉnh thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm các văn
bản pháp lật quốc gia và cả Luật quốc tế. Bởi thuế thu nhập doanh nghiệp là loại
thuế trực thu nên nó có thể là đối tượng được điều chỉnh bởi hiệp định tránh đánh
thuế hai lần. Trong quá trình kinh doanh, một đơn vị kinh doanh ngoài địa điểm
kinh doanh chính còn có các chi nhánh, công ty phụ thuộc kinh doanh ở địa điểm
khác. Ở nước ngoài, các chi nhánh, công ty phải nộp thuế đối với thu nhập phát sinh
theo luật pháp nước sở tại, đồng thời cũng khoản thu nhập đó khi chuyển về trụ sở
chính lại chịu thuế một lần nữa theo luật pháp nước đơn vị kinh doanh đó thành lập.
Như vậy xảy ra việc đánh thuế trùng đối với cùng một khoản thu nhập của một đơn
vị kinh doanh. Hiệp định tránh đánh thuế trùng của Chính phủ Việt Nam ký với
chính phủ các nước là để phân chia quyền đánh thuế và tránh hiện tượng đánh thuế
trùng đối với cùng một khoản thu nhập, nhằm đảm bảo quyền lợi của nhà đầu tư
nước ngoài, khuyến khích họ đầu tư vào Việt Nam. Ngược lại các nhà đầu tư Việt
Nam đầu tư ra nước ngoài cũng được hưởng quy định này.
Tuy nhiên, thuế thu nhập doanh nghiệp có đặc điểm riêng là thuế thu nhập
doanh nghiệp được áp dụng một thuế suất. Thuế thu nhập doanh nghiệp và thuế thu
nhập cá nhân đều là thuế trực thu đánh vào thu nhập nên nếu chỉ dừng lại ở bốn đặc
điểm trên thì ta có thể phân biệt được thuế thu nhập doanh nghiệp và các loại thuế
khác nhưng cũng có thể nhầm lẫn với thuế thu nhập cá nhân. Điểm khác biệt giữa
@Cá nhân trong nước sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bao gồm:
- Cá nhân và nhóm cá nhân kinh doanh.
- Hộ kinh doanh cá thể.
- Cá nhân hành nghề độc lập: bác sĩ, luật sư, kế toán, kiểm toán, họa sĩ, kiến
trúc sư, nhạc sĩ và cá nhân hành nghề độc lập khác.
- Cá nhân cho thuê tài sản như nhà, đất, phương tiện vận tải, máy móc thiết
bị và các loại tài sản khác.
@Cá nhân nước ngoài kinh doanh phát sinh thu nhập tại Việt Nam, không
phân biệt là thực hiện hoạt động kinh doanh được thực hiện tại Việt Nam hay ở
nước ngoài.
Theo thông tư 134/2007/TT-BTC hướng dẫn nghị định 24: “Công ty nước
ngoài, tổ chức nước ngoài, cá nhân nước ngoài kinh doanh tại Việt Nam không theo
Luật Đầu tư và Luật Doanh nghiệp hoặc có thu nhập phát sinh tại Việt Nam nộp
thuế thu nhập doanh nghiệp theo hướng dẫn riêng của Bộ Tài chính”.
@Công ty nước ngoài hoạt động kinh doanh thông qua cơ sở thường trú tại
Việt Nam.
Cơ sở thường trú là cơ sở kinh doanh mà thông qua cơ sở này công ty nước
ngoài thực hiện một phần hay toàn bộ hoạt động kinh doanh của mình tại Việt Nam
mang lại thu nhập. Cơ sở thường trú của công ty nước ngoài chủ yếu bao gồm các
hình thức sau:
- Chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, xưởng sản xuất, kho giao nhận
hàng hóa, phương tiện vận tải, hầm mỏ, mỏ dầu hoặc khí đốt, địa điểm thăm dò
hoặc khai thác tài nguyên thiên nhiên hay các thiết bị phương tiện phục vụ cho việc
thăm dò tài nguyên thiên nhiên.
- Địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, lắp ráp; các hoạt động
giám sát xây dựng, công trình xây dựng lắp đặt, lắp ráp.
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
16
bởi Luật Thuế thu nhập cá nhân (được quy định tại Điều 2 và Điều 3 của Luật Thuế
thu nhập cá nhân có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2009).
3.2. Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp
Đối tượng không thuộc diện nộp thuế thu nhập doanh nghiệp bao gồm hộ gia
đình, cá nhân, hợp tác xã sản xuất nông nghiệp có thu nhập từ sản xuất, trồng trọt,
chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản; trừ hộ gia đình và cá nhân nông dân sản xuất hàng
hóa lớn, có thu nhập cao.
Việc nộp thuế thu nhập doanh nghiệp đối với tổ chức, cá nhân nông dân sản
xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao từ sản phẩm trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng
thủy sản sẽ có quy định riêng.
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
17
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Trước đây, nghi định số 30/1998 NĐ- CP ngày 13/5/1998 của Chính phủ quy
định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 1997 có quy định về sản
xuất hàng hóa lớn, có thu nhập cao là: giá trị sản phẩm hàng hóa trên 90 triệu
đồng/năm và có thu nhập trên 36 triệu đồng/năm thì phải nộp thuế thu nhập doanh
nghiệp cho phần thu nhập trên 36 triệu đồng4.
Ví dụ: Một hộ gia đình, cá nhân nông dân có giá trị sản phẩm hàng hóa 150
triệu đồng /năm và thu nhập là 60 triệu đồng /năm. Hộ gia đình, cá nhân này phải
nộp thuế thu nhập doanh nghiệp với số tiền là: (60 triệu – 36 triệu) x 32% = 7,68
triệu đồng.
Còn ở Thông tư 128/2003/TT-BTC ngày 22/12/2003 hướng dẫn thi hành
Nghị định 164/2003/NĐ-CP ngày 22/12/2003 của Chính phủ quy định chi tiết thi
hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp 2003 thì lại quy định: “Tạm thời chưa thu
CHƯƠNG 2:THU NHẬP CHỊU THUẾ THU NHẬP DOANH
NGHIỆP VÀ HƯỚNG HOÀN THIỆN
1. Thu nhập chịu thuế
Theo quy định của pháp luật hiện hành, thu nhập chịu thuế được xác định
trong từng kỳ tính thuế. Kỳ tính thuế được xác định theo năm dương lịch hoặc năm
tài chính. Kỳ tính thuế đầu tiên đối với cơ sở kinh doanh mới thành lập và kỳ tính
thuế cuối cùng đối với cơ sở kinh doanh chuyển loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi
hình thức sở hữu, sáp nhập, chia tách, giải thể, phá sản... được xác định phù hợp
với kỳ kế toán theo quy định của pháp luật về kế toán.
Theo Thông tư số 134/2007/TT-BTC ngày 23/11/2007 của Bộ Tài chính
hướng dẫn Nghị định 24 có quy định thêm về kỳ tính thuế như sau: Trường hợp kỳ
tính thuế năm đầu tiên của cơ sở kinh doanh mới thành lập và kỳ tính thuế cuối
cùng đối với cơ sở kinh doanh chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình
thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách, giải thể, phá sản có thời hạn ngắn hơn
03 tháng thì được cộng với kỳ tính thuế năm tiếp theo (đối với cơ sở kinh doanh
mới thành lập) hoặc kỳ tính thuế năm trước (đối với cơ sở kinh doanh chuyển đổi
loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, hợp nhất, sáp nhập, chia tách,
giải thể, phá sản) để hình thành một kỳ tính thuế thu nhập doanh nghiệp năm cuối
cùng không vượt quá 15 tháng.
Thu nhập chịu thuế được xác định bao gồm: Thu nhập từ sản xuất kinh
doanh hàng hóa, dịch vụ và thu nhập khác trong kỳ tính thuế, kể cả thu nhập từ hoạt
động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ ở nước ngoài. Thu nhập chịu thuế từ
hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ bằng doanh thu để tính thu nhập
chịu thuế trừ (-) các khoản chi phí hợp lý liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh
doanh trong kỳ tính thuế.
