Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của tòa án, trọng tài nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế của việt nam - Pdf 48

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

DƯƠNG THỊ PHƯƠNG DUNG

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN, TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC

HÀ NỘI - NĂM 2016


BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

BỘ TƯ PHÁP

TRƯỜNG ĐẠI HỌC LUẬT HÀ NỘI

DƯƠNG THỊ PHƯƠNG DUNG

CÔNG NHẬN VÀ CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH
CỦA TÒA ÁN, TRỌNG TÀI NƯỚC NGOÀI TRONG
QUÁ TRÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM

LUẬN VĂN THẠC SĨ LUẬT HỌC


Tác giả

Dương Thị Phương Dung


LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng đây là công trình nghiên cứu của tôi, có sự hỗ trợ từ
Giáo viên hướng dẫn PGS.TS. Nông Quốc Bình. Các nội dung nghiên cứu và kết
quả trong đề tài này là trung thực. Những số liệu phục vụ cho việc phân tích, nhận
xét, đánh giá được chính tác giả thu thập từ các nguồn khác nhau có ghi rõ trong
phần tài liệu tham khảo. Ngoài ra, đề tài còn sử dụng một số nhận xét, đánh giá
cũng như số liệu của các tác giả, cơ quan tổ chức khác và cũng thể hiện trong phần
tài liệu tham khảo. Nếu phát hiện có bất cứ sự gian lận nào, tôi xin hoàn toàn chịu
trách nhiệm trước hội đồng cũng như kết quả luận văn của mình.
Hà Nội, ngày 04 tháng 8 năm 2016

Tác giả

Dương Thị Phương Dung


MỤC LỤC

MỞ ĐẦU ................................................................................................................ 1
1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu..................................................................... 1
2. Tình hình nghiên cứu đề tài ................................................................................. 2
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu ...................................................... 3
4. Mục tiêu, nhiệm vụ và câu hỏi nghiên cứu của luận văn ...................................... 4
5. Cơ sở phương pháp luận và các phương pháp nghiên cứu của luận văn ............... 5

2.2.1. Phạm vi công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài
nước ngoài ............................................................................................................ 39
2.2.2. Quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án,
Trọng tài nước ngoài ............................................................................................. 41
2.2.3. Thẩm quyền của Tòa án Việt Nam trong việc công nhận và cho thi hành bản
án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài................................................... 43
2.2.4. Vấn đề không công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án,
Trọng tài nước ngoài ............................................................................................. 45
2.3. Thực trạng thi hành pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định
của Tòa án, Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam ..................................................... 48
2.3.1. Thực tiễn giải quyết yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án,
quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài ........................................................ 48
2.3.2. Một số vướng mắc phát sinh từ thực tiễn giải quyết yêu cầu công nhận và cho
thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài ......... 55
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT VÀ
NÂNG CAO HIỆU QUẢ THI HÀNH PHÁP LUẬT VỀ CÔNG NHẬN VÀ
CHO THI HÀNH BẢN ÁN, QUYẾT ĐỊNH CỦA TÒA ÁN, TRỌNG TÀI
NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM ........................................................................ 59
3.1. Cơ sở hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của
Tòa án, Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam ............................................................ 59
3.1.1. Cơ sở về mặt thực tiễn ................................................................................. 59
3.1.2. Cơ sở về mặt pháp lý ................................................................................... 61


3.2. Phương hướng hoàn thiện pháp luật và nâng cao hiệu quả thi hành về công
nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài tại Việt
Nam

................................................................................................................. 63



MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Kể từ Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI (1986) đến nay, thực hiện đường lối
đổi mới, đất nước ta đã thoát ra khỏi khủng hoảng, đạt được nhiều thành tựu rất
quan trọng về kinh tế, xã hội, văn hóa, an ninh, quốc phòng và đối ngoại. Nhà nước
thực hiện quản lý nền kinh tế thông qua pháp luật và điều tiết thông qua các chính
sách và công cụ kinh tế vĩ mô. Hoạt động lập pháp đã đạt được nhiều thành tựu
quan trọng để xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho quá trình hội
nhập quốc tế, trong đó đặc biệt là pháp luật điều chỉnh quan hệ dân sự có yếu tố
nước ngoài ngày càng được quan tâm. Nghị quyết số 49-NQ/TW ngày 02/6/2005
của Bộ Chính trị về chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã xác định: nhanh
chóng hoàn thiện hệ thống pháp luật phục vụ cho nhiệm vụ tăng cường hợp tác
quốc tế là một trong những nhiệm vụ trọng tâm trong thời gian tới. Đáp ứng yêu cầu
của thực tiễn, trong thời gian vừa qua, nhà nước ta đã tập trung xây dựng và hoàn
thiện các văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài và
bước đầu đã đạt được những kết quả quan trọng.
Trong quá trình hội nhập quốc tế, khi các tranh chấp dân sự có yếu tố nước
ngoài xảy ra càng nhiều và phức tạp thì yêu cầu công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định của Tòa án, Trọng tài nước này trên lãnh thổ một nước khác cũng tăng
lên. Đối với Việt Nam, thực tiễn cho thấy, quá trình hội nhập quốc tế càng diễn ra
mạnh mẽ thì số lượng các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài có yêu
cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam ngày càng gia tăng và tính chất càng
phức tạp. Để giải quyết các yêu cầu của tình hình thực tế, trong những năm qua Nhà
nước ta đã ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh vấn đề công
nhận và cho thi hành các bản án, quyết định dân sự của Tòa án, Trọng tài nước
ngoài tại Việt Nam và một trong những văn bản pháp luật quan trọng là Bộ Luật Tố
tụng Dân sự năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011 (tập trung tại Phần thứ sáu “Thủ
tục công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án

Nghiên cứu pháp luật về “Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của
Tòa án, Trọng tài nước ngoài trong quá trình hội nhập quốc tế của Việt Nam” có
một số bài nghiên cứu của các học giả như “Nguyên tắc công nhận và cho thi hành


3

tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài” của tác giả
Nông Quốc Bình, Đại học Luật Hà Nội, Tạp chí luật học số đặc san về Bộ Luật Tố
tụng Hình sự năm 2004; “Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại
Việt Nam bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài” của tác giả Bành Quốc
Tuấn, Khoa Luật – Đại học Quốc gia Hà Nội; “Công nhận và cho thi hành quyết
định của Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam – Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”
của tác giả Phạm Thụy Anh, Khóa luận tốt nghiệp, Đại học Luật Hà Nội, 2011…
Dù xem xét trên phương diện, góc độ nào, tách riêng chế định về Trọng tài nước
ngoài và Tòa án nước ngoài hay không thì các ý kiến, đánh giá đều đi đến thống
nhất một nhận thức chung là chế định công nhận và thi hành bán án, quyết định của
Tòa án, Trọng tài nước ngoài có vai trò đặc biệt quan trọng trong đời sống pháp lý.
Nhận thức được điều đó nên hiện nay pháp luật Việt Nam có bổ sung, sửa đổi nhiều
quy định mới về chế định này, đặc biệt là tại Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2004,
sửa đổi, bổ sung năm 2011 và Bộ Luật Tố tụng Dân sự năm 2015 sẽ có hiệu lực
ngày 01/07/2016. Tuy nhiên hiện này chưa có một nghiên cứu nào liên kết một cách
logic, chặt chẽ và mang tính hệ thống giữa cơ sở lý luận và thực tiễn áp dụng mang
tính xuyên suốt cả quá trình hình thành chế định công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài tại Việt Nam đến nay.
3. Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu
 Đối tượng nghiên cứu:
Luận văn tập trung nghiên cứu những vấn đề pháp lý chung về công nhận và
cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài;
nghiên cứu thực trạng quy định pháp luật và thực trạng thi hành pháp luật về công

tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài;
- Nghiên cứu nội dung các điều ước quốc tế tiêu biểu, pháp luật một số quốc
gia điển hình về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của nước ngoài làm
cơ sở cho việc đánh giá pháp luật Việt Nam;
- Nghiên cứu tình hình thực tiễn công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản
án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài trong những năm gần đây để làm
cơ sở cho việc đề ra các giải pháp hoàn thiện pháp luật phù hợp với thực tiễn.
 Câu hỏi nghiên cứu: Tác giả đưa ra câu hỏi nghiên cứu để góp phần làm
chi tiết hơn, định hướng các bước cần tìm hiểu để đạt được mục tiêu nghiên cứu.
Câu hỏi nghiên cứu đồng thời cũng được trả lời qua kết quả nghiên cứu. Với đề tài
này, nhóm câu hỏi nghiên cứu bao gồm:


5

-

Hiểu như thế nào về bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài?

