ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐẶNG VINH DỰ
NGÔN NGỮ BIỂU TƢỢNG
TẠI CÁC NGÔI CHÙA Ở THỪA THIÊN HUẾ
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
HUẾ - NĂM 2017
ĐẠI HỌC HUẾ
TRƢỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
ĐẶNG VINH DỰ
NGÔN NGỮ BIỂU TƢỢNG
TẠI CÁC NGÔI CHÙA Ở THỪA THIÊN HUẾ
Chuyên ngành: Dân tộc học
Mã số: 62.31.03.10
LUẬN ÁN TIẾN SĨ DÂN TỘC HỌC
Ngƣời hƣớng dẫn khoa học:
1. PGS. TS. NGUYỄN VĂN MẠNH
2. TS. Đại đức LÊ QUANG TƢ
HUẾ - NĂM 2017
PGS.TS. Phan Thanh Bình vì những ý kiến, góp ý chân tình và quý báu. Xin
chân thành cảm ơn TS. Nguyễn Thị Thanh Huyền, thầy Cao Huy Hóa, NNC.
Trần Đình Sơn, NCS. Nguyễn Phước Bảo Đàn, ThS. Lê Thọ Quốc đã giúp đỡ
tôi về mặt tư liệu và hình ảnh. Xin được tri ân sự hỗ trợ về mặt văn bản của
NCS. Lê Thị Thúy Hằng.
Tôi sẽ không thể thực hiện được luận án nếu không có sự cảm thông,
giúp đỡ vô điều kiện cả về vật chất lẫn tinh thần của bố, vợ, con gái và người
thân trong gia đình, những người luôn sát cánh bên tôi, tiếp thêm cho tôi sức
mạnh vượt qua mọi khó khăn để hoàn thành luận án.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng song luận án không thể tránh khỏi những
hạn chế và thiếu sót. Kính mong Quý thầy cô giáo, bạn bè và đồng nghiệp tiếp
tục góp ý để luận án ngày càng hoàn thiện hơn.
Một lần nữa tôi xin chân thành cảm ơn!
DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
DÙNG TRONG LUẬN ÁN
BAVH
Bulletin des Amis du Vieux Hué (Những ngƣời bạn Cố đô Huế)
GS.
Giáo sƣ
PGS.
Phó giáo sƣ
Tiến sĩ
ThS.
Thạc sĩ
Tr.
Trang
Tx.
Thị xã
UBND
Ủy ban Nhân dân
UNESCO
United Nations Educational Scientific and Cultural Organization
(Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc)
DANH MỤC PHỤ LỤC
STT
NỘI DUNG
PL 1
2.7
Ba mƣơi ba hình tƣợng Quán Thế Âm
2.8
Bát bộ Kim Cang
2.9
Thập nhị Thần Tƣớng
2.10
Ba mƣơi hai tƣớng tốt và tám mƣơi vẻ đẹp của Đức Phật
2.11
Cây bồ đề
2.12
Pháp luân
2.13
Bát bửu Phật giáo
2.14
3.3
Phƣợng hoàng
PL 4
Danh mục các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế đƣợc xếp hạng di tích
PL 5
Danh mục các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế đã nghiên cứu, điền dã
DANH MỤC TRANH ẢNH MINH HỌA
STT
PL 6
6.1
NỘI DUNG
Các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế
Các ngôi chùa cổ qua tranh ảnh, đồ sứ ký kiểu
6.1.1
Đệ tứ cảnh Thiên Mụ Chung Thanh
6.1.2
6.3.2
Chùa Sùng An
6.3.3
Chùa Từ Hiếu
Niệm Phật đƣờng Lại Ân đƣợc xây dựng trên nền cũ chùa Sùng
Hóa
Ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế
6.3.4
PL 7
7.1
7.1.1 và
7.1.2
7.1.3
Ngôn ngữ biểu tƣợng Phật giáo
Hình tƣợng Đức Phật tại chùa Thiền Tôn và chùa Tra Am
Hình tƣợng Đức Phật tại chùa Bồ Điền
7.1.4
Hình tƣợng Đức Phật tại chùa Ba La Mật
7.1.5
7.1.7
7.1.16
7.1.17 và
7.1.18
7.1.19
Trống chùa Đông Thuyền, chuông chùa (1815) Thiên Mụ
Chiếc trống cổ có niên đại Cảnh Hƣng thứ 28 (1767) tại chùa
Thiên Lƣơng và trang trí trên đại hồng chung thời Tây Sơn (1791)
tại chùa La Chữ
Bình Trung Quán Khánh (1677) tại chùa Thiên Mụ và khánh đá
chùa Từ Hiếu
Y bát (chùa Tây Thiên)
7.1.20
Tam quan chùa Thiên Mụ những năm đầu thế kỷ XX
7.1.21
Tam quan chùa Thiên Mụ năm 2010
7.1.22
7.2.1
Tam quan chùa Diệu Viên
Biểu tƣợng hoa sen đƣợc dùng trong trang trí tại chùa Diệu Đức
hiện nay
Ngôn ngữ biểu tƣợng có yếu tố Nho giáo, Lão giáo, văn hóa
Champa và tín ngƣỡng dân gian Việt Nam
8.4
Lƣỡng long triều hổ phù đội chữ Vạn tại chùa Báo Quốc
8.5
Rồng trên Phổ Thành tự chung tại chùa Hà Trung
8.6
Long mã khảm sành sứ tại chùa Giác Lƣơng