Dự thảo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp đề xuất về xác định thu nhập tính thuế:
Thu nhập tính thuế trong kỳ được xác định bằng thu nhập chịu thuế trừ (-)
thu nhập được miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước.
Thu nhập chịu thuế bằng doanh thu trừ (-) các khoản chi phí được trừ của hoạt động
sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ, cộng (+) thu nhập khác nhận được từ các
10.000 đồng.
110.000 đồng.
Giá thanh toán :
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là 100.000 đồng.
- Đối với cơ sở kinh doanh nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực
tiếp trên giá trị gia tăng là doanh thu bao gồm cả thuế giá trị gia tăng.
Ví dụ: Cơ sở kinh doanh B là đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng theo phương pháp
trực tiếp trên giá trị gia tăng. Hoá đơn bán hàng chỉ ghi giá bán là 110.000 đồng (giá
đã có thuế GTGT).
Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là 110.000 đồng.
T heo Dự thảo L uật T huế thu nhậ p d oanh ngh iệp, doanh thu để
tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng, tiền gia công, tiền cung ứng dịch
vụ, kể cả trợ giá, phụ thu, phụ trội mà cơ sở kinh doanh được hưởng; trường hợp có
doanh thu bằng ngoại tệ thì phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái do
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh doanh thu bằng
ngoại tệ.
1.1.2. Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế
Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động
bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hàng hoá,
hoàn thành dịch vụ hoặc thời điểm lập hoá đơn bán hàng, cung ứng dịch vụ5.
5
Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 24/2007quy định chi tiết thi hành Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
20
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
hoàn thành). Nhà thầu căn cứ vào chứng từ để hoạch toán doanh thu trong kỳ kế
toán và đương nhiên trong trường hợp này không cần xác định của bên mua (chủ
đầu tư) và doanh thu này là căn cứ để xác định thu nhập chịu thuế. Trường hợp hợp
đồng xây dựng quy định nhà thầu được thanh toán theo tiến độ kế hoạch thì tài liệu
pháp lý duy nhất để nhà thầu xác định hoạch toán doanh thu chính là hợp đồng xây
dựng – trong đó ghi rõ được thanh toán theo tiến độ và bộ chứng từ xác định doanh
thu trên cơ sở phần việc hoàn thành do đơn vị tự xác định. Như vậy, đã xác định và
hoạch toán được doanh thu nhưng trường hợp này chưa chuyển giao quyền sở hữu
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
21
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
và nhà thầu chưa lập hóa đơn bán hàng. Vì vậy, cần phải quy định rõ ràng và bổ
sung về thời điểm xác định doanh thu hợp đồng xây dựng khi nhà thầu được thanh
toán theo tiến độ. Theo đó, nếu trong hợp đồng xây dựng quy định nhà thầu được
thanh toán theo tiến độ thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là doanh thu tương
ứng với phần công việc đã hoàn thành do nhà thầu tự xác định vào ngày lập báo
cáo tài chính so với tổng khối lượng công việc phải hoàn thành được ghi trong dự
toán và phản ánh trong hợp đồng xây dựng6.
1.1.3. Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hàng hóa theo phương thức
trả góp được xác định theo giá bán hàng hóa, trả tiền một lần, không bao gồm tiền
lãi trả chậm. Về vấn đề này, Thông tư số 134/2007/TT-BTC hướng dẫn: Trường
hợp việc thanh toán theo hợp đồng mua bán trả góp, trả chậm kéo dài nhiều kỳ tính
thuế thì doanh thu là số tiền phải thu của người mua trong kỳ tính thuế không bao
gồm lãi trả góp, trả chậm theo thời hạn quy định trong hợp đồng.Việc xác định chi
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
trình nhỏ, không đòi hỏi kết cấu hạ tầng như tường rào, sân phơi, đường đi lại nội
bộ trong đơn vị... thì những tổ chức này được thuê mướn nhân công và tự mua vật
tư để thi công, đây là những chi phí xây dựng cơ bản nhằm tạo ra tài sản cố định của
doanh nghệp, nếu những chi phí này lại được coi là doanh thu để tính thuế thì khó
được sự đồng tình về nghĩa vụ thuế, không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư
vào những vùng khó khăn chưa có sự đầu tư về cơ sở hạ tầng của nhà nước.