-

Quy định pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của

Tòa án, Trọng tài nước ngoài? Vai trò của việc ghi nhận này đối với quan hệ pháp
luật dân sự này nói riêng, với khoa học tư pháp quốc tế nói chung?
-

Thực trạng thi hành pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết

định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài của Việt Nam hiện nay? Vướng mắc chủ yếu

- Phương pháp phân tích và phương pháp hệ thống hóa được sử dụng để làm rõ
các quy định của văn bản pháp luật Việt Nam hiện hành về công nhận và cho thi
hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài cũng như
các Hiệp định TTTP Việt Nam đã tham gia.
- Phương pháp so sánh được sử dụng để đối chiếu những quy định của các điều
ước quốc tế, của pháp luật các nước với quy định của pháp luật Việt Nam để làm cơ
sở đánh giá pháp luật Việt Nam.
- Phương pháp tổng hợp được sử dụng để rút ra những kết luận đối với từng
vấn đề mà luận văn đã phân tích làm cơ sở cho việc đưa ra các giải pháp hoàn thiện
pháp luật.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của luận văn
Xuất phát từ mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu cũng như giới hạn phạm vi
nghiên cứu như trên, trên cơ sở các kết quả nghiên cứu đã công bố, trong luận văn
tác giả cố gắng tiếp tục nghiên cứu, giải quyết một cách cơ bản, đầy đủ những cơ sở
khoa học của việc hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam
bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài trong điều kiện hội nhập quốc
tế và có những đóng góp mới về khoa học như sau:
- Thứ nhất, tiếp tục nghiên cứu và phân tích để góp phần hoàn thiện các cơ sở
khoa học của việc hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành bản án, quyết
định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài trong bối cảnh yêu cầu điều chỉnh các quan
hệ pháp luật dân sự có yếu tố nước ngoài phục vụ cho việc phát triển kinh tế - xã
hội của Việt Nam ngày càng cấp thiết.
- Thứ hai, nghiên cứu và phân tích để làm rõ nội dung của các điều ước quốc
tế tiêu biểu, pháp luật của một số quốc gia điển hình về vấn đề công nhận và cho thi
hành bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài.
- Thứ ba, phân tích và đánh giá các ưu điểm và hạn chế của pháp luật hiện
hành về công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định của Tòa án,
Trọng tài nước ngoài trong mối liên hệ so sánh với các quy định của các điều ước
quốc tế có liên quan, pháp luật của một số quốc gia trên thế giới.


1.1.1. Khái niệm bản án, quyết định của Tòa án nước ngoài
Việc công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Toà án nước ngoài và
quyết định của Trọng tài nước ngoài có một ý nghĩa quan trọng, đảm bảo khả năng
thi hành các bản án, quyết định đã được cơ quan tài phán nước ngoài tuyên. Từ đó,
đảm bảo quyền lợi hợp pháp của người được thi hành án cũng như tránh tình trạng
cùng một vụ việc nhưng lại bị xét xử hai lần. Cùng với xu thế hội nhập, giao lưu
kinh tế văn hoá xã hội giữa các quốc gia, số lượng các bản án, quyết định được
tuyên ở một nước nhưng cần được thi hành ở một nước khác ngày càng tăng, dẫn
đến nhu cầu hợp tác giữa các nước để thoả thuận công nhận và cho thi hành của
nhau các bản án, quyết định dân sự, thương mại của Toà án nước ngoài, quyết định
của Trọng tài nước ngoài.
Với ý nghĩa là một cơ quan tài phán của quốc gia, Tòa án là cơ quan tài phán
điển hình hoạt động nhân danh quyền lực nhà nước trên cơ sở pháp luật của một
quốc gia cụ thể. Vị trí, chức năng, nhiệm vụ của Tòa án đều được ghi nhận trong
những văn bản pháp lý có giá trị cao nhất như Hiến pháp, các văn bản pháp lý
chuyên ngành như Bộ Luật Dân sự, Bộ Luật Hình sự, Luật Tổ chức Tòa án nhân
dân...Chức năng chính của Tòa án là nhân danh nhà nước để giải quyết các vụ án
hoặc yêu cầu phát sinh trong các quan hệ xã hội được pháp luật quy định trong các
lĩnh vực hình sự, hành chính, dân sự,... Tuy nhiên, khi nghiên cứu hệ thống cơ quan
tài phán của nước ngoài, tác giả nhận thấy ngoài Tòa án, tùy theo quy định của pháp
luật mỗi quốc gia, luật định cho phép một cơ quan không phải là Tòa án cũng có
chức năng xét xử như Ủy ban phúc thẩm của Thượng nghị viện (House of Lord),
Ủy ban tư pháp của Hội đồng cơ mật của Liên hiệp Vương quốc Anh và Bắc