7.1.23
7.2
PL 8
8.1
8.7
Long mã khảm sành sứ tại chùa Kim Tiên
8.8
Khảm sành sứ tại Đại Hùng bửu điện chùa Linh Quang
8.9
4. Nguồn tƣ liệu ...................................................................................................... 4
5. Đóng góp của luận án ......................................................................................... 5
6. Bố cục của luận án .............................................................................................. 6
CHƢƠNG 1. TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƢƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU ......................... 7
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu ...................................................................... 7
1.2. Cơ sở lý thuyết liên quan đến đề tài .............................................................. 15
1.3. Phƣơng pháp nghiên cứu ............................................................................... 26
1.4. Khái quát về địa bàn nghiên cứu ................................................................... 29
Tiểu kết chƣơng 1 ................................................................................................. 36
CHƢƠNG 2. NHỮNG BIỂU HIỆN CỦA NGÔN NGỮ BIỂU TƢỢNG
TẠI CÁC NGÔI CHÙA Ở THỪA THIÊN HUẾ ..................................................... 38
2.1. Ngôn ngữ biểu tƣợng Phật giáo ..................................................................... 39
2.2. Ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa có yếu tố Nho giáo, Lão giáo,
văn hóa Champa và tín ngƣỡng dân gian Việt Nam ............................................. 63
Tiểu kết chƣơng 2 ................................................................................................. 74
CHƢƠNG 3. ĐẶC ĐIỂM VÀ GIÁ TRỊ CỦA NGÔN NGỮ BIỂU TƢỢNG
TẠI CÁC NGÔI CHÙA Ở THỪA THIÊN HUẾ ..................................................... 75
3.1. Không gian văn hóa tạo nên ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa
ở Thừa Thiên Huế ................................................................................................. 75
3.2. Các đặc điểm cơ bản ...................................................................................... 84
3.3. Các giá trị cơ bản ......................................................................................... 100
Tiểu kết chƣơng 3 ............................................................................................... 109
CHƢƠNG 4. SỰ BIẾN ĐỔI VÀ ĐỊNH HƢỚNG BẢO TỒN, PHÁT HUY GIÁ
TRỊ NGÔN NGỮ BIỂU TƢỢNG TẠI CÁC NGÔI CHÙA Ở THỪA THIÊN HUẾ
HIỆN NAY.............................................................................................................. 110
4.1. Các hình thức biến đổi của ngôn ngữ biểu tƣợng ........................................ 111
4.2. Nguyên nhân của sự biến đổi ngôn ngữ biểu tƣợng ................................... 115
khách hành hƣơng cảm thấy nhẹ mình khi bỏ lại đằng sau những muộn phiền phàm
tục. Giá trị của ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa rất khó định hình, nhƣng thực
tế, nó hiện diện trong từng không gian của ngôi tự, dù đó là chùa công hay chùa làng,
Niệm Phật đƣờng hay chùa tổ. Bởi lẽ, ngôn ngữ biểu tƣợng là triết lý, là lời dạy của
Đức Phật về cuộc sống, nhân sinh quan ẩn hiện qua những hình ảnh, tƣợng thờ. Ngôn
ngữ biểu tƣợng của ngôi chùa nơi đây cũng hàm ẩn cách nhìn của ngƣời dân bản xứ
qua nhãn quan đạo Phật để tạo nên phong cách, đặc trƣng vùng miền.