Với những dẫn chứng trên, những quy định về doanh thu để tính thu nhập
chịu thuế có ảnh hưởng đến sự động viên, điều tiết thu nhập và tính công bằng xã
hội. Vì vậy chính sách thuế thu nhập doanh nghiệp nói chung, nhất là doanh thu để
tính thu nhập chịu thuế tiếp tục cần được xem xét, sửa đổi, bổ sung đảm bảo đúng
đạo lý và tính nhân văn của chính sách thuế, phù hợp với thực tế sản xuất kinh
doanh7.
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động gia công hàng hoá
là tiền thu về gia công bao gồm cả tiền công, nhiên liệu, động lực, vật liệu phụ và
chi phí khác phục vụ cho việc gia công hàng hoá.
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với cơ sở kinh doanh nhận làm
đại lý, ký gửi bán hàng đúng giá quy định của cơ sở kinh doanh giao đại lý, ký gửi
là tiền hoa hồng được hưởng theo hợp đồng đại lý, ký gửi hàng hoá.
@ Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động cho thuê tài sản là
số tiền bên thuê trả từng kỳ theo hợp đồng thuê. Trường hợp bên thuê trả trước cho
nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được phân bổ cho số năm trả
tiền trước hoặc xác định theo doanh thu trả tiền một lần.
Thông tư số 134/2007/TT-BTC hương dẫn như sau: Trường hợp bên thuê trả
tiền trước cho nhiều năm thì doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được xác định
phù hợp với việc xác định chi phí của cơ sở kinh doanh.
Tuỳ theo điều kiện về việc xác định chi phí hợp lý, cơ sở kinh doanh có thể lựa
chọn một trong hai phương pháp xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế như
sau:
- Đối với số lãi phải thu phát sinh trong kỳ của các khoản nợ khách hàng
không trả được đúng hạn còn lại, tổ chức tín dụng theo dõi ngoài bảng để đôn đốc
thu, khi thu được hạch toán vào thu nhập.
- Đối với thu lãi tiền gửi, lãi đầu tư trái phiếu, tín phiếu... là số lãi phải thu
trong kỳ.
@ Ngòai ra, theo Thông tư số 134/2002/TT-BTC doanh thu tính thuế còn
bao gồm các lọai doanh thu khác như:
- Đối với hoạt động vận tải hàng không là toàn bộ số tiền được hưởng từ việc
vận chuyển hành khách, hành lý, hàng hoá, không phân biệt đã thu được tiền hay
chưa thu được tiền. Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là thời
điểm hoàn thành dịch vụ vận chuyển.
- Đối với hoạt động bán điện là số tiền bán điện ghi trên hoá đơn giá trị gia
tăng. Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là ngày xác nhận chỉ
số công tơ điện và ghi trên hoá đơn tính tiền điện.
Ví dụ: Hoá đơn tiền điện ghi chỉ số công tơ từ ngày 5/12 đến ngày 5/1.
Doanh thu của hoá đơn này được tính vào tháng 1.
- Đối với hoạt động khác như kinh doanh nước sạch...doanh thu để tính thu
nhập chịu thuế được xác định tương tự như hoạt động bán điện.
- Đối với hoạt động kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm là số tiền phải thu
về phí bảo hiểm gốc, phí dịch vụ đại lý (giám định tổn thất, xét giải quyết bồi
thường, yêu cầu người thứ ba bồi hoàn, xử lý hàng bồi thường 100%); phí nhận tái
bảo hiểm; thu hoa hồng tái bảo hiểm và các khoản thu khác về kinh doanh bảo hiểm
sau khi đã trừ các khoản phải chi để giảm thu như: hoàn phí bảo hiểm, giảm phí
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
24
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
gia hợp đồng hợp tác kinh doanh.