9

Ailen1...Trong công trình nghiên cứu của mình, Ts. Bành Quốc Tuấn cũng rút ra
được những ví dụ tương tự: “Trong các Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với các
nước (Hiệp định TTTP giữa Việt Nam với Liên bang Nga năm 1999, Hiệp định


10

đình, kinh doanh thương mại, lao động quyết định về tài sản trong bản án, quyết
định hình sự hành chính của Tòa án nước ngoài và bản án quyết định khác của Tòa
án nước ngoài mà theo pháp luật Việt Nam được coi là bản án, quyết định dân sự.
Bản án quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài là bản án, quyết định về dân
sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại, lao động quyết định về tài sản
trong bản án, quyết định hình sự, hành chính của Tòa án nước ngoài và bản án quyết
định khác của Tòa án nước ngoài mà theo pháp luật Việt Nam được coi là bản án,
quyết định dân sự. Dù được ghi nhận dưới hình thức nào, pháp luật dân sự mang
đặc thù chung là pháp luật tôn trọng sự tự định đoạt và thỏa thuận của các bên. Do
vậy, các bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài về cơ bản cũng là các bản
án, quyết định về lĩnh vực quan hệ mà pháp luật điều chỉnh bằng các biện pháp dựa
trên sự thỏa thuận, định đoạt của đương sự như quan niệm pháp lý của quốc gia sở
tại. Với đặc thù về lịch sự, văn hóa, truyền thống lập pháp, phong tục tập quán mà
mỗi quốc gia lại luật định phạm vi quan hệ dân sự khác nhau. Ví dụ đối với hành vi
mua bán vũ khí quân dụng ở Hoa Kỳ là quan hệ dân sự dựa trên quy định về việc
công dân có quyền sử dụng vũ khí, nhưng đối với pháp luật Việt Nam quan hệ dân
sự này lại trở thành quan hệ pháp luật hình sự, Nhà nước nghiêm cấm công dân sử
dụng các loại vũ khí quân dụng, nhóm hành vi sử dụng vũ khí được liệt vào là các
hành vi tội phạm. Việc chuyển hóa mối quan hệ pháp luật khác nhau giữa các quốc
gia là hoàn toàn có thể xảy ra. Tuy nhiên, cần thống nhất với nhau rằng quyết định,
bản án của Tòa án cần công nhận và thi hành phải tuân thủ theo quan niệm pháp
luật của quốc gia nơi sẽ công nhận quyết định, bản án đó.
Thêm một vấn đề cần làm rõ ở đây đó là khái niệm bản án và quyết định của
Tòa án. Theo phân tích ở trên, phạm vi nghiên cứu đối với quyết định và bản án
nước ngoài là những quyết định, bản án dân sự. Trong khoa học pháp lý có sự phân
biệt rõ ràng giữa hai loại kết quả giải quyết vụ việc dân sự này. Bản án dân sự có
thể được hiểu là trường hợp Tòa án giải quyết tranh chấp có sự tham gia của nguyên

pháp nhân. Công ước còn được áp dụng cho những quyết định Trọng tài không
được coi là quyết định trong nước tại Quốc gia nơi việc công nhận và thi hành
chúng được yêu cầu”.

2

Bành Quốc Tuấn (2013), Hoàn thiện pháp luật về công nhận và cho thi hành tại Việt nam bản án dân sự
nước ngoài, Luận án Tiến sĩ Luật học, Khoa Luật Đại học Quốc gia Hà Nội, tr. 32.