Ngôn ngữ biểu tƣợng “là ngôn ngữ mang tính toàn cầu duy nhất mà con người
từng biết. Nó là ngôn ngữ được sử dụng trong những câu chuyện thần thoại đã có
5000 năm tuổi và trong những giấc mơ của con người hiện đại. Cho dù ở Ấn Độ hay
Trung Quốc, ở New York hoặc Paris, ngôn ngữ biểu tượng đều giống nhau” [44,
1
tr.164]. Bên cạnh việc phản ánh triết lý, nhân sinh quan của đạo Phật, thể hiện dấu ấn
của Phật giáo Thừa Thiên Huế trên các phƣơng diện mỹ thuật, hội họa, kiến trúc…
ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế còn khắc họa rõ nét sắc thái
văn hóa đặc trƣng của tiểu vùng văn hóa Thuận Hóa – Phú Xuân – Thừa Thiên Huế.
Đó là sự giao thoa giữa văn hóa Champa và văn hóa Phật giáo, văn hóa – mỹ thuật
thời Nguyễn và văn hóa Phật giáo, văn hóa dân gian và văn hóa Phật giáo hay cách
biểu hiện của mô hình Tam giáo đồng nguyên (Nho, Phật, Lão)… trong các biểu
tƣợng đƣợc phối thờ, trang trí… Ngoài ra, sự thống nhất về ngôn ngữ biểu tƣợng tại
các Niệm Phật đƣờng cũng là một nét riêng đáng lƣu ý, phản ánh quan điểm về thời
kỳ chấn hƣng Phật giáo ở Thừa Thiên Huế đầu thế kỷ XX.
Ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế có tầm quan trọng nhƣ
vậy, nhƣng trong quá trình phát triển của xã hội hiện nay giá trị của nó tại các ngôi
chùa ở Thừa Thiên Huế đang bị biến dạng, thay đổi theo xu hƣớng tiện nghi, đơn điệu,
đồng nhất, tô điểm màu sắc sặc sỡ hơn là ý nghĩa tâm linh, sâu lắng của triết lý nhà
Phật. Bởi vậy, nghiên cứu về ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế
là rất cần thiết để giữ gìn, bảo tồn vốn sắc thái văn hóa đặc trƣng, một thành tố cấu
Thiên Huế trong bối cảnh hiện nay để thấy đƣợc sự biến đổi về mặt hình thức, nội dung
và giá trị biểu đạt.
3. Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Luận án nghiên cứu ngôn ngữ biểu tƣợng tại năm dạng chùa: chùa làng, tổ
đình, chùa công, Niệm Phật đƣờng và các dạng chùa còn lại1. Tuy vậy, để đạt đƣợc
các mục đích nghiên cứu đã đặt ra, luận án tập trung vào những biểu tƣợng ở dạng
vật thể hiện diện phổ biến và tiêu biểu trên kiến trúc, tƣợng thờ, pháp khí, pháp
phục… Ngôn ngữ biểu tƣợng tại các chùa Phật giáo theo hệ phái Nam tông xuất
hiện khá muộn ở Thừa Thiên Huế (cuối những năm 1950) [46, tr.15] nên luận án
xin không đề cập đến trong công trình nghiên cứu này.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
3.2.1. Giới hạn về không gian nghiên cứu
Luận án chọn “các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế” tức là chọn các ngôi chùa thuộc
phạm vi địa bàn tỉnh Thừa Thiên Huế ngày nay. Tuy nhiên, luận án tập trung khảo sát
những ngôi chùa tiêu biểu trong 5 dạng chùa đƣợc nêu trên. Cụ thể với chùa làng có:
Thành Trung, Ƣu Điềm, Thanh Quang, Hà Trung, Sùng An [PL 6.3.2], Bồ Điền, Hạ
Lang, Cảnh Phƣớc…; tổ đình gồm: Thiền Tôn, Từ Đàm, Quốc Ân, Viên Thông [PL
6.3.1], Tƣờng Vân, Từ Hiếu [PL 6.3.3], Thuyền Lâm, Tây Thiên…; chùa công gồm:
Thiên Mụ, Thánh Duyên, Diệu Đế, Linh Quang…; Niệm Phật đƣờng gồm: Dƣơng
1
Năm dạng chùa này đƣợc trình bày cụ thể ở mục 1.4.4.2. Các dạng chùa cơ bản ở Chƣơng 1.