1.2. Các khoản chi được trừ và không được trừ khi xác định thu nhập chịu
thuế
Theo Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp ban hành năm 2003, chi phí của
doanh nghiệp được chia thành 2 nhóm: được khấu trừ và không được khấu trừ.
Điều này đã làm mất tính chủ động của doanh nghiệp, đồng thời tạo ra cơ chế xin-
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
25
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
cho khi mà nhà làm luật không thể tiên liệu hết tất cả các loại chi phí của doanh
nghiệp.
Theo trung tâm thông tin TM – Bộ Công thương, kể từ ngày tính thuế 2008, tổ
chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ sẽ thực hiện tính thuế và
quyết toán Thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định mới là Thông tư số
134/2007/TT-BTC. Điểm khác biệt lớn nhất của quy định mới là Bộ Tài chính
không quy định cụ thể các khoản chi phí hợp lý được trừ để tính thu nhập chịu thuế,
mà chỉ quy định chi tiết các khoản khác không tính vào chi phí hợp lý.
Các khoản chi phí sau đây không được tính vào chi phí hợp lý8:
@ Các khoản trích trước vào chi phí mà thực tế không chi;
@ Các khoản chi không có chứng từ hoặc chứng từ không hợp pháp;
@ Các khoản tiền phạt, các khoản chi không liên quan đến doanh thu tính
thuế và thu nhập chịu thuế;
Nguyên tắc xác định các khoản chi phí không tính vào chi phí hợp lý:
+ Các khoản chi không có đầy đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định hoặc hoá
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không sử dụng cho hoạt động sản
xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ.
Riêng tài sản cố định phục vụ cho người lao động làm việc tại cơ sở kinh
doanh như: nhà nghỉ giữa ca, nhà ăn giữa ca, nhà thay quần áo, nhà vệ sinh, bể chứa
nước sạch, nhà để xe, phòng hoặc trạm y tế để khám chữa bệnh, xe đưa đón người
lao động, cơ sở đào tạo, dạy nghề, nhà ở cho người lao động do cơ sở kinh doanh
đầu tư xây dựng được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý.
- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không có giấy tờ chứng minh
được thuộc quyền sở hữu của cơ sở kinh doanh (trừ tài sản cố định thuê mua tài
chính).
- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định không được quản lý, theo dõi, hạch
toán trong sổ sách kế toán của cơ sở kinh doanh theo chế độ quản lý tài sản cố định
và hạch toán kế toán hiện hành.
- Phần trích khấu hao vượt mức quy định hiện hành của Bộ Tài chính về chế
độ quản lý, sử dụng và trích khấu hao tài sản cố định. Trường hợp cơ sở kinh doanh
có lãi áp dụng phương pháp khấu hao theo đường thẳng, khấu hao nhanh để đổi mới
công nghệ là phần trích khấu hao vượt quá 02 lần mức khấu hao theo quy định.
Trường hợp đặc biệt khác được trích khấu hao tính vào chi phí hợp lý theo
Quyết định của Bộ Tài chính.
- Chi phí khấu hao đối với tài sản cố định đã khấu hao hết giá trị.
- Chi phí khấu hao đối với công trình trên đất vừa sử dụng cho sản xuất kinh
doanh vừa sử dụng cho mục đích khác thì không được tính khấu hao vào chi phí
hợp lý đối với giá trị công trình trên đất tương ứng phần diện tích không sử dụng
vào hoạt động sản xuất kinh doanh.
@ Chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, năng lượng, hàng hoá phần vượt
mức tiêu hao hợp lý, bị tổn thất hoặc bị hư hỏng đã được các tổ chức, cá nhân bồi
thường.
@ Chi phí tiền lương, tiền công thuộc một trong các trường hợp sau:
- Chi phí tiền lương, tiền công và các khoản phụ cấp phải trả cho người lao
sở kinh doanh ký và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực.
Trường hợp giá mua hàng hoá, dịch vụ trên bảng kê cao hơn giá thị trường tại thời
điểm mua hàng thì cơ quan thuế căn cứ vào giá thị trường tại thời điểm mua hàng,
dịch vụ cùng loại hoặc tương tự trên thị trường xác định lại mức giá để tính lại chi
phí hợp lý khi xác định thu nhập chịu thuế.
@ Phần chi phí tiền ăn giữa ca hàng tháng cho mỗi người lao động vượt quá
mức lương tối thiểu do Nhà nước quy định đối với công chức Nhà nước.
@ Phần chi phí tiền ăn định lượng chi trả cho người lao động làm việc trong
một số ngành đặc biệt vượt quá mức chế độ Nhà nước quy
@Chi thưởng sáng kiến, cải tiến mà cơ sở kinh doanh không có quy chế quy
định cụ thể về việc chi thưởng sáng kiến, cải tiến, không có hội đồng nghiệm thu
sáng kiến, cải tiến.
@ Chi tài trợ cho giáo dục không đúng đối tượng quy định tại khoản a mục
2.8 phần III Thông tư số 134/2007/TT-BTC, không có hồ sơ xác định khoản tài trợ
nêu tại điểm b mục 2.8 phần III Thông tư số 134/2007/TT-BTC:
- Tài trợ cho giáo dục gồm: tài trợ cho việc mở trường học theo các hình thức
công lập, dân lập và tư thục thuộc hệ thống giáo dục quốc dân theo quy định của
Luật Giáo dục; Tài trợ cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy, học tập và hoạt động của
trường học; Tài trợ học bổng cho học sinh, sinh viên thuộc các cơ sở giáo dục phổ
thông, cơ sở giáo dục nghề nghiệp và cơ sở sở giáo dục đại học được quy định tại
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
28
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
Luật Giáo dục; Tài trợ cho các cuộc thi về các môn học được giảng dạy trong
phí sửa chữa tài sản cố định đi thuê được phép hạch toán vào chi phí hoặc phân bổ
dần vào chi phí nhưng thời gian tối đa không quá 3 năm.
Trường hợp chi phí để có các tài sản không thuộc tài sản cố định: chi về mua
và sử dụng các tài liệu kỹ thuật, bằng sáng chế, giấy phép chuyển giao công nghệ,
GVHD: TS. Lê Thị Nguyệt Châu
29
SVTH: Huỳnh Thị Thu Thảo
Nghiên cứu về căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp
nhãn hiệu thương mại, lợi thế kinh doanh... được phân bổ dần vào chi phí kinh
doanh nhưng tối đa không quá 3 năm
@ Chi phụ cấp tàu xe đi nghỉ phép không đúng theo quy định của Bộ Luật
Lao động; Phần chi phụ cấp cho nguời lao động đi công tác (không bao gồm tiền đi
lại và tiền ở) vượt quá 2 lần mức quy định theo hướng dẫn của Bộ Tài chính đối với
cán bộ công chức, viên chức Nhà nước.
@ Các khoản chi cho lao động nữ không đúng đối tượng và mức chi vượt
quá theo các quy định dưới đây:
- Chi cho đào tạo lại nghề cho lao động nữ trong trường hợp nghề cũ không
còn phù hợp phải chuyển đổi sang nghề khác theo quy hoạch phát triển của cơ sở
kinh doanh.
Khoản chi này bao gồm: học phí (nếu có) + chênh lệch tiền lương ngạch bậc
(đảm bảo 100% lương cho người đi học).
- Chi phí tiền lương và phụ cấp (nếu có) cho giáo viên dạy ở nhà trẻ, mẫu
giáo do cơ sở kinh doanh tổ chức và quản lý. Số lượng giáo viên được xác định theo
định mức do hệ thống giáo dục đào tạo quy định.
- Chi phí tổ chức khám sức khoẻ thêm 01 lần trong năm như khám bệnh nghề