12

Dù dưới cách thể hiện nào, nhiều quốc gia trên thế giới đã ghi nhận sự tồn tại
và thi hành những quy định liên quan đến việc ấn định khái niệm: quyết định của
Trọng tài.
Bộ luật tố tụng dân sự của Nga tuy không đưa ra một khái niệm chung về
quyết định của Trọng tài nước ngoài, nhưng lại giải thích cụm từ “quyết định của
Trọng tài nước ngoài” (foreign arbitral awards) bằng cụm từ “quyết định được
tuyên bởi Trọng tài nước ngoài” (judgments made by foreign arbitration). Điều này
có thể được thấy tại Điều 416, 417 của Bộ luật tố tụng dân sự Nga.
Trong khi đó, pháp luật Pháp cũng không nêu ra một khái niệm chung về quyết
định của Trọng tài nước ngoài, nhưng tại Bộ luật Tố tụng Dân sự Pháp, Mục 4,
Phần VI, Chương I về Công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước
ngoài, quyết định của Trọng tài nước ngoài được đề cập đến bằng cụm từ “quyết
định Trọng tài được tuyên tại nước ngoài” (arbitral awards given abroad). Như vậy,
có thể thấy, khái niệm về “quyết định của Trọng tài nước ngoài” vẫn còn được hiểu
theo nhiều cách khác nhau trên thế giới.
Đối với Công ước NewYork, quyết định của Trọng tài nước ngoài là những
quyết định Trọng tài được tuyên bên ngoài lãnh thổ của quốc gia nơi việc công nhận
và cho thi hành quyết định đó được yêu cầu, mà không phân biệt quốc tịch của

về toàn bộ vụ kiện hoặc về một phần vụ kiện), thường là phán quyết cuối cùng của
Trọng tài được đưa ra trọng quá trình giải quyết tranh chấp. Trong một số trường hợp,
quyết định của Trọng tài cũng có thể là quyết định về việc áp dụng các biện pháp
khẩn cấp tạm thời để bảo vệ chứng cứ hoặc để đảm bảo thi hành án4.
Để xác định một quyết định Trọng tài nước ngoài, có hai yếu tố có thể được sử
dụng, đó là: Yếu tố lãnh thổ và yếu tố quốc tịch của Trọng tài.
 Theo yếu tố lãnh thổ, một quyết định Trọng tài sẽ được coi là quyết định
Trọng tài nước ngoài nếu nó được tuyên bên ngoài lãnh thổ của quốc gia mà vấn đề
công nhận và cho thi hành quyết định đó được đặt ra, bất kể Trọng tài đó là Trọng
tài của quốc gia nào;
 Theo yếu tố quốc tịch của Trọng tài, một quyết định Trọng tài sẽ được coi
là quyết định Trọng tài nước ngoài nếu nó được tuyên bởi Trọng tài nước ngoài, bất
kể quyết định đó được tuyên tại đâu. Việc xác định quốc tịch của Trọng tài tùy
thuộc và pháp luật của từng quốc gia.
So với với Công ước NewYork, pháp luật Việt Nam cũng quy định về khái
niệm “quyết định của Trọng tài nước ngoài” tại khoản 2 Điều 342 BLTTDS 2004

4

Trung tâm Từ điển học Viện Ngôn ngữ, Từ điển Tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, 2000.


14

như sau: “Quyết định của Trọng tài nước ngoài là quyết định được tuyên ở ngoài
lãnh thổ Việt Nam hoặc trong lãnh thổ Việt Nam của Trọng tài nước ngoài do các
bên thoả thuận lựa chọn để giải quyết tranh chấp phát sinh từ các quan hệ pháp
luật kinh doanh, thương mại, lao động”.
Tuy nhiên, xuất phát từ lý do sử dụng thuật ngữ “quyết định của Trọng tài nước
ngoài” có thể gây nhầm lẫn giữa quyết định toàn bộ vụ việc (phán quyết) và quyết