3
Biều, Hội Thƣợng, Bác Vọng Tây, Lại Ân [PL 6.3.4]… Và các dạng chùa còn lại gồm:
Viên Giác, Trúc Lâm, Từ Ân, Vạn Phƣớc, Tra Am, Ba La Mật, Diệu Đức, Diệu Viên,
Thiên Hòa, Tịnh Giác…
(Dƣơng Văn An), Nam Triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Thần kinh
nhị thập cảnh (vua Thiệu Trị), Châu Bản Triều Nguyễn – Tư liệu Phật giáo qua các triều
đại nhà Nguyễn 143 năm từ Gia Long 1802 đến Bảo Đại 1945 (Lý Kim Hoa)… đƣợc
chúng tôi khai thác trong việc dựng nên bức tranh làm nền khi nghiên cứu biểu tƣợng.
Thứ ba, luận án của các tác giả nghiên cứu trong cùng vấn đề hoặc liên quan
đến vấn đề biểu tƣợng, Phật giáo, chùa ở Thừa Thiên Huế nhƣ Trần Lâm Biền,
Nguyễn Văn Hậu, Đinh Hồng Hải, Nguyễn Thị Thanh Mai, Tạ Quốc Khánh,
Nguyễn Duy Phƣơng… đƣợc chúng tôi tham khảo khi nghiên cứu.
Thứ tư, các bài viết trên các tạp chí khoa học, hội thảo, website chuyên ngành.
Từ các tạp chí Những người bạn Cố đô Huế (Bulletin des Amis du Vieux Hué –
BAVH), tạp chí Huế Xưa & Nay, tạp chí Nghiên cứu và Phát triển, tạp chí Liễu
Quán, tạp chí Văn hóa Phật giáo Việt Nam, tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo… hay các
hội thảo có chủ đề về mỹ nghệ thuật kiến trúc lịch sử văn hóa nói chung và văn hóa
Huế, văn hóa Phật giáo nói riêng, website chuyên ngành văn hóa, Phật học… đều
đƣợc chúng tôi chắt lọc, khảo cứu khi thực hiện luận án.
4.2. Tƣ liệu điền dã
Đây là những tƣ liệu bằng hình ảnh về các chùa đƣợc nghiên cứu nói chung và
mảng biểu tƣợng nói riêng. Bên cạnh đó là tƣ liệu âm thanh các cuộc phỏng vấn tăng, ni
các chùa trong quá trình điền dã cũng nhƣ các nhà nghiên cứu nhƣ Nguyễn Hữu Thông,
Nguyễn Đắc Xuân, Dƣơng Phƣớc Thu, Trần Đình Sơn... Ngoài ra, những tƣ liệu phim
về biểu tƣợng Phật giáo nói chung và biểu tƣợng tại các công trình di tích, chùa ở Việt
Nam và Thừa Thiên Huế cũng đƣợc chúng tôi đối sánh trong quá trình nghiên cứu.
5. Đóng góp của luận án
5.1. Về mặt khoa học
Với việc kế thừa những thành quả của các tác giả đi trƣớc trong cùng vấn đề
nghiên cứu và trên cơ sở các lý thuyết của dân tộc học/nhân học, văn hóa học, tôn giáo
học về biểu tƣợng, luận án Ngôn ngữ biểu tƣợng tại các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế
có những đóng góp về mặt lý luận và thực tiễn, cụ thể nhƣ sau:
tượng tại các ngôi chùa ở Thừa Thiên Huế hiện nay (24 trang)
6
Chƣơng 1
TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU, CƠ SỞ LÝ THUYẾT,
PHƢƠNG PHÁP VÀ KHÁI QUÁT VỀ ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU
1.1. Tổng quan tình hình nghiên cứu
1.1.1. Nhóm các công trình nghiên cứu về lý thuyết liên quan đến đề tài
Vấn đề lý thuyết về biểu tƣợng và liên quan đến biểu tƣợng nhận đƣợc sự quan
tâm của các tác giả ngoài nƣớc ở những khoảng thời gian khác nhau. Giai đoạn trƣớc
năm 1975, Emile Durkheim, Max Weber, Bronislaw Malinowski, Claude Lévi-Strauss,
Leslie A. White, Raymond Firth, Clifford Geertz, Roland Barthes hay Victor Turner…
thông qua các công trình nghiên cứu của mình đã luận giải về khái niệm biểu tƣợng,
ngôn ngữ biểu tƣợng, sự liên hệ giữa kí hiệu học và khoa học nghiên cứu biểu tƣợng
trên nền tảng cấu trúc luận hay qua nhân học biểu tƣợng và nhân học tôn giáo... Đáng
chú ý, nếu Leslie A. White đề cao vai trò của biểu tƣợng nhƣ một thành tố của văn hóa
trong công trình The Science of Culture: A study of man and civilization (1949) thì C.
Geertz, R. Firth và đặc biệt V. Turner lại nghiên cứu biểu tƣợng dƣới góc độ nhân học.
Trong khi V. Turner tỉ mỉ với kỹ thuật diễn giải các biểu tƣợng, chỉ ra cách thức đi sâu lý
giải biểu tƣợng từ biểu tƣợng “ám chỉ” cho đến biểu tƣợng “cô đọng” trong The Forest
of Symbols: Aspects of Ndembu (1967) thì Symbols public and private (1973) của R.
Firth vừa có cách nhìn tổng quan đến cụ thể khi nhắc đến đối tƣợng này. Ông cho rằng
“các nhà nhân học được trang bị để giải thích ý nghĩa của các biểu tượng trong các nền
văn hóa mà họ đang nghiên cứu, và để sử dụng những lý giải như những phương tiện
trung gian để hiểu xa hơn về các tiến trình trong đời sống xã hội” [160, tr.25].
Bên cạnh đó, hƣớng tiếp cận liên ngành khi nghiên cứu biểu tƣợng cũng đƣợc
của văn hóa nhƣ David Schneider hay tiếp tục diễn giải biểu tƣợng nhƣ C. Geertz thì
trong nhân học tôn giáo, biểu tƣợng đƣợc nghiên cứu khá chuyên biệt nhƣ là một thực
thể của tôn giáo. Nếu trƣớc đó, C.Geertz đã xem tôn giáo là tập hợp của hệ thống biểu
tƣợng thì E. Fromm cũng khẳng định “tôn giáo đã diễn đạt bằng loại ngôn ngữ khác
với loại ngôn ngữ mà chúng ta sử dụng trong cuộc sống đời thường, nghĩa là chúng
diễn đạt bằng ngôn ngữ biểu trưng” [44, tr.164]. Những nghiên cứu của E.E. EvansPritchard, Mary Douglas, Victor Tuner, Clifford Geertz, Robert N. Bellah, Talal Asad,
Charles F. Keyes… đều hƣớng đến việc lý giải biểu tƣợng, đặc biệt là biểu tƣợng
thiêng trong tôn giáo. Tuy nhiên, có thể thấy rằng các lý thuyết nghiên cứu trong
chuyên ngành này đa phần xuất phát từ tôn giáo phƣơng Tây nên trong một thời gian
dài việc vận dụng để giải quyết biểu tƣợng ở các tôn giáo không phải phƣơng Tây có
8
nhiều khó khăn. Đi liền với thực tế ấy, biểu tƣợng trong văn hóa Phật giáo hẳn nhiên
vẫn chƣa thể có một lý thuyết tƣơng đối để giải quyết một cách thuyết phục.
Ở Việt Nam, dẫu vẫn biết “Dân tộc học là Nhân học ở các nền khoa học của các
quốc gia nói tiếng Anglo-Xacxông và trái lại, Nhân học là Dân tộc học ở các quốc gia
còn lại” [75] nhƣng do sự ra đời muộn của ngành Nhân học nên các lý thuyết nghiên
cứu biểu tƣợng hay biểu tƣợng tôn giáo lại càng muộn hơn. Mãi đến đầu những năm
2000 đi cùng với các công trình biên dịch về lý thuyết của các tác giả nƣớc ngoài đƣợc
công bố thì vấn đề lý thuyết nghiên cứu biểu tƣợng mới xuất hiện trong các luận án của
các tác giả Việt Nam nhƣ luận án của Nguyễn Văn Hậu, Nguyễn Thị Ngân Hoa, Đinh
Hồng Hải... Đáng chú ý là luận án Ngôn ngữ biểu tượng trong đời sống văn hóa của
người Cơtu (2011) của Đinh Hồng Hải đã thể hiện tính mới (trong bối cảnh của Việt
Nam) về lý thuyết và phƣơng pháp luận nghiên cứu dƣới góc nhìn nhân học biểu tƣợng
và lý thuyết biến đổi văn hóa trong khung lý thuyết tiến hóa đa tuyến để tìm hiểu văn
hóa tộc ngƣời Cơtu.
Các tác phẩm dịch trong giai đoạn này cũng là những bổ sung quý giá về lý
thuyết cho việc nghiên cứu biểu tƣợng vốn còn khá mới mẻ ở Việt Nam. Đi đầu có thể
kể đến các công trình của tập thể nhƣ Trƣờng viết văn Nguyễn Du (Hà Nội), Hội khoa