1.1.3. Khái niệm công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án,
Trọng tài nước ngoài
Khái niệm về công nhận và cho thi hành bản án, quyết định của Tòa án nước
ngoài đã hình thành từ lâu trong tư pháp quốc tế. Theo định nghĩa trong từ điển Luật
học thì “Công nhận và cho thi hành bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước
ngoài là việc thừa nhận và cho phép thi hành bản án, quyết định về dân sự, quyết
định về tài sản trong bản án, quyết định dân sự về hình sự, hành chính của Tòa án
nước ngoài theo những nguyên tắc và trình tự pháp lý nhất định”, hoặc “Công nhận
bản án dân sự của Tòa án nước ngoài có nghĩa là cho phép được coi bản án dân sự
đó như là sự khẳng định các quyền và nghĩa vụ dân sự theo đúng bản án dân sự
trong nước”. Một số quan điểm khác lại cho rằng công nhận và cho thi hành bản án,
quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài “Đó là một thủ tục tố tụng đặc biệt do cơ
quan có thẩm quyền của nước có bên phải thi hành án tiến hành nhằm xem xét để
công nhận tính hiệu lực của bản án, quyết định dân sự của Tòa án nước ngoài trên
phạm vi lãnh thổ nước mình.”6
Hay định nghĩa về khái niệm công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng
tài nước ngoài: “Công nhận và cho thi hành quyết định của Trọng tài nước ngoài là
hành vi của cơ quan nhà nước có thẩm quyền của một quốc gia thừa nhận giá trị
hiệu lực pháp lý của một quyết định trọng tài của nước ngoài và làm cho quyết định
đó có hiệu lực cưỡng chế thi hành trên thực tế trên lãnh thổ quốc gia đó”7.
Về nguyên tắc, Toà án hoặc cơ quan có thẩm quyền của một quốc gia chỉ công
nhận và cho thi hành các quyết định của các Toà án quốc gia đó. Điều này xuất phát
từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia trong lĩnh vực luật quốc tế. Tuy nhiên, cũng xuất
phát từ nguyên tắc chủ quyền quốc gia, các quốc gia có quyền công nhận và thực thi
các quyết định của Toà án và Trọng tài nước ngoài tại lãnh thổ của mình trong các
điều kiện xác định. Toà án và Trọng tài của nước ngoài cũng như của Toà án và
6

Luật Dương Gia (2016), “Công nhận và cho thi hành quyết định, bản án dân sự nước ngoài”, Nguồn:
Ngày truy cập 15/06/2016.

nhận tính hiệu lực của bản án, quyết định của Tòa án, Trọng tài nước ngoài trên
phạm vi lãnh thổ nước mình. Sau khi bản án, quyết định của nước ngoài đó đã được
xem xét và công nhận tính hiệu lực, nó sẽ được bảo đảm cưỡng chế thi hành trên
lãnh thổ của nước đã công nhận. Thủ tục này nhằm đảm bảo giải quyết xung đột về
quyền tài phán và đảm bảo tôn trọng quyền tài phán của mỗi quốc gia.
8

Viện Khoa học Pháp lý Bộ Tư pháp (2006), Từ điển luật học, Nxb. Tư pháp, Hà Nội.


17

Ngay trong nội hàm khái niệm “công nhận” và “cho thi hành” bản án, quyết
định của Tòa án cũng có sự khác nhau. Lý do xuất phát từ chính mục đích của việc
công nhận và cho thi hành. Đối với công nhận, mục đích ở đây thể hiện sự công
nhận được sử dụng nhằm ngăn ngừa trường hợp nguyên đơn hoặc bị đơn tiếp tục
khởi kiện về vụ việc đã được Tòa án hay Trọng tài giải quyết. Trong khi đó, việc thi
thành lại đóng vai trò như một công cụ hữu hiệu để buộc bên có trách nhiệm phải
thi hành, đảm bảo quyền và lợi ích cho bên bị xâm phạm. Do đó, nếu tách việc
“công nhận và “thi hành” ra thành hai chế định khác nhau thì vẫn có ý nghĩa thực
tiễn. Công nhận quyết định của Trọng tài nước ngoài có thể được yêu cầu độc lập
mà không có cho thi hành. Công ước Geneva 1927 đã phân biệt giữa công nhận và
cho thi hành tại Điều 1 với quy định “để đạt được sự công nhận hoặc cho thi
hành…). Cũng có trường hợp trong cùng một văn bản, có phần đề cập đến công
nhận và cho thi hành như một thuật ngữ, trong khi phần khác lại đề cập đến công
nhận và cho thi hành như hai thuật ngữ độc lập. Ví dụ, Công ước NewYork cũng
quy định về công nhận và cho thi hành tại Điều IV và V với tư cách là một thuật
ngữ, trong khi đó lại quy định tại Điều III về công nhận và cho thi hành với tư cách
là hai thuật ngữ độc lập9. Sở dĩ như vậy là vì có sự khác nhau về ý nghĩa và mục
đích của hai hành vi này. Bởi khái niệm “công nhận” đơn giản được hiểu là công


Nhờ tải bản gốc

Tài liệu, ebook tham khảo khác

Music ♫

Copyright: Tài liệu đại học © DMCA.com Protection